Thứ Năm, 2 tháng 2, 2023

How Emotions Are Made - chương 11

 

Chương 11

Cảm xúc và Luật pháp

Mỗi một xã hội đều có các quy luật quy định loại cảm xúc nào có thể được chấp nhận, khi nào chúng được chấp nhận, và thể hiện chúng bằng cách nào. Trong văn hóa Mỹ, cảm thấy đau buồn khi một ai đó qua đời là phù hợp, và bật cười khúc khích khi chiếc hòm được đưa xuống đất thì không phù hợp. Một bữa tiệc bất ngờ là thời điểm để cảm thấy bất ngờ và sau đó là cảm thấy vui vẻ, vậy nếu bạn biết trước về bữa tiệc, thì việc giả vờ bất ngờ khi bạn đến đó cũng phù hợp. Các thành viên của bộ lạc Ilongot ở Philippines có thể cảm thấy liget khi hành động theo nhóm để chém đầu một kẻ thù, khi ăn mừng chiến thắng.

Nếu bạn vi phạm quy luật về các thực tại xã hội trong nền văn hóa của bạn, thì bạn có thể sẽ bị trừng phạt. Cười to ở một đám tang có thể khiến bạn bị xa lánh. Không tỏ ra ngạc nhiên ở một bữa tiệc bất ngờ có thể khiến khách khứa thất vọng. Và trong hầu hết các nền văn hóa, việc chém đầu ai đó thường không được tưởng thưởng.

Các quy luật tối cao cho cảm xúc ở bất kỳ một xã hội nào đều được lập ra bởi hệ thống luật pháp của xã hội đó. Điều này nghe có vẻ là một tuyên bố lạ lùng, nhưng hãy xem xét thử điều này. Ở Mỹ, nếu kế toán của bạn ăn cắp tiền tiết kiệm của bạn, hay ngân hàng bán cho bạn một món nợ xấu, thì giết họ là việc không thể chấp nhận được; nhưng nếu bạn giết vợ/chồng bạn trong cơn thịnh nộ khi phát hiện ra người đó ngoại tình, thì luật pháp có thể khoan dung cho bạn một chút, đặc biệt nếu bạn là đàn ông. Việc khiến cho hàng xóm của bạn sợ hãi vì bạn có thể gây tổn hại cho anh ta về mặt thể chất – một việc được xem là hành hung, nhưng ở một vài bang, bạn hoàn toàn có thể “bảo vệ quan điểm của mình” (stand your ground) và làm hại ai đó trước, thậm chí là giết người đó. Bạn hoàn toàn được chấp nhận khi thể hiện tình yêu lãng mạn của mình, nhưng (trong một vài thời điểm trong lịch sử nước Mỹ) trừ phi bạn thể hiện tình yêu lãng mạn với một người cùng giới tính hoặc với một người khác màu da. Vi phạm những luật lệ này, bạn có thể mất tiền, mất tự do, hoặc mất cả cuộc đời.

Trong hàng thế kỷ, luật pháp ở Mỹ được định hình bởi quan điểm cổ điển về cảm xúc và chìm trong quan điểm chủ nghĩa tinh chất về bản chất con người. Ví dụ như, các thẩm phán cố gắng đặt cảm xúc qua một bên để quyết định một cách hoàn toàn lý trí, dựa trên giả định rằng tình cảm và lý trí là hai thực thể riêng biệt. Các bị cáo trong các vụ án bạo lực biện hộ rằng họ bị lấn át bởi cơn giận dữ, giả định rằng cơn giận dữ là một cái vạc đơn lẻ - khi nó không bị kềm chế bởi các suy nghĩ rõ ràng – nó sẽ sôi ùng ục và bùng lên sự giận dữ. Bồi thẩm đoàn thường tìm kiếm sự hối hận trong các bị cáo, như thể sự hối hận là một biểu cảm đơn lẻ có thể được phát hiện trên mặt và cơ thể. Các nhân chứng có chuyên môn làm chứng rằng hành vi xấu của bị cáo là xuất phát từ một vùng não sai lầm gây ra, một ví dụ về vùng não học (blob-ology) vô căn cứ.

Luật lệ là một bản hợp đồng xã hội tồn tại trong một thế giới xã hội. Liệu bạn có phải chịu trách nhiệm cho các hành động của chính mình không? Nói theo quan điểm chủ nghĩa tinh chất về bản chất con người là, có, miễn là bạn không bị trưng dụng bởi cảm xúc của chính bạn. Những người khác có phải chịu trách nhiệm cho hành động của bạn không? Không, vì bạn là một cá nhân có tự do ý chí. Làm sao mà bạn có thể xác nhận được bị cáo đang cảm thấy như thế nào? Bằng cách phát hiện ra cảm xúc của người đó thông qua các biểu cảm. Làm sao để tạo ra một quyết định công bằng và đạo đức? Bằng cách gạt cảm xúc qua một bên. Bản chất của việc gây hại là gì? Đó là gây hại về mặt thể chất, nghĩa là, làm tổn thương các mô trên cơ thể, và gây hại về mặt thể chất thì tồi tệ hơn việc gây gại về mặt cảm xúc – thứ vốn bị tách rời khỏi cơ thể và ít có thể nhìn thấy hơn. Tất cả những giả định này – vốn được sinh ra từ chủ nghĩa tinh chất – trở thành nguyên liệu chính để tạo ra luật pháp ở những mức độ sâu sắc nhất, dẫn dắt người ta tạo ra các phán quyết “có tội” hay “vô tội”, và quyết định các hình phạt trên quy mô lớn, thậm chí ngay cả khi khoa học thần kinh đã lặng lẽ bóc trần chúng – chúng chỉ là các huyền thoại không có thật.

Nói một cách đơn giản, một số người đang bị trừng phạt một cách không đáng, và một số khác thì thoát khỏi sự trừng phạt mà họ đáng phải nhận, tất cả đều dựa vào một lý thuyết tâm trí đã lỗi thời, thứ lý thuyết tâm trí này đã bén rễ sâu trong niềm tin hơn là trong khoa học. Trong chương này, chúng ta sẽ cùng khám phá một số huyền thoại phổ biến về cảm xúc trong hệ thống luật pháp và thử hỏi xem liệu một lý thuyết về tâm trí phong phú hơn về mặt sinh học, đặc biệt là loại lý thuyết được xây dựng trên nền tảng khoa học thần kinh thực tế, có thể cải thiện việc theo đuổi công lý của xã hội hay không.

Mọi thiếu niên mới lớn đều khám phá ra một điều rằng, tự do thật tuyệt vời. Bạn có thể quyết định ra ngoài chơi xuyên đêm với bạn bè. Bạn có thể quyết định không làm bài tập về nhà. Bạn có thể chọn ăn bánh kem vào bữa tối. Nhưng chúng ta đều sẽ học được rằng, các lựa chọn đều đi kèm với hậu quả. Luật được thành lập dựa trên ý tưởng đơn giản rằng bạn có thể chọn lựa xem bạn nên đối xử tốt hay xấu với người khác. Lựa chọn đi kèm với trách nhiệm. Nếu bạn đối xử tồi tệ với người khác, và kết quả là họ phải chịu đựng một số tổn hại nào đó, thì bạn sẽ bị trừng phạt, đặc biệt là khi bạn cố ý tạo ra sự tổn hại cho cho người khác. Đó là cách mà xã hội thể hiện sự tôn trọng đối với bạn với tư cách là một cá nhân. Một số học giả luật pháp nói rằng, giá trị con người của bạn nằm trong việc bạn lựa chọn các hành động của mình và chịu trách nhiệm cho những hành động đó.

Nếu có thứ gì đó cản trở bạn lựa chọn hành động một cách tự do, luật pháp cho rằng bạn sẽ ít phải chịu trách nhiệm hơn cho tổn hại mà bạn gây ra. Lấy ví dụ trường hợp của Gordon Patterson, người đã bắt gặp vợ Roberta của mình “trong tình trạng bán khỏa thân” với bạn trai của cô, John Northrup. Patterson đã bắn Northrup hai phát vào đầu và giết chết anh ta. Patterson thú nhận về vụ nổ súng nhưng lập luận rằng anh ta ít đáng trách hơn do anh ta bị “rối loạn cảm xúc cực độ” vào thời điểm gây án. Theo luật pháp Hoa Kỳ, cơn thịnh nộ đột ngột của Patterson khiến anh ta không kiểm soát được hoàn toàn hành động của mình và do đó anh ta bị kết tội giết người cấp độ hai — chứ không phải giết người cấp độ một – thứ tạo ra tiền án và hình phạt khắc nghiệt hơn. Nói cách khác, giết người do lý trí được coi là tồi tệ hơn giết do tình cảm, tất cả các trường hợp khác đều bình đẳng.

Hệ thống luật pháp Mỹ giả định rằng cảm xúc là một phần của thứ gọi là bản năng động vật của chúng ta, và nó khiến chúng ta hành xư ngu ngốc, thậm chí là hành xử một cách bạo lực, trừ phi chúng ta kiểm soát các cảm xúc với các tư duy lý trí. Những thế kỷ trước, những nhà lập pháp đã quyết định rằng con người, khi bị khiêu khích, sẽ giết người vì họ vẫn chưa “hạ nhiệt”, và cơn giận dữ bùng phát không thể ngăn cản. Sự tức giận sôi sục, bùng nổ và để lại sự tàn phá trên đường đi của nó. Sự tức giận làm cho người ta không thể hành động theo luật pháp và do đó, trách nhiệm của họ về hành động của bản thân phần nào đó được giảm nhẹ. Lập luận này được xem như phòng vệ chính đáng do sức nóng của cảm xúc mãnh liệt (heat of passion).

Phòng vệ do sức nóng của cảm xúc mãnh liệt dựa trên các giả định quen thuộc từ quan điểm cảm xúc cổ điển. Giả định đầu tiên là có một loại giận dữ phổ quát, có dấu vân tay cụ thể, biện minh cho hành động phòng vệ trong tội danh giết người. Người ta cho là nó bao gồm khuôn mặt đỏ bừng, hàm nghiến lại, lỗ mũi loe ra và tăng nhịp tim, tăng huyết áp và đổ mồ hôi. Như bạn đã biết, dấu vân tay bị cáo buộc này chỉ là một khuôn mẫu văn hóa phương Tây không có dữ liệu hỗ trợ. Trên trung bình, nhịp tim của người ta thực sự tăng lên khi người đó giận dữ, nhưng cũng có một sự đa dạng khổng lồ, và niềm vui, nỗi buồn hay sự sợ hãi cũng có khuôn mẫu tăng nhịp tim này. Tuy nhiên, niềm vui và nỗi buồn thì không giết người; và nếu chúng có giết người, thì luật pháp không xem những cảm xúc này là một yếu tố giảm nhẹ tội.

Hơn nữa, hầu hết các phân mục tức giận đều không dẫn đến hành động giết người. Tôi có thể khẳng định một cách khá dứt khoát rằng, trong hai mươi năm khi tôi tạo ra sự tức giận trong phòng thí nghiệm của mình, chúng tôi chưa bao giờ thấy một đối tượng thí nghiệm nào có ý định giết bất kỳ ai. Chúng ta thấy rất nhiều hành động: chửi thề, đe dọa, đập bàn, rời khỏi phòng, khóc lóc, cố gắng giải quyết bất cứ mâu thuẫn nào mà họ đang gặp phải hoặc thậm chí mỉm cười trong khi nguyền rủa kẻ áp bức mình. Vì vậy, tốt hơn hết là chúng ta nên đặt dấu hỏi nghi ngờ cho ý tưởng rằng sự tức giận là một nguyên nhân dẫn đến hành vi giết người không kiểm soát được.

Khi tôi giải thích với những người trong nghề luật rằng sự tức giận không có dấu vân tay sinh học, họ thường cho rằng tôi đang khẳng định cảm xúc không tồn tại. Đó hoàn toàn không phải là điều tôi muốn nói. Tất nhiên là sự tức giận có tồn tại. Chỉ là, bạn không thể chỉ vào một vị trí trong não, khuôn mặt hoặc EKG của bị cáo và nói, "Nhìn này, sự tức giận đang ở ngay đây", chưa kể đến việc đưa ra kết luận pháp lý.

Giả định thứ hai của hệ thống luật pháp đứng sau hành vi phòng vệ do sức nóng của cảm xúc mãnh liệt chính là “sự kiểm soát về mặt lý trí” trong não đồng nghĩa với suy nghĩ hợp lý, hành động có chủ ý và ý chí tự do. Để được xem là bị cáo, bạn không chỉ phải tạo ra một hành động gây hại (được biết đến với thuật ngữ luật pháp là actus reus) mà bạn còn phải cố ý hành động như thế. Bạn tạo ra tổn hại bằng ý chí tự do của chính mình với một tâm trí tội lỗi (mens rea). Mặt khác, cảm xúc được coi là những phản ứng nhanh chóng, được kích hoạt tự động phát ra từ con thú cổ xưa, bên trong của bạn. Tâm trí con người được coi là chiến trường của lý trí và cảm xúc, vì vậy khi bạn không có đủ ý thức về nhận thức, cảm xúc sẽ bộc phát để điều khiển hành vi của bạn. Chúng xen ngang vào lựa chọn hành động của bạn, và do đó, bạn ít có tội về hành động của mình hơn. Câu chuyện xem cảm xúc như là một phần nguyên thủy của bản chất con người, và nó được điều khiển bởi các phần lý trí cao cấp hơn của con người, là câu chuyện thần thoại “bộ não ba ngôi” (chương 4) có nguồn gốc từ thời Plato.

Sự khác biệt của cảm xúc và nhận thức được cho là bắt nguồn từ sự tách biệt của chúng trong bộ não, và các này điều khiển cái kia. Hạch hạnh nhân cảm xúc của bạn chăm chú quan sát hộc tiền ở quầy thu ngân, nhưng sau đó, bạn xem xét một cách lý trí về khả năng bị bắt bỏ tù của mình – điều này khiến vỏ não trước trán của bạn đạp phanh và ngưng bạn lại trước khi bạn thò tay vào hộc tiền đó. Nhưng như bạn đã biết, trong bộ não, suy nghĩ và cảm xúc không khác nhau. Mong muốn với tay vào hộc kéo và kiếm tiền một cách dễ dàng của bạn, cùng với quyết định thôi không làm điều đó, đều được kiến tạo trong toàn bộ bộ não của bạn thông qua các mạng lưới tương tác với nhau. Bất cứ khi nào bạn thực hiện hành động nào đó – dù là bạn cảm thấy đó là một hành động tự phát, như việc nhận ra một vật thể là một cây súng, hay tinh vi hơn, như việc nhắm bắn ai đó – thì bộ não của bạn luôn luôn tạo ra một cơn lốc với các dự đoán song song với nhau, cạnh tranh với nhau để xác định hành động và trải nghiệm của bạn.

Vào những thời điểm khác nhau, bạn có những trải nghiệm khác nhau. Cảm xúc đôi khi có vẻ không thể kiểm soát được, như một cơn giận bùng phát mà không hề báo trước, nhưng bạn cũng có thể hành động tức giận có chủ ý, lên kế hoạch để giết chết ai đó. Thêm vào đó, những thứ phi cảm xúc như ký ức hay ý tưởng đều có thể xuất hiện trong đầu bạn mà không bị ràng buộc. Tuy nhiên, chúng tôi chưa bao giờ nghe nói về những bị cáo phạm tội giết người “trong lúc suy nghĩ lung tung”.

Thậm chí, bạn có thể tự làm cho bản thân mình tức giận. Kẻ giết người hàng loạt Dylann Roof, kẻ đã bắt 9 người trong một buổi họp nghiên cứu kinh Thánh ở Nam Carolina và tháng 6 năm 2015, hắn có vẻ đã tự nuôi dưỡng cơn giận của chính mình đối với người Mỹ gốc Phi trong hàng tháng trời trước ngày hắn bước vào nhà thờ đó. Roof nói rằng hắn hầu như không thể thực hiện được kế hoạch của mình bởi vì mọi người đối xử quá tốt với hắn, và hắn có vẻ phài tự mình đấu tranh để thực hiện hành vi xấu xa trong buổi họp đó, hắn phải liên tục lặp đi lặp lại những cụm từ như “tôi phải làm điều đó”, “các người phải biến đi”. Do đó, nói chung là, những khoảnh khắc cảm xúc không đồng nghĩa với những khoảnh khắc mà bạn mất kiểm soát.

Giận dữ là một quần thể các phân mục đa dạng, chứ không phải một hành động phản xạ tự động theo đúng nghĩa của cụm từ này. Cũng tương tự với những danh mục cảm xúc, nhận thức, ý thức và những sự kiện mang tính tinh thần khác. Có vẻ như bộ não của bạn có một quy trình trực quan nhanh chóng và một quy trình chậm rãi và tinh vi khác, và cái trước thì có vẻ mang tính cảm xúc, cái sau thì mang tính lý trí, nhưng ý tưởng này không được các nền tảng khoa học thần kinh hay hành vi chứng minh và bảo vệ. Đôi khi mạng lưới kiểm soát của bạn đóng một vai trò lớn trong quá trình kiến tạo, và đôi khi vai trò của nó ít hơn, nhưng lúc nào nó cũng có mặt, và trong những khi vai trò của nó ít hơn thì cũng không nhất thiết phải mang tính cảm xúc.

Tại sao câu chuyện hư cấu về bộ não hai hệ thống này vẫn tồn tại, ngoài lý do thông thường đến từ chủ nghĩa tinh chất? Là bởi vì hầu hết các thí nghiệm tâm lý học đều vô tình kéo dài sự hư cấu này. Trong cuộc sống thực, não của bạn dự đoán không ngừng, và mỗi trạng thái não đều phụ thuộc vào những trạng thái xảy ra trước đó. Những thí nghiệm này đã làm gián đoạn quy trình dự đoán tự nhiên của bộ não. Và chúng tạo ra kết quả như thể bộ não của đối tượng thí nghiệm đã tạo ra các phản hồi tự động nhanh chóng, sau khoảng 150 mili giây sau đó lại tạo thêm một lựa chọn có kiểm soát, như thể hai phản ứng này đến từ các hệ thống khác nhau trong não. Ảo tưởng về bộ não có hai hệ thống là một sản phẩm phụ của các thí nghiệm sai sót, có tuổi đời hàng thế kỷ,  và luật pháp của chúng ta vẫn duy trì ảo tưởng này.

Hệ thống luật pháp, với quan điểm mang tính chủ nghĩa tinh chất của nó trong việc nhìn nhận lý trí và bộ não, trộn lẫn ý chí (volition) – rằng liệu bộ não của bạn có thực sự chịu trách nhiệm trong việc kiểm soát hành vi của bạn hay không – và ý thức (awareness) về ý chí – liệu bạn có lựa chọn ý chí này không. Khoa học thần kinh có khá nhiều điều để nói về sự phân biệt này. Nếu bạn ngồi trên ghế với tư thế co chân, ngón chân không chạm sàn và dùng thứ gì đó gõ vào đầu gối ngay dưới xương bánh chè, nửa dưới của chân bạn sẽ đá lên một chút. Đưa tay bạn vào gần lửa và tay bạn sẽ co lại. Thổi một luồng không khí vào giác mạc của bạn và bạn chớp mắt. Mỗi ví dụ này là một phản xạ: cảm giác trực tiếp tạo chuyển động. Các phản xạ trong hệ thống thần kinh ngoại vi của bạn có các neuron cảm giác được kết nối trực tiếp với các neuron vận động. Chúng ta gọi các hành động này là “không tự nguyện” bởi vì có một, và chỉ một hành vi cụ thể tương ứng với một kích thích giác quan cụ thể do kết nối dây thần kinh trực tiếp.

Tuy nhiên, bộ não của bạn không được kết nối giống như các phản xạ. Nếu nó được kết nối như vậy, bạn sẽ phụ thuộc vào thế giới bên ngoài, một con hải quỳ đâm bất cứ con cá nào tình cờ chạm vào xúc tu của nó theo phản xạ. Các neuron cảm giác của hải quỳ, thứ nhận thông tin đầu vào từ thế giới bên ngoài, được kết nối trực tiếp với các neuron vận động của nó. Nó không có ý chí (volition).

Tuy nhiên, các neuron cảm giác và vận động trong bộ não người thường giao tiếp với nhau thông qua các trung gian, được gọi là neuron liên kết và chúng ban tặng cho hệ thống thần kinh của bạn một khả năng đáng chú ý: khả năng ra quyết định. Khi một neuron liên kết nhận tín hiệu từ neuron cảm giác, nó không chỉ có thể làm duy nhất một hành động, mà nó có thể làm hai hành động. Nó có thể kích thích hoặc ngăn cản một neuron vận động. Do đó, cùng một thông tin cảm giác đầu vào có thể tạo ra các kết quả khác nhau trong những tình huống khác nhau. Đây là nền tảng sinh học cho các lựa chọn, thứ tài sản quý giá nhất của con người. Nhờ vào các neuron liên kết, nếu một con cá chạm vào da của bạn, bạn có thể phản ứng bằng cách thờ ơ, cười, bạo lực hoặc bất cứ điều gì. Đôi khi, bạn có thể có cảm giác giống như một con hải quỳ, nhưng bạn có khả năng kiểm soát cây lao của mình nhiều hơn bạn tưởng.

Mạng lưới kiểm soát trong bộ não của bạn, thứ giúp bạn lựa chọn các hành động, được tạo ra bởi các neuron liên kết. Mạng lưới này luôn chịu trách nhiệm chủ động lựa chọn các hành động của bạn; nhưng không phải lúc nào bạn cũng cảm thấy mình có thể nắm quyền kiểm soát. Nói cách khác, trải nghiệm của bạn trong việc nắm quyền kiểm soát chỉ là một trải nghiệm.

Đây là điểm mà luật pháp không đồng bộ với khoa học, nhờ vào quan điểm cổ điển về bản chất con người. Luật pháp xác định sự lựa chọn có chủ ý — ý chí tự do — như việc bạn có cảm thấy rằng bạn có thể kiểm soát được suy nghĩ và hành động của mình hay không. Luật pháp không phân biệt được giữa khả năng lựa chọn của bạn — hoạt động của mạng điều khiển — và trải nghiệm mang tính chủ quan về lựa chọn của bạn. Trong bộ não, hai thứ này hoàn toàn không giống nhau.

Các nhà khoa học vẫn đang cố gắng tìm ra cách mà bộ não tạo ra trải nghiệm về việc nắm quyền kiểm soát. Nhưng có một thứ chắc chắn: không có bất kỳ bằng chứng khoa học nào cho việc dán nhãn một “khoảnh khắc không ý thức kiểm soát” là cảm xúc.

Điều này có ý nghĩa gì về mặt cảm xúc? Hãy nhớ rằng hệ thống luật pháp đang quyết định một người có tội hay không dựa trên chủ ý – liệu anh ta có cố ý tạo ra tổn hại hay không. Luật pháp nên tiếp tục trừng phạt một người dự trên mức độ tổn tại mà bị cáo cố ý tạo ra, chứ không phải là dựa trên việc liệu người có có bị cảm xúc lấn át hay liệu người đó có trải nghiệm bản thân như một tác nhân có ý thức hay không.

Cảm xúc không phải là sự lệch lạc nhất thời so với lý trí. Chúng không phải là thế lực ngoài hành tinh xâm lược bạn mà không có sự đồng ý của bạn. Chúng không phải là những cơn sóng thần gây ra sự hủy diệt khi chúng bật dậy. Chúng thậm chí không phải là phản ứng của bạn với thế giới. Chúng là các kiến tạo của bạn về thế giới bên ngoài. Các phân mục cảm xúc không nằm ngoài tầm kiểm soát của bạn, chúng cũng như suy nghĩ hoặc nhận thức hoặc niềm tin hoặc ký ức. Thực tế là, bạn kiến tạo nhiều nhận thức và trải nghiệm và bạn thực hiện nhiều hành động, một số hành động mà bạn kiểm soát được nhiều và một số hành động thì không.

Hệ thống luật pháp có một tiêu chuẩn gọi là người biết điều (reasonable person) – dành để mô tả những người đại diện cho các quy luật thông thường trong xã hội, nghĩa là, những người đại diện cho các thực tại xã hội trong văn hóa của bạn. Các bị cáo thường bị đánh giá dựa trên tiêu chuẩn này. Hãy xem xét lập luận pháp lý cốt lõi trong việc biện hộ cho các hành động phạm tội do cảm xúc mãnh liệt (heat-of-passion defense): liệu một người biết điều có giết người giống như vậy nếu anh ta cũng phải chịu kích thích tương tự mà không có cơ hội bình tĩnh lại hay không?

Tiêu chuẩn về một con người biết điều, và các quy luật thông thường của xã hội đứng sau nó, không chỉ được phản ánh trong luật pháp – mà chính luật phải đã tạo ra nó. Đó là một cách nói của việc, “Đây là những hành động mà chúng tôi cho rằng một con người sẽ làm, và chúng tôi sẽ trừng phạt bạn nếu như bạn không hành động như thế.” Đó là một bảng hợp đồng xã hội, một bảng hướng dẫn hành vi cho một người trung bình trong một quần thể gồm nhiều cá nhân đa dạng. Và cũng giống như tất cả những thứ trung bình khác, người biết điều là một thứ hư cấu không khớp một cách chính xác với bất kỳ cá nhân đơn lẻ nào. Nó là một khuôn mẫu, và nó bao gồm những ý tưởng rập khuông về “biểu hiện” cảm xúc, cảm giác, và nhận thức, chúng là một phần của quan điểm cổ điển về cảm xúc và loại lý thuyết về bản chất con người ủng hộ nó.

Một tiêu chuẩn pháp lý dụa trên các khuôn mẫu cảm xúc sẽ tạo ra rất nhiều vấn đề trong việc đối xử công bằng với nam và nữ. Trong nhiều nền văn hóa, người ta tin rằng phụ nữ thường dễ bị chi phối bởi cảm xúc hơn và có sự thông cảm nhiều hơn, trong khi đó, đàn ông thường khắc kỷ hơn và thiên về khả năng phân tích hơn. Có vô số các cuốn sách nổi tiếng đã mô tả loại khuôn mẫu này như thể nó là một sự thật: Não của đàn ông; Não của đàn bà (The Female Brain; The Male Brain); Não của anh ấy, Não của cô ấy (His Brain; Her Brain); Sự khác biệt cốt lõi (The Essential Difference); Bộ não giới tính (Brain Sex); Giải phóng năng lực Bộ não của phụ nữ (Unleash the Power of Female Brain); và vân vân. Loại khuôn mẫu này ảnh hưởng đến cả những người phụ nữ mạnh mẽ nhất và được tôn trọng rộng rãi nhất. Madeline Albright, nữ ngoại trưởng đầu tiên của Mỹ, đã viết trong hồi ký của cô ấy rằng, “nhiều đồng nghiệp của tôi làm cho tôi có cảm giác rằng tôi đang quá mức nghiêng về cảm xúc, và tôi phải cố gắng để vượt qua điều đó. Theo thời gian, tôi học cách giữ cho giọng mình ngang và không cảm xúc khi tôi nói về các vấn đề mà tôi cho là quan trọng.”

Hãy dừng lại một lúc và xem xét chính cảm xúc của bạn. Liệu bạn có xu hướng cảm thấy mọi thứ quá lên hay cảm thấy mọi thứ bình thường? Khi chúng tôi yêu cầu các đối tượng thí nghiệm nam và nữ trong phòng thí nghiệm của tôi mô tả cảm giác của họ từ các kí ức, thì phụ nữ thường nói rằng trung bình thì họ cảm thấy dễ xúc động hơn so với đàn ông. Nghĩa là, phụ nữ tin rằng họ dễ bị xúc động hơn đàn ông, và đàn ông cũng đồng ý với điều này. Ngoại lệ duy nhất là sự giận dữ, như các đối tượng thí nghiệm thường tin rằng đàn ông dễ giận dữ hơn. Tuy nhiên, khi những người này ghi lại các trải nghiệm cảm xúc của họ trong cuộc sống hàng ngày, thì không hề có sự khác biệt về giới tính. Một số đàn ông và phụ nữ thực sự rất dễ bị xúc động, và một số khác thì không. Tương tự, bộ não của phụ nữ không được thiết lập chuyên cho cảm xúc hay sự đồng cảm, và bộ não của đàn ông cũng không được thiết lập để trở nên khắc kỷ và lý trí.

Những khuôn mẫu giới tính này đến từ đâu? Ít nhất, ở Mỹ, phụ nữ thường “thể hiện” cảm xúc nhiều hơn so với đàn ông. VÍ dụ, phụ nữ chuyển động cơ mặt nhiều hơn so với đàn ông khi họ xem phim, nhưng họ không thực sự có nhiều trải nghiệm cảm xúc mãnh liệt hơn đàn ông khi xem phim. Phát hiện này có thể giải thích tại sao các khuôn mẫu về đàn ông thì khắc kỹ còn phụ nữ thì giàu cảm xúc đã chen chân vào phòng xử án và tạo ra tác động đáng kể trong phán quyết của quan tòa và bồi thẩm đoàn.

Bởi vì những khuôn mẫu này, lập luận biện hộ phạm tội do cảm xúc mãnh liệt – và các thủ tục pháp lý nói chung – thường được áp dụng khác nhau khi đối với nam bị can và nữ bị can. Hãy xem xét hai vụ án mưu sát khá giống nhau, ngoại trừ giới tính của bị cáo. Trong vụ án đầu tiên, một người đàn ông tên là Robert Elliott bị buộc tội đã giết chết anh trai của mình, được cho là bởi vì “rối loạn cảm xúc cực độ” bao gồm “một nỗi sợ hãi đối với anh trai mà anh ta không thể chịu đựng nổi”. Bồi thẩm đoàn tuyên anh ta phạm tội giết người nhưng quyết định đã bị Tòa án Tối cao Connecticut bác bỏ, với lý do rằng "cảm xúc mãnh liệt" của Elliott về anh trai đã lấn át "sự tự chủ" và "lý trí" của anh ta. Trong trường hợp thứ hai, một phụ nữ tên Judy Norman đã giết chồng mình sau khi anh ta không ngừng đánh đập và lạm dụng cô trong nhiều năm. Tòa án tối cao của Bắc Carolina đã bác bỏ tuyên bố của người bào chữa cho Norman khi người này nói rằng cô ấy đã hành động để tự vệ bởi vì cô ấy “sợ hãi một cách hợp lý về cái chết sắp xảy ra hoặc tổn thương cơ thể lớn”, và cô ấy vẫn bị kết tội ngộ sát tự nguyện.

Hai vụ án này khớp với một số khuôn mẫu về cảm xúc ở đàn ông và phụ nữ. Sự giận dữ được xem là khuôn mẫu bình thường ở đàn ông bởi vì đàn ông được cho là có tính công kích cao. Phụ nữ thường được xem là nạn nhân, và những nạn nhân tốt thì thường không giận dữ, họ nên tỏ ra sợ hãi. Những người phụ nữ bị trừng phạt vì đã tỏ ra giận dữ - họ bị mất danh dự, mất tiền bạc, và thậm chí là công việc của họ. Bất kỳ khi nào tôi thấy một nam chính trị gia thượng đẳng chơi chiêu bài “con khốn tức giận” đối với một đối thủ nữ, tôi đều xem đó là một dấu hiệu cho việc cô ấy hẳn phải rất bản lĩnh và quyền lực. (Tôi chưa từng gặp một phụ nữ nào mà chưa từng bị mắng chửi là “con khốn” trước khi cô ấy được chấp nhận ở cương vị lãnh đạo.)

Trong phòng xử án, những người phụ nữ giận dữ như cô Norman đã đánh mất tự do của họ. Trên thực tế, trong các vụ án bạo lực gia đình, những người kẻ giết người là đàn ông nhận được mức án ngắn hơn và nhẹ hơn, và bị buộc tội ít nghiêm trọng hơn so với những người phụ nữ khi họ giết chết bạn đời của mình. Một người chồng sát nhân thường được xem như đang hành xử theo khuôn mẫu của một người chồng, còn những người vợ sát nhân bị xem như đang không hành xử theo lề thói thông thường của những người vợ, và vì thế, họ thường ít khi được minh oan.

Đóng khuông cho cảm xúc thậm chí còn tệ hơn trong trường hợp những người phụ nữ nạn nhân của bạo lực gia đình là người Mỹ gốc Phi. Nguyên mẫu nạn nhân trong văn hóa Mỹ là sợ hãi, thụ động và bất lực, nhưng trong các cộng đồng người Mỹ gốc Phi, phụ nữ đôi khi vi phạm khuôn mẫu này bằng cách tự vệ mạnh mẽ trước những kẻ bị cáo buộc là người đánh đập họ. Khi chống trả, họ đã củng cố một khuôn mẫu khác về cảm xúc của phụ nữ, đó là “người phụ nữ da đen giận dữ” (angry black woman), điều này cũng phổ biến trong hệ thống luật pháp Hoa Kỳ. Những phụ nữ này có nhiều khả năng bị buộc tội bạo lực gia đình hơn, ngay cả khi hành động của họ là để tự vệ và hành động đó ít nghiêm trọng hơn so với hành vi tấn công ban đầu. (Không có việc “bảo vệ quan điểm của mình” (stand your ground) ở đây). Và nếu họ tổn thương hay giết kẻ được cho là đã tấn công họ, họ thường bị phán xét tệ hơn so với một người phụ nữ Mỹ gốc Âu trong cùng một tình huống.

Ví dụ, hãy xem xét vụ án của Jean Banks, một người phụ nữ Mỹ gốc Phi đã đâm chết người chung sống với cô ấy, James “Brother” McDonald, sau khi anh ta đã đánh đập cô hàng năm trời, đôi khi đánh nặng đến mức cô phải nhập viện. Trong ngày định mệnh đó, cả hai đều uống say, và khi cãi nhau, McDonald đã đã Banks xuống đất và cố chém cô với một con dao cắt kính. Banks chộp lấy con dao để tự vệ và đâm vào tim anh ta. Người ta tuyên bố cô ấy tự vệ, nhưng vẫn kết án cô giết người ở mức độ 2. (So sánh với trường hợp của Judy Norman – một người phụ nữ có làn da sáng màu hơn, bị kết án ngộ sát tự nguyện, mức phạt thấp hơn nhiều.)

Trong những vụ án ngoài bạo lực gia đình, những người phụ nữ giận dữ cũng bị phán xét nhiều hơn. Các thẩm phán thường sẽ suy ra những tính cách cá nhân tiêu cực khi những phụ nữ là nạn nhân trong các vụ án hiếp dâm tỏ ra giận dự. Ví dụ, khi một phụ nữ bị hiếp dâm, các thẩm phán (và bồi thẩm đoàn và cảnh sát) sẽ muốn nhìn thấy cô ấy tỏ ra đau buồn trên bục nhân chứng, điều này sẽ khiến tên hiếp dâm bị phán nặng hơn. Khi một nạn nhân nữ thể hiện sự giận dữ, các thẩm phán sẽ đánh giá cô ấy một cách tiêu cực hơn. Những người thẩm phán này đã trở thành con mồi trong một phiên bản khác của hiện tượng “con khốn giận dữ”. Khi người ta nhận thức cảm xúc từ đàn ông thì họ thường đổ cho tình huống của anh ta, nhưng khi người ta nhận thức cảm xúc từ phụ nữ thì họ lại liên hệ nó với tính cách của cô ấy. Cô ấy là một con khốn, còn anh ta thì chẳng qua là vì đã trải qua một ngày tệ hại.

Bên ngoài phòng xử án, cũng có những luật lệ quy định các khuôn mẫu cảm xúc có thể chấp nhận ở mỗi giới tính, những cảm xúc mà chúng ta phải cảm thấy và phải thể hiện. Như đã được viết ra, luật phá thai cho thấy rằng loại cảm xúc phù hợp ở người phụ nữ trong trường hợp này chính là hối hận và tội lỗi, còn cảm giác thoát nợ (relief) và vui vẻ thì hoàn toàn không được đề cập đến. Theo một cách nào đó, tranh cãi xoay quanh việc kết hôn đồng giới thường nhắm tới việc liệu pháp luật có nên trừng phạt cảm xúc tình yêu lãng mạn giữa hai người cùng giới tính hay không. Luật nhận con nuôi liên quan đến người đồng tình nam thì dấy lên câu hỏi liệu tình yêu của cha có tương đương với tình yêu của mẹ hay không.

Nói chung, không có bằng chứng khoa học này biện minh cho quan điểm về cảm xúc của đàn ông và phụ nữ trong luật pháp. Chúng chỉ là các niềm tin đến từ thứ quan điểm đã lỗi thời về bản chất con người. Những ví dụ mà tôi chọn để trình bày chỉ là một lát cắt mỏng của toàn bộ vấn đề, về mặt luật pháp lẫn về mặt khoa học. Chẳng hạn như, tôi hầu như chưa hề chạm vào bề mặt của những định kiến khuôn mẫu cảm xúc của các nhóm dân tộc – những người phải đấu tranh trong và cả ngoài tòa án. Chừng nào luật pháp còn chuẩn hóa các khuôn mẫu về cảm xúc, con người sẽ tiếp tục trở thành mục tiêu của những phán quyết không nhất quán.

Khi Stafania Albertani bị tuyên là có tội đã chuốc thuốc và giết chết chị gái của chính cô ta, chưa kể đến việc đốt xác, đoàn luật sư biện hộ cho cô ta đã mạnh mẽ đổ lỗi cho bộ não của cô ta.

Hình ảnh quét não cho thấy ra có hai vùng vỏ não của Albertani chứa ít neuron hơn so với một nhóm mười người phụ nữ khỏe mạnh. Những vùng này bao gồm thùy não insula, thứ mà luật sư biện hộ tuyên bố là có liên quan đến sự giận dữ, và nếp gấp đai trước (anterior cingulate gyrus) – thứ được cho là liên quan đến việc giảm ức chế của một người. Hai nhân chứng có chuyên môn đã kết luận rằng có một mối “quan hệ nhân quả” giữa cấu trúc não bộ và tội ác của cô ta. Sau phiên tòa này, tuyên án tù của Albertani bị giảm từ chung thân xuống còn hai mươi năm.

Các quyết định pháp lý như quyết định này, thứ đã từng gây chấn động truyền thông ở Ý vào năm 2011, đang trở nên phổ biến hơn khi các luật sư sử dụng các phát hiện khoa học thần kinh trong chiến lược bào chữa của họ. Nhưng những quyết định này có chính đáng không? Cấu trúc não có thể giải thích tại sao ai đó lại phạm tội không? Và liệu một khu vực có một kích thước nhất định, hoặc một khả năng kết nối nhất định, có thể thực sự gây ra hành vi giết người hay không, và nếu như vậy thì bị cáo có phải chịu trách nhiệm ít hơn cho tội ác của mình hay không?

Những lập luận pháp lý như những lập luận do nhóm bào chữa của Albertani đưa ra đã xuyên tạc hoàn toàn những phát hiện khoa học thần kinh và các kết luận có thể rút ra từ những phát hiện này. Việc định vị một danh mục tâm lý phức tạp như “sự giận dữ” vào một tập hợp các neuron nhất định là một việc bất khả thi, bởi vì cũng giống như các khái niệm khác, sự thoái hóa khiến cho bộ não tạo ra “sự giận dữ” theo những cách rất khác nhau trong mỗi một lần kiến tạo. Các hành động như đánh đập không được định vị bởi một tập hợp các neuron đơn lẻ trong não bộ con người.

Những vùng não được nhóm luật sư bào chữa đề cập trong vụ án của Albertani là hai  trong những vùng có tính kết nối cao nhất trong toàn bộ bộ não. Chúng bị kích hoạt trong hầu hết các sự kiện tinh thần mà bạn có thể liệt kê, từ ngôn ngữ đến đau đớn đến khả năng toán học. Do đó, chắc chắc là chúng có thể đóng một vai trò nào đó trong sự giận dữ và tính bốc đồng. Nhưng khó mà có thể khẳng định bất kỳ mối quan hệ nhân quả cụ thể nào giữa các khu vực này và hành vi giết người cực kỳ hung hãn … nếu Albertani có động cơ gây hấn ngay từ đầu.

Khó mà tuyên bố rằng sự khác nhau về kích thước của bộ não tạo ra sự khác nhau trong hành vi. Không có hai bộ não nào là hoàn toàn giống nhau. Chúng chỉ có chung một số phần, gần giống ở cùng một vị trí, được kết nối với nhau theo cách khá giống nhau, nhưng ở mức độ chi tiết, trong vi mạch của chúng, chúng có sự khác biệt rất lớn. Một số có thể chuyển thành sự khác biệt về hành vi, nhưng số khác thì không. Thùy não insula của bạn có thể lớn hơn hoặc kết nối nhiều hơn so với thùy não insula của tôi, nhưng việc này không nhất thiết sẽ tạo ra bất kỳ sự khác nhau nào giữa hành vi của chúng ta. Thậm chí nếu chung ta kiểm tra nhiều bộ não, và tìm ra sự khác biệt đáng kể theo thống kê giữa kích thước thùy não insula trong não của những người hung dữ và người ít hung dữ, thì nó cũng không có nghĩa là một thùy não insula lớn hơn sẽ tạo ra nhiều sự hung dữ hơn, đấy là chưa nói đến hành vi sát nhân. (Thêm vào đó, thậm chí nếu một insula lớn thực sự tạo ra sự hung dữ, thì nó phải lớn đến mức nào mới có thể tạo ra một sát nhân?) Trong những trường hợp hiếm thấy, một khối u có thể đè lên bộ não và tạo ra các thay đổi lớn về mặt tính cách, nhưng nói chung, không có bằng chứng khoa học cho việc một vùng não có thể tạo ra một sát nhân.

Có thể thứ đáng ngạc nhiên nhất về vụ án của Albertani là các nhân chứng có chuyên môn và thẩm phán đã nghĩ rằng bộ não là một “tình tiết giảm tội” cho hành vi giết người của Albertani. Tất cả các hành vi đều xuất phát từ bộ não. Không có bất kỳ hành động, suy nghĩ hay cảm giác nào tồn tại mà không đến từ các neuron. Dùng khoa học thần kinh ở tòa án, dùng các lý giải sinh học để giải phóng ai đó khỏi trách nhiệm, là một sai lầm. Bạn chính là bộ não của bạn.

Luật pháp thường tìm kiếm những nguyên nhân đơn lẻ và đơn giản, vì thế, rất dễ đổ các hành vi phạm tội cho kết cấu sai của bộ não. Nhưng trong cuộc sống thực, các hành vi không bao giờ là đơn giản. Đó là đỉnh điểm của nhiều yếu tố, bao gồm dự đoán từ bộ não của bạn, lỗi dự đoán từ năm giác quan của bạn cộng với cảm giác nội tại và một chuỗi phức tạp bao gồm hàng tỷ vòng dự đoán. Và đó chỉ là một câu chuyện bên trong một người đơn lẻ. Bộ não của bạn còn bị bao quanh bởi rất nhiều bộ não khác trong rất nhiều cơ thể khác. Bất cứ khi nào bạn nói hay làm gì đó, bạn đều đang tác động đến dự đoán của những người xung quanh bạn, những người này sau đó lại tác động ngược lại đến dự đoán của bạn. Cả một nền văn hóa tập thể đóng vai trò trong các khái niệm mà bạn kiến tạo nên cũng như các dự đoán mà bạn tạo ra, và do đó, nó đóng vai trò lớn trong hành vi của bạn. Mọi người vẫn đang tranh cãi xem vai trò của văn hóa lớn đến mức nào, nhưng không ai có thể phủ nhận vai trò của nó.

Điểm mấu chốt là: đôi khi, một vấn đề về mặt sinh học có thể cản trở khả năng chọn lựa hành động có chủ đích của bộ não của bạn. Có thể bạn đang có một khối u trong não, hoặc một vài neuron đang chết đi ở sai chỗ. Nhưng sự biến đổi đơn thuần trong não — về cấu trúc, chức năng, hóa học hoặc di truyền — không phải là một tình tiết giảm nhẹ cho việc phạm tội. Sự đa dạng mới chính là điều bình thường.

Dzhokhar Tsarnaev, kẻ đánh bom cuộc thi Marathon ở Boston, bị kết án vào năm 2015 và bị kết án tử hình. Tsarnaev được xét xử bởi bồi thẩm đoàn, một quyền được Hiến pháp Hoa Kỳ bảo đảm cho tất cả người Mỹ. Theo BBC, tờ báo đưa tin về việc tuyên án, “Chỉ có hai trong số các bồi thẩm viên tin rằng Tsarnaev đã cảm thấy hối hận. 10 người còn lại, giống như nhiều người ở Massachusetts, nghĩ rằng hắn không hề hối hận”. Các bồi thẩm viên đã định hình những ý kiến của họ về sự hối hận của Tsarnaev bằng cách quan sát kỹ anh ta trong suốt phiên tòa, nơi anh ta được cho là ngồi "đơ mặt" trong hầu hết các quá trình tố tụng. Slate.com lưu ý rằng luật sư bào chữa của Tsarnaev “đã không — hoặc không thể — đưa ra bằng chứng [rằng] Dzhokhar Tsarnaev cảm thấy hối hận – điều mà bên công tố nói rằng hắn ta không có.”

Việc xét xử bởi bồi thẩm đoàn được coi là tiêu chuẩn vàng cho sự công bằng trong một vụ án hình sự. Các bồi thẩm viên được hướng dẫn để đưa ra quyết định chỉ dựa trên các bằng chứng được trình bày. Tuy nhiên, đối với một bộ não dự đoán, đây là một nhiệm vụ bất khả thi. Các bồi thẩm viên nhận thức mọi bị đơn, nguyên đơn, nhân chứng, thẩm phán, luật sư, phòng xử án và hàng loạt bằng chứng, thông qua lăng kính của hệ thống khái niệm của riêng họ, điều này làm cho ý tưởng về bồi thẩm công bằng là một ý tưởng hư cấu và không thể tin tưởng được. Trên thực tế, bồi thẩm đoàn là một tá các nhận thức chủ quan được cho là sẽ đưa ra một sự thật khách quan và công bằng.

Ý tưởng cho rằng các bồi thẩm viên bằng cách nào đó có thể phát hiện ra sự hối hận từ một bị cáo, từ cấu hình khuôn mặt của hắn hay các chuyển động cơ thể của hắn, hay từ lời nói của hắn, là bắt nguồn từ quan điểm cổ điển – trong quan điểm này, người ta giả định rằng các cảm xúc được nhận thức và thể hiện một cách phổ quát. Hệ thống luật pháp giả định rằng sự hối hận, cũng giống như sự giận dữ và các cảm xúc khác, đều có một tinh chất phổ quát đơn lẻ với dấu vân tay có thể phát hiện ra được. Tuy nhiên, hối hận là một danh mục cảm xúc bao gồm rất nhiều phân mục đa dạng, mỗi một phân mục được tạo ra trong một tình huống cụ thể khác nhau.

Kiến tạo sự hối hận của bị cáo sẽ phụ thuộc vào khái niệm của anh ta về “hối hận”, được chọn lọc từ những trải nghiệm trước đây trong nền văn hóa của anh ta, tồn tại dưới dạng tầng tầng lớp lớp các dự đoán dẫn dắt biểu cảm và trải nghiệm của anh ta. Ở phía bên kia phòng xử án, nhận thứ về sự hối hận của một bồi thẩm viên là một suy luận về mặt tinh thần – một suy đoán dựa trên tầng tầng lớp lớp những dự đoán bên trong não bộ của cô ấy – thứ đang lý giải các chuyển động trên mặt của bị cáo, các dáng vẻ và giọng nói của bị cáo. Để các nhận thức của bồi thẩm viên là “chính xác”, thì cô ấy và bị cáo phải phân loại các khái niệm giống nhau. Sự đồng điệu này, giữa một người đang cảm thấy hối hận và một người đang nhận thức nó, thậm chí là không cần từ ngữ, có nhiều khả năng xảy ra hơn khi hai người có nguồn gốc, tuổi tác, giới tính hoặc dân tộc giống nhau.

Trong vụ Đánh bom cuộc thi Marathon ở Boston, nếu Tsarnaev cảm thấy hối hận vì hành động của mình, thì mọi chuyện sẽ như thế nào? Liệu anh ấy có khóc một cách công khai không? Liệu anh ta có cầu xin nạn nhân của mình tha thứ hay không? Phân trần về tội lỗi của mình? Có lẽ, nếu anh ta theo khuôn mẫu của người Mỹ trong việc bày tỏ sự hối hận, hoặc nếu đây là một phiên tòa trong một bộ phim Hollywood. Nhưng Tsarnaev là một thanh niên theo đạo Hồi đến từ Chechnya. Anh ta sống ở Mỹ và anh ta có nhiều người bạn là người Mỹ, nhưng Tsarnaev dành nhiều thời gian để ở cùng người anh trai dân tộc Chechen của mình (theo lời luật sư biện hộ của anh ta). Văn hóa Chechen cho rằng đàn ông cần phải khắc kỷ khi đối mặt với nghịch cảnh. Nếu họ thua trần, họ nên dũng cảm chấp nhận thất bại, một loại tư duy được gọi là “con sói Chechen”. Vì thế, nếu Tsarnaew cảm thấy hối hận, thì có thể anh ta cũng sẽ giữ một gương mặt đơ như đá.

Người ta cũng có báo cáo rằng Tsarnaev đã khóc khi cô của hắn đứng trên bục cầu xin tha mạng cho hắn. Người Chechnya cũng có một văn hóa về danh dự, một người sẽ cảm thấy rất đau đớn nếu làm cho gia đình xấu hổ. Nếu Tsarnaev nhìn thấy người thân của mình bị xấu hổ trước công chúng, ví dụ như khi cô của anh ta cầu xin cho anh ta, thì việc rơi một vài giọt nước mắt sẽ phù hợp với các chuẩn mực văn hóa Chechnya về danh dự.

Chúng ta – và các bồi thẩm viên – chỉ có dùng suy đoán khi kiến tạo nhận thức để giải thích hành động thản nhiên của Tsarnaev. Khi dùng các khái niệm văn hóa phương Tây về sự hối hận, chúng ta cho rằng anh ta là người lãnh đạm lạnh lùng hoặc đầy can đảm, thay vì khắc kỷ. Vì vậy, trong trường hợp này, có thể phỏng đoán của chúng ta đã tạo ra sự hiểu lầm văn hóa trong phòng xử án, cuối cùng dẫn đến án tử hình của anh ta. Hoặc có thể anh ta thực sự không hối hận.

Hóa ra, Tsarnaev thực sự đã bày tỏ sự hối hận về hành động của mình trong một bức thư xin lỗi mà anh ta đã viết vào năm 2013, chỉ vài tháng sau vụ đánh bom, hai năm trước khi anh ta ra tòa. Tuy nhiên, bồi thẩm đoàn chưa bao giờ nhìn thấy bức thư. Nó được niêm phong bí mật theo các Biện pháp Hành chính Đặc biệt của Chính phủ Hoa Kỳ, với lý do “vấn đề an ninh quốc tế”, nó bị loại ra khỏi các bằng chứng của phiên tòa.

Vào ngày 25 tháng 6 năm 2015, Tsarnaev đã phát biểu lần cuối tại phiên tòa tuyên án của mình. Anh ta thú nhận về vụ đánh bom và nói rằng anh ta đã hiểu tác động của tội ác của mình. “Tôi xin lỗi vì những sinh mạng mà tôi đã cướp đi,” anh lặng lẽ và bình tĩnh nói xin lỗi, “vì những đau khổ mà tôi đã gây ra cho các bạn, vì những thiệt hại mà tôi đã gây ra. Những thiệt hại không thể khắc phục." Chúng ta có thể đoán được các phản ứng từ các nạn nhân và báo chí trong phiên tòa. Một số người đã bị choáng váng. Một số người đã cảm thấy khó chịu. Một số đã bị xúc phạm. Một số chấp nhận lời xin lỗi của anh ta. Và nhiều người không thể quyết định liệu lời xin lỗi đó có chân thành hay không.

Chúng ta không bao giờ có thể biết được rằng liệu Tsarnaev có hối hận về những hành động khủng khiếp của mình hay không, cũng như liệu lá thư của anh ta có thể ảnh hưởng đến bản án hay không. Nhưng có một điều chắc chắn rằng: Tại một phiên xử tử hình, sự hối hận của bị cáo là một đặc điểm quan trọng mà theo luật, các bồi thẩm viên phải dựa vào đó để đưa ra quyết định giữa hình phạt tù và tử hình. Và giống như mọi nhận thức về cảm xúc, những nhận thức về sự hối hận không phải là được phát hiện mà chúng chỉ được kiến tạo nên.

Trong trường hợp ngược lại, một biểu hiện của sự hối hận có thể hoàn toàn không có ý nghĩa gì. Lấy trường hợp của Dominic Cinelli, một tên tội phạm bạo lực với lịch sử ba mươi năm về các vụ cướp có vũ trang, hành hung và vượt ngục. Cinelli đã phải thụ án ba bản án chung thân liên tiếp trước khi anh ta xuất hiện trước Hội đồng Ân Xá Massachusetts vào năm 2008. Một hội đồng ân xá gồm các nhà tâm lý học, các viên chức cải huấn và các chuyên viên có chuyên môn khác, những người này sẽ quyết định xem một tù nhân sẽ phải thụ án vượt quá mức án tối thiểu hay sẽ được miễn. Họ đã phải chứng kiến một màn biểu diễn thị giác về sự hối hận, một số trải nghiệm thực sự và một số giả mạo, và trách nhiệm sâu sắc của họ đối với công chúng nằm ở khả năng nhận ra sự khác biệt của họ.

Vào tháng 11 năm 2008, Cinelli thuyết phục hội đồng tạm tha rằng anh ta không còn là tội phạm nữa và tâm hồn của anh ta không còn bóng tối nữa. Hội đồng đã nhất trí bỏ phiếu để trả tự do cho anh ta. Sau đó không lâu, Cinelli bắt tay vào một loạt vụ cướp mới và bắn chết một sĩ quan cảnh sát. Cinelli sau đó đã bị giết trong một cuộc đấu súng với cảnh sát. Thống đốc bang Massachusetts, Deval Patrick, đã chứng kiến 5 trong số 7 thành viên của hội đồng ân xá từ chức. Dường như ông đã cho rằng họ thiếu khả năng phát hiện ra sự hối hận đích thực.

Có thể là Cinelli đang diễn. Cũng có thể Cinelli thực sự cảm thấy hối hận vào thời điểm anh ta đứng trước tòa ân xá, nhưng khi anh ta ra khỏi tù, mô hình cũ của thế giới lại tái hiện, và những dự đoán cũ đó đã tạo nên con người cũ của anh ta và sự hối hận của anh ta biến mất. Vì không có tiêu chí khách quan nào cho cảm giác hối hận, chúng ta sẽ không bao giờ biết chắc chắn. Tương tự như vậy, không có tiêu chí khách quan nào cho sự tức giận, buồn bã, sợ hãi hoặc bất kỳ cảm xúc nào khác liên quan đến phiên tòa.

Thẩm phán Tòa án Tối cao Hoa Kỳ Anthony Kennedy từng nói rằng bồi thẩm đoàn phải “biết trái tim và tâm trí của người phạm tội” để bị cáo có một phiên tòa công bằng. Tuy nhiên, cảm xúc không có dấu vân tay nhất quán trong các chuyển động trên khuôn mặt, tư thế cơ thể và cử chỉ hoặc giọng nói. Các bồi thẩm viên và những người khác có thể suy đoán theo những gì họ được giáo dục, về ý nghĩa cảm xúc của những chuyển động và âm thanh này, nhưng không có một sự chính xác khách quan nào ở đây cả. Điều tốt nhất mà chúng ta có thể làm là đo lường xem liệu các bồi thẩm viên có đồng ý với nhau về những cảm xúc mà họ nhận thức được hay không, nhưng khi bị cáo và các bồi thẩm viên có bối cảnh xuất thân khác nhau, các niềm tin, dự đoán khác nhau, thì sự đồng ý giữa các bồi thẩm viên với nhau chỉ là một thay thế kém cỏi cho tính chính xác. Nếu thái độ của bị cáo không bộc lộ cảm xúc, thì hệ thống pháp luật sẽ phải đối mặt với một câu hỏi khó: trong những trường hợp nào thì một phiên tòa có thể hoàn toàn công bằng?

Khi các bồi thẩm viên hay các quan tòa nhìn thấy nụ cười tự mãn của bị cáo, hay khi họ nghe thấy giọng nói run rẩy sợ hãi của nhân chứng, họ sẽ tạo ra các suy đoán về mặt tinh thần, dùng những khái niệm cảm xúc của họ để suy đoán rằng hành động (mỉm cười hay run rẩy) được tạo ra bởi một trạng thái tâm trí. Suy đoán về mặt tinh thần này là cách mà bộ não tạo ra ý nghĩa cho hành động của một người thông qua tầng tầng lớp lớp các dự đoán (như bạn có thể nhớ trong chương 6).

Suy luận về mặt tinh thần có tính lan tỏa và tự động, ít nhất là ở các nền văn hóa của phương Tây, đến nỗi chúng ta thường không ý thức được rằng chúng ta đang suy luận về tinh thần. Chúng ta tin rằng các giác quan của mình đã cung cấp một cái nhìn khách quan và chính xác về thế giới, như thể chúng ta có một đôi mắt X-quang để giải mã hành vi của người khác để khám phá ý định của họ (“Tôi có thể nhìn xuyên qua bạn”). Trong những khoảnh khắc này, chúng ta đang trải nghiệm nhận thức của chính mình về người khác như thể nhận thức này là đặc tính rõ ràng của họ - một hiện tượng mà chúng ta gọi là hiện thực hóa cảm tính – thay vì xem chúng như sự kết hợp của các hành động của họ và các khái niệm trong bộ não chúng ta.

Khi một người nào đó bị xét xử về tội ác mà họ gây ra, với cái giá phải trả là sự tự do và mạng sống của họ, có thể sẽ tồn tại một hố sâu giữa vẻ bề ngoài và thực tại. Từ sâu bên trong, chúng ta đều biết điều này, nhưng đồng thời chúng ta cũng cực kỳ tự tin rằng chúng ta có thể phân biệt được đâu là sự thật, đâu là hư cấu, chính xác hơn những người con người tầm thường khác. Và đây chính là vấn đề trong phòng xử án.

Các bồi thẩm viên và thẩm phán phải chịu trách nhiệm về một nhiệm vụ hầu như bất khả thi: họ phải là những người đọc được suy nghĩ của người khác (mind reader), hoặc nếu bạn thích từ này hơn, thì họ phải là những người phát hiện nói dối (lie detector). Họ phải phát hiện ra liệu một người nào đó có chủ ý gây hại hay không. Theo hệ thống luật pháp, chủ ý là một thứ cũng đơn giản và rõ ràng như cái mũi trên mặt bị cáo. Nhưng trong một bộ não dự đoán, phán xét rằng ai đó đang hành động có chủ ý luôn luôn chỉ là một suy đoán mà bạn kiến tạo nên dựa trên hành động của bị cáo, chứ không phải một thứ mà bạn có thể phát hiện được; cũng như với cảm xúc, không có bất kỳ tiêu chuẩn nào mang tính khách quan và không phụ thuộc vào người nhận thức để phát hiện ra chủ ý. Nghiên cứu tâm lý học trong bảy mươi năm đã xác nhận rằng những phán xét như thế này chỉ là các suy luận mang tính tinh thần, nghĩa là, các suy đoán. Thậm chí nếu các bằng chứng DNA chứng minh bị cáo có liên quan đến hiện trường vụ án, nó cũng không thể xác định được rằng liệu anh ta có chủ ý phạm tội hay không.

Việc các thẩm phán và các bồi thẩm viên suy luận ra chủ ý thường dựa trên niềm tin, khuôn mẫu và trạng thái cơ thể của chính họ. Đây là một ví dụ cho việc này. Các đối tượng thí nghiệm xem một đoạn phim về về những người biểu tình bị cảnh sát giải tán. Người ta nói với họ rằng những người biểu tình này là những nhà hoạt động pro-life* đang biểu tình phản đối một phòng khám phá thai (*pro-life: những người chống phá thai nhân danh sự sống, ngược với họ là pro-choice: những người ủng hộ phá thai vì tin đó là lựa chọn tự do của người mang thai). Những người thuộc đảng Dân chủ tự do, thường là pro-choice, suy luận rằng những người pro-life đang biểu tình kia có mục đích bạo lực, trong khi những đối tượng thí nghiệm thuộc đảng bảo thủ thì nghĩ rằng họ có mục đích ôn hòa. Các nhà thí nghiệm cũng đưa cùng đoạn phim này cho nhóm đối tượng thí nghiệm thứ hai xem, và nói rằng những người biểu tình này là những nhà hoạt động xã hội vì quyền lợi của người đồng tính, họ đang phản đối chính sách Đừng Hỏi – Đừng Nói của quân đội. Lần này, những người thuộc đảng Dân chủ tự do, những người thường ủng hộ quyền lợi của người đồng tính, cho rằng những người biểu tình có mục đích ôn hòa, trong khi những người bảo thủ thì cho rằng họ có mục đích bạo lực.

Giờ hãy tưởng tượng rằng đoạn phim này được dùng như một bằng chứng trong phiên tòa. Tất cả các bồi thẩm viên đều xem cùng những cảnh phim, những hành động y như nhau trên màn hình, nhưng thông qua việc hiện thực hóa cảm tính, thứ duy nhất mà họ tạo ra ở đây là các nhận thức, chứ không phải sự thật, và chúng được kiến tạo dựa trên niềm tin của chính họ, và việc này hoàn toàn nằm ngoài nhận thức của họ. Mấu chốt ở đây là sự thiên vị này không được trưng bày công khai, chúng không được quảng cáo trên các tấm pa-nô sáng trưng quanh cổ của các bồi thẩm viên, và tất cả chúng ta đều có lỗi, bởi vì bộ não được thiết lập để chúng ta nhìn thấy thứ mà mình tin, và thường thì điều này xảy ra bên ngoài nhận thức của mọi người.

Hiện thực hóa cảm tính làm tan biến lý tưởng về một bồi thẩm viên công bằng. Bạn muốn tăng khả năng kết án trong một phiên tòa mưu sát? Hãy cho bồi thẩm đoán xem một số bức ảnh bằng chứng ghê rợn. Khiến ngân sách cơ thể họ mất cân bằng và họ sẽ đổ lỗi cảm tính khó chịu của họ cho bị cáo: “Tôi cảm thấy tồi tệ, do đó, hẳn là bạn đã làm điều gì đó sai trái. Bạn là người xấu.” Hoặc cho các thành viên trong gia đình người bị hại mô tả về việc tội ác này đã tổn thương họ như thế nào, kỹ thuật này được gọi là bản khai tác động đến nạn nhân (victim impact statement), và bồi thẩm đoán sẽ có xu hướng đề xuất những hình phạt nặng hơn. Bạn có thể tăng cường sự ảnh hưởng cảm xúc của bản khai về tác động đến nạn nhân bằng cách thu video một cách chuyên nghiệp, thêm nhạc và lời tường thuật như một bộ phim kịch tính, và thế là bạn đã có được một kiệt tác làm rung động bồi thẩm đoàn.

Hiện thực hóa cảm tính cũng đan xen với luật pháp bên ngoài phòng xử án. Hãy tưởng tượng bạn đang tận hưởng một buổi tối yên tĩnh ở nhà thì đột nhiên bạn nghe thấy tiếng đập lớn bên ngoài. Bạn nhìn ra cửa sổ và thấy một người đàn ông Mỹ gốc Phi đang cố gắng mở cửa một ngôi nhà gần đó. Là một công dân nghiêm túc, bạn gọi 911, và cảnh sát đến và bắt giữ hung thủ. Xin chúc mừng, bạn vừa kể về vụ bắt giữ giáo sư Harvard Henry Louis Gates, Jr., như vụ việc đã xảy ra vào ngày 16 tháng 7 năm 2009. Gates đã cố gắng mở cửa trước của nhà riêng của mình, cánh cửa đã bị kẹt trong khi ông đang đi du lịch. Nhân chứng ngoài đời trong vụ việc này đã có một cảm xúc mang tính cảm tính, giả định dựa trên các khái niệm của cô ấy về tội phạm và màu da, và đã suy luận tinh thần rằng người đàn ông đang ở ngoài cửa sổ kia đang có chủ ý phạm tội.

Hiện thực hóa cảm tính cũng đã khai sinh ra bộ luật gây tranh cải ở Florida “giữ vững quan điểm của bạn”. Bộ luật này cho phép sử dụng vũ lực chết người để tự vệ nếu bạn tin tưởng một cách hợp lý rằng mình sắp có nguy cơ tử vong hoặc tổn thương cơ thể nặng nề. Một vụ án có thật là chất xúc tác để tạo ra bộ luật này, nhưng không phải theo cách mà bạn nghĩ. Đây là cách câu chuyện thường được kể: Vào năm 2004, một cặp vợ chồng già đang ngủ trong căn nhà trên xe mooc của họ ở Florida. Một kẻ đột nhập đã cố gắng cạy cửa, vì vậy người chồng, James Workman, đã lấy súng và bắn anh ta. Bây giờ đây là câu chuyện hậu trường bi thảm có thật: Căn nhà trên xe mooc của Workman đang ở trong một khu vực bị bão tàn phá và người đàn ông mà anh ta bắn là một nhân viên của Cơ quan Quản lý Khẩn cấp Liên bang (FEMA). Nạn nhân, Rodney Cox, là người Mỹ gốc Phi; Workman là người da trắng. Workman, khả năng lớn là đã chịu ảnh hưởng của hiện thực hóa cảm tính, cho rằng rằng Cox có ý làm hại anh ta và thế là anh ta đã nổ súng vào một người đàn ông vô tội. Tuy nhiên, câu chuyện không chính xác đầu tiên đã trở thành sự biện minh chính yếu cho bộ luật của Florida.

Trớ trêu thay, câu chuyện về sự xuất hiện của bộ luật này lại là bằng chứng mạnh mẽ để chống lại giá trị của chúng. Hoàn toàn không thể xác định được liệu một nỗi sợ hãi có hợp lý hay không, khi một người đang sống trong một xã hội mà ở đó có rất nhiều định kiến phân biệt chủng tộc và việc hiện thực hóa cảm tính đã làm thay đổi cách mọi người nhìn nhau, theo đúng nghĩa đen. Toàn bộ các lý luận để lý giải cho bộ luật “giữ vững quan điểm” đều đến từ hiện thực hóa cảm tính.

Nếu bộ luật giữ vững quan điểm không làm bạn sợ vãi ra, thì hãy nghĩ về tác động của hiện thực hóa cảm tính đối với những người có thể bí mật mang theo vũ khí một cách hợp pháp. Hiện thực hóa cảm tính có một tác động mà chúng ta không thể chối cãi được đối với nhận thức của con người về các mối đe dọa; do đó, nó gần như đảm bảo cho việc những người vô tội sẽ có thể bị bắn một cách tình cờ. Đơn giản là: bạn dự đoán một mối đe dọa, những thông tin cảm giác đầu vào từ thế giới bên ngoài thể hiện điều ngược lại, nhưng sau đó, mạng lưới kiểm soát của bạn giảm thiểu lỗi dự đoán để tiếp tục duy trì suy đoán về mối đe dọa. Bùm, bạn bắn một vài công dân vô tội. Bộ não của con người được xây dựng dựa trên thứ ảo giác này, dùng cùng một quy trình sản xuất với việc tạo ra các cơn mơ mộng và trí tưởng tượng.

Bây giờ tôi sẽ không lấn sâu vào cuộc tranh luận mang tính quốc gia về súng ống, nhưng từ góc độ khoa học thuần túy, hãy xem xét điều này. Những người đã sáng lập nên nước Mỹ hẳn phải có lý do chính đáng để bảo vệ “quyền tàng trữ và mang Vũ khí của người dân” trong Tu chính án thứ hai của Hiến pháp, nhưng họ không phải là nhà khoa học thần kinh. Vào năm 1789, không có người nào biết rằng bộ não con người kiến tạo nên mọi nhận thức và nó được điều khiển bởi các dự đoán trực quan. Hiện tại, hơn 60% người dân Mỹ tin rằng tội phạm đang gia tăng (mặc dù mức độ tội phạm hiện nay là thấp so với lịch sử) và họ cũng tin rằng sở hữu súng sẽ giúp họ an toàn hơn. Thông qua việc hiện thực hóa cảm tính, những niềm tin này đã khiến cho mọi người thực sự nhìn thấy một mối đe dọa chết người ở những nơi vốn không có và khiến họ có hành động phù hợp với sự suy đoán của họ. Bây giờ chúng ta đã biết chắc chắn rằng các giác quan của chúng ta không nhận thức hiện tại một cách khách quan, lẽ nào kiến thức quan trọng này không thể ảnh hưởng đến luật pháp của chúng ta?

Theo nguyên tắc chung, hệ thống pháp luật gặp rất nhiều khó khăn trong việc nắm bắt vô số bằng chứng khoa học cho thấy các giác quan của chúng ta không cung cấp khả năng đọc hiểu thế giới theo nghĩa đen. Trong hàng trăm năm, lời khai của các nhân chứng được xem là một trong những bằng chứng đáng tin cậy nhất. Khi một nhân chứng nói rằng, “tôi đã nhìn thấy anh ta làm việc đó” hoặc “tôi nghe thấy cô ấy đã nói như thế”, những tuyên bố này được xem như các sự thật. Luật pháp cũng xem các ký ức như thể chúng đi vào bộ não một cách nguyên bản, được lưu trữ toàn bộ, sau đó được phát lại như một bộ phim.

Cũng như các bồi thẩm viên không thể vén bức màn niềm tin của chính họ ra để nhìn trực tiếp vào phiên bản thực tại không tì vết, các nhân chứng cũng không báo cáo một tập hợp các sự thật, cái họ báo cáo là mô tả về các nhận thức của chính họ. Một người nào đó có thể nhìn thấy gương mặt chiến thắng của Serena William ở đầu chương 3, sau đó, đứng trên bục nhân chứng, họ đặt tay lên quyển Kinh Thánh và thề rằng họ đã nhìn thấy Williams la hét trong hoảng loạn. Bất kỳ lời nói nào mà nhân chứng nói đều dựa trên hồi ức được kiến tạo tại thời điểm sự việc xảy ra thông qua việc sử dụng những kinh nghiệm trong quá khứ mà chính họ đã kiến tạo nên.

Nhà tâm lý học Daniel L Schacter, một trong những chuyên gia về trí nhớ trên thế giới, đã từng kể câu chuyện về một vụ cưỡng hiếp tàn bạo xảy ra ở Úc vào năm 1975. Nạn nhân nói với cảnh sát rằng cô đã nhìn rõ mặt kẻ tấn công, xác định anh ta là Donald Thomson, một nhà khoa học. Cảnh sát đã bắt Thomson vào ngày hôm sau dựa trên bằng chứng nhân chứng này, nhưng Thomson có chứng cứ ngoại phạm rõ ràng: anh ta đang được phỏng vấn trên truyền hình vào thời điểm xảy ra vụ cưỡng hiếp. Hóa ra TV của nạn nhân đã bật khi kẻ đột nhập đột nhập vào nhà cô và nó đang phát cuộc phỏng vấn của Thomson, điều trớ trêu ở đây là cuộc phỏng vấn này là về nghiên cứu của Thomson về sự biến dạng ký ức. Bằng cách nào đó, người phụ nữ tội nghiệp này trong cơn đau đớn đã kết hợp gương mặt của Thomson vào danh tính của kẻ đã tấn công cô ấy.

Hầu hết những người đàn ông bị buộc tội sai không may mắn như vậy. Các bồi thẩm viên xem trọng lời khai của nhân chứng, họ chấp nhận các nhận dạng nhầm lẫn cũng nhiều như các nhận dạng đúng, miễn là người nhân chứng tỏ ra tự tin. Trong một nghiên cứu về những vụ án bị đảo ngược bởi bằng chứng DNA, 70% bị can bị kết án chỉ dựa trên lời khai của nhân chứng.

Lời khai của nhân chứng có lẽ là thứ bằng chứng ít đáng tin nhất mà chúng ta có. Các kí ức không giống như những bức ảnh – chúng chỉ là sự mô phỏng được tạo ra bởi những mạng lưới cốt lõi, những mạng lưới kiến tạo nên các trải nghiệm và nhận thức về cảm xúc. Một kí ức trong bộ não của bạn được thể hiện dưới dạng những mẩu nhỏ, những khuôn mẫn của các neuron bị kích hoạt, và “gợi nhớ” nghĩa là tầng tầng lớp lớp các dự đoán đang tái kiến tạo sự kiện. Do đó, ký ức của bạn rất dễ bị tái định hình bởi hoàn cảnh hiện tại của bạn, chẳng hạn như khi cơ thể bạn đang hoạt động hết công suất trong khi bạn đứng trên bục nhân chứng, hoặc nếu bạn đang bị một luật sư bào chữa kiên trì quấy rầy.

Luật pháp rất chậm chạp trong việc chấp nhận rằng các kí ức là được kiến tạo nên, nhưng tình hình đang chậm rãi thay đổi. Các Tòa án Tối cao của New Jersey, Oregon và Massachusetts đang dẫn đầu trong vấn đề này. Các bồi thẩm viên của họ hiện đã được hướng dẫn từng bước một để hiểu đượng rằng kí ức của nhân chứng có thể sai như thế nào, dựa trên các nghiên cứu tâm lý học kéo dài hàng năm trời. Họ đã biết được cách thức mà các kí ức được kiến tạo nên, và các niềm tin có thể khiến chúng bị biến dạng và tạo ra ảo giác như thế nào, những thông tin từ luật sư và cảnh sát có thể khiến họ trở nên thiên vị ra sao, sự tự tin không liên quan đến tính chính xác, stress có thể phá hoại kí ức, và lời khai của nhân chứng là một yếu tố quan trọng trong việc kết tội sai hơn ba phần tư số người – họ đã được minh oan bằng bằng chứng DNA cho những tội ác mà họ không phạm phải.

Không may là, không có bất kỳ hướng dẫn nào để giải thích cho các bồi thẩm viên hiểu biểu hiện cảm xúc là gì, suy luận tinh thần là gì, hoặc cách chúng được cấu tạo.

Hình tượng một vị thẩm phán không tư vị - người đưa ra các quyết định vô cảm theo đúng quy định của pháp luật, là một nguyên mẫu trong nhiều xã hội. Luật pháp mong muốn các thẩm phán có tính trung lập, vì cảm xúc có thể sẽ cản trở sự công bằng trong các phán quyết. Cố thẩm phán Tòa án Tối cao Hoa Kỳ Antonin Scalia đã viết, “Các thẩm phán giỏi tự hào về tính lý trí của các phán quyết của họ và họ cũng tự hào vì đã gạt bỏ các khuynh hướng cá nhân của họ, đặc biệt là cảm xúc của họ.”

Theo một cách nào đó, giải pháp thuần lý trí trong các phán quyết luật pháp nghe có vẻ rất hấp dẫn và thậm chí là rất cao thượng, nhưng như chúng ta đã biết, bộ não không được thiết lập để tác rời cảm xúc và lý trí. Chúng ta không cần thiết phải cố gắng tạo ra lỗ hổng trong vấn đề này; vì vốn dĩ nó đã có sẵn rất nhiều lổ hổng rồi.

Hãy bắt đầu bằng cách nói về ý tưởng về một người thẩm phán không tư vị, có thể hiểu là người này “không có cảm tính” (thay vì “không có cảm xúc”). Ý tưởng này bất khả thi về mặt sinh học, trừ phi người này bị tổn thương bộ não. Như chúng ta đã nói trong chương 4, không có bất kỳ quyết định nào có thể tách rời khỏi cảm tính chừng nào hệ thống mạch thần kinh ngân sách cơ thể to mồm kia vẫn còn đang dẫn dắt các dự đoán xuyên suốt bộ não.

Những quyết định không bị ảnh hưởng bởi cảm tính vốn dĩ đã là một câu chuyện cổ tích rồi. Robert Jackson, một cựu thẩm phán khác của Tòa án Tối cao, đã mô tả “các thẩm phán không tư vị” là “những sinh vật thần thoại” như “Ông già Noel hoặc Chú Sam hoặc những chú thỏ Phục sinh”. Các bằng chứng khoa học đã cho thấy rằng ông đã nói khá đúng. Bạn có còn nhớ rằng, trong chương 4, sự công bằng của các thẩm phán đã dễ dàng bị ảnh hưởng như thế nào khi tòa ân xá diễn ra trước giờ ăn trưa, khi họ đổ lỗi cảm tính khó chịu của mình cho người tù nhân thay vì cơn đói? Trong một loạt thí nghiệm khác, hơn 1.800 thẩm phán tiểu bang và liên bang từ Hoa Kỳ và Canada đã được giao các tình huống về các vụ án dân sự và hình sự, và họ được hỏi xem phán quyết của họ sẽ như thế nào. Một số tình huống có các chi tiết giống hệt nhau ngoại trừ việc bị cáo được miêu tả là dễ mến hơn hoặc không dễ mến. Các nhà thí nghiệm nhận thấy rằng các thẩm phán có xu hướng ra phán quyết nghiêng về những người dễ mến hoặc những người đáng thương hơn.

Ngay cả Tòa Án Tối Cao nước Mỹ cũng không thể tránh khỏi việc bị ảnh hưởng bởi cảm xúc. Một nhóm các nhà khoa học chính trị đã kiểm tra 8 triệu từ mà các thành viên của Tòa án đã nói trong các cuộc tranh luận và trong quá trình thẩm vấn của họ, trong hơn ba mươi năm. Họ phát hiện ra rằng khi các thẩm phán dùng nhiều "ngôn từ khó chịu hơn" với một luật sư, bên đó có nhiều khả năng thua cuộc hơn. Bạn có thể dự đoán người thua cuộc chỉ bằng cách đếm những từ tiêu cực của thẩm phán trong khi thẩm vấn. Không chỉ vậy, bằng cách xem xét hàm ý cảm tính trong lời nói của bồi thẩm đoàn trong khi tranh luận, bạn có thể dự đoán phiếu bầu của họ.

Theo suy nghĩ thông thường, các thẩm phải sẽ phải trải nghiệm các cảm xúc mãnh liệt trong phòng xử án. Làm sao mà họ có thể tránh được? Họ đang nắm tương lai của người khác trong tay họ. Thời gian làm việc của họ chứa đầy những tội ác tày trời và những nạn nhân bị hại bi thảm. Tôi biết điều này có thể gây kiệt quệ như thế nào, vì tôi đã từng trị liệu cho các nạn nhân trong các vụ hãm hiếp và bị làm dụng tình dục khi còn nhỏ, và đôi khi tôi còn làm việc với thủ phạm. Các thẩm phán của phải đối diện với các bị cáo dễ mến hơn người mà họ gây hại, một tình huống chắc chắn là vô cùng khó giải quyết, đặc biệt là trong một phòng xử án đầy những khán giả đang xì xào và các luật sư đang cãi vã ầm ĩ. Và đôi khi, một thẩm phán phải gánh trên vai cảm xúc của cả quốc gia. Cựu Thẩm phán Tòa án Tối cao Hoa Kỳ David Souter đã phải chịu đựng rất nhiều trong khi khi phán quyết vụ Bush v.Gore đến mức ông ấy đã bật khóc bởi vì những cân nhắc phải thực hiện (cùng với một nửa nước Mỹ). Tất cả nỗ lực tinh thần này đều đánh thuế vào ngân sách cơ thể của thẩm phán. Công việc của thẩm phán là một trong những công việc có cảm xúc liên tục và mãnh liệt nhất dưới câu chuyện hư cấu về sự  trầm tĩnh.

Tuy nhiên, luật pháp vẫn tiếp tục duy trì hình ảnh hư cấu về một vị thẩm phán không tư vị, thậm chí là ở những mức độ cao nhất. Khi Thẩm phán Tòa án Tối cao Elena Kagan, với tư cách là người được đề cử vào năm 2010, được hỏi liệu có bao giờ việc sử dụng cảm xúc có thể giúp phán quyết một vụ án hay không, bà ấy đã trả lời phủ định: “Tất cả đều dựa vào luật pháp.” Thẩm phán Sonia Sotomayor cũng vấp phải sự phản đối trong các phiên điều trần của cô ấy, vì một số thượng nghị sĩ lo ngại rằng cảm xúc và sự đồng cảm sẽ cản trở khả năng phán quyết công bằng của cô ấy. Phần lớn điều trần của cô ấy về vấn đề này là, các thẩm phán đều có cảm xúc, nhưng họ không nên phán quyết dựa trên cảm xúc.

Tuy nhiên, có nhiều bằng chứng rõ ràng cho việc các thẩm phán không hoàn toàn vô cảm trong các phán quyết của họ. Câu hỏi tiếp theo là: họ có nên vô cảm hay không? Liệu chỉ dùng lý trí để phán quyết thì có phải là một quyết định sáng suốt hay không? Hãy tưởng tượng một người vô cùng điềm tĩnh và lạnh lùng đang cân nhắc thiệt hơn về việc một người nào đó có nên chết đi hay không. Không hề mảy may có chút cảm xúc nào. Như Hannibal Lecter trong The Silence of the Lambs, hay Anton Chigurh trong No Country for Old Men. Điều này khiến tôi cảm thấy hơi khó chịu, nhưng kiểu ra quyết định một cách phi cảm xúc này, về cơ bản, chính là điều mà luật pháp quy định trong phần tuyên án của các vụ án hình sự. Thay vì cứ giả vờ như thể cảm xúc không tồn tại, thì chúng ta nên dùng cảm xúc một cách hiệu quả. Như Thẩm phán Tòa án Tối cao Hoa Kỳ William Brennan đã từng bày tỏ, “Do đó, sự nhạy cảm với các phản ứng trực quan và cảm xúc mãnh liệt, cũng như ý thức về phạm vi trải nghiệm của con người không chỉ là một điều tất yếu mà còn là một phần đáng được mong đợi trong quá trình xét xử, một thứ mà chúng ta cần nuôi dưỡng thay vì cứ lo ngại về nó." Chìa khóa của vấn đề ở đây là khả năng nhận diện cảm xúc chi tiết: sở hữu một loạt các khái niệm (về cảm xúc, thể chất hoặc các khái niệm khác) để hiểu được sự tấn công của các cảm giác đến từ cơ thể - thứ vốn là mối nguy hiểm đe dọa công việc này.

Ví dụ, hãy xem xét tình huống khi một thẩm phán đối mặt với một bị cáo như James Holmes, người đã giết chết 12 người trong rạp chiếu phim và làm bị thường hơn 70 người khác trong buổi chiếu phim Batman ở Aurora, Colorado năm 2012. Thẩm phán hẳn đã kiến tạo cảm giác giận dữ một cách hợp lý, nhưng chỉ mỗi cảm giác đó thôi thì không phải là vấn đề; nhưng cơn giận dữ có thể khiến thẩm phán trừng phạt bị cáo nặng hơn – dùng hình phạt như một loại quả báo, điều này sẽ đe dọa đến vấn đề đạo đức nền tảng của các phiên tòa. Một số học giả luật phát cho rằng, để cân bằng quan điểm của mình, thẩm phán có thể tự tạo một cảm giác thông cảm cho bị cáo – có thể anh ta bị điên hoặc anh ta là nạn nhân của chính mình theo một cách nào đó. Giận dữ là một dạng của sự thiếu hiểu biết; trong trường hợp này, là thiếu hiểu biết về góc nhìn của bị cáo. Holmes rõ ràng đang vật lộn với một chứng bệnh tâm thần nghiêm trọng trong hàng năm trời. Anh ta đã cố tự sát lần đầu tiên ở tuổi 11, và cố tự sát thêm nhiều lần nữa trong tù. Thông cảm cho một kẻ đã nổ súng và những người vô tội ở rạp chiếu phim là một chuyện vô cùng khó khăn. Ngay cả việc nhớ rằng bị cáo cũng là một con người, bất kể tội ác mà hắn gây ra kinh khủng và nghiêm trọng đến mức nào, đôi khi cũng là một việc khó khăn, nhưng đây là lúc mà sự thông cảm đóng vai trò quan trọng nhất. Nó có thể khiến thẩm phán không đi quá xa trong phán quyết hình phạt dành cho bị cáo, và nó cũng giúp đảm bảo tính đạo đức trong việc ra quyết định hình sự và xét xử công minh. Đây là cách mà khả năng nhận diện chi tiết cảm xúc giúp chúng ta sử dụng cảm xúc một cách thông thái hơn trong phòng xử án.

Khi nói đến vấn đề này, những cảm xúc hữu ích nhất đối với thẩm phán phụ thuộc vào mục tiêu của thẩm phán trong quá trình xét xử. Ví dụ, mục tiêu của sự trừng phạt là gì? Là quả báo? Là để răn đe để tránh nguy hại về sau? Là để cải tạo? Điều này phụ thuộc vào lý thuyết về tâm trí con người trong luật pháp. Dù mục đích là gì, hình phạt phải vừa đảm bảo cho tính nhân đạo bị cáo, vừa tôn trọng tính nhân đạo cho nạn nhân, ngay cả khi bị cáo thực hiện một hành vi không thể diễn tả nổi. Nếu không như vậy thì chính hệ thống pháp luật sẽ lâm vào tình thế nguy hiểm.

Tại sao bạn có thể kiện một người khi người đó làm bạn đau chân, nhưng không thể kiện họ khi họ làm bạn đau lòng? Trong luật pháp, những tổn thương về mặt tình cảm thì ít nghiêm trọng hơn tổn thương về mặt thể chất, và chúng không đáng bị trừng phạt. Hãy nghĩ xem điều này nghe trớ trêu đến mức nào. Luật pháp bảo vệ sự toàn vẹn của cơ thể bạn nhưng không bảo vệ sự toàn vẹn của tâm trí bạn, mặc dù cơ thể bạn chỉ là một vật chứa cho bộ phận tạo nên con người bạn - bộ não. Sự tổn hại về tình cảm không được coi là có thật trừ khi đi kèm với tổn hại về thể chất. Tâm trí và cơ thể là tách biệt với nhau. (Tất cả chúng ta hãy cùng nâng ly vì René Descartes.)

Nếu có một điều mà bạn nên nhớ trong cuốn sách này, thì đó là, ranh giới giữa tinh thần và vật chất là một ranh giới lủng lỗ chỗ. Ở chương 10, tôi đã giải thích một chút về những cách mà các tổn thương tinh thần đến từ bệnh stress kinh niên, lạm dụng tinh thần từ cha mẹ và bị cha mẹ bỏ rơi, và những căn bệnh tâm lý khác tạo nên các căn bệnh và tổn thương về mặt thể chất. Và chúng ta đã thấy cách mà stress và các cytokines tiền viêm tạo ra vô số các vấn đề sức khỏe, bao gồm suy nhược não bộ và tăng khả năng mắc bệnh ung thư, bệnh tim, tiểu đường, đột quỵ, trầm cảm và một loạt bệnh khác.

Nhưng đó không phải là tất cả. Các tổn thương về mặt tinh thần có thể rút ngắn cuộc sống của bạn. Bên trong cơ thể bạn, bạn có một số gói vật liệu di truyền nhỏ nằm trên các đầu của nhiễm sắc thể giống như những chiếc mũ bảo vệ. Chúng được gọi là telomere. Tất cả các sinh vật đều có telomere — con người, ruồi giấm, amip, thậm chí cả cây cối trong vườn của bạn. Mỗi khi một trong các tế bào của bạn phân chia, các telomere của nó sẽ ngắn đi một chút (mặc dù chúng có thể được sửa chữa bởi một loại enzyme gọi là telomerase). Vì vậy, kích thước của chúng từ từ giảm dần, và đến một lúc nào đó, khi chúng quá ngắn, bạn sẽ chết. Đây là quá trình lão hóa bình thường. Nhưng hãy đoán xem điều gì khác khiến các telomere của bạn nhỏ lại? Chính là stress. Trẻ em gặp nghịch cảnh khi còn nhỏ có telomere ngắn hơn. Nói cách khác, tổn thương về mặt tinh thần có thể gây tổn hại nghiêm trọng hơn, kéo dài hơn và gây ra nhiều tác hại trong tương lai hơn là bị đau chân. Điều này có nghĩa là, hệ thống pháp luật có thể đang sai lầm khi hiểu và đánh giá mức độ tổn thương lâu dài đến từ việc bị tổn thương tinh thần.

Một ví dụ khác, hãy xem xét chứng đau kinh niên. Luật coi đau kinh niên nói chung là "cảm xúc" vì ở đây, không có tổn thương mô nào có thể quan sát được. Trong những trường hợp này, luật pháp thường kết luận rằng chứng bệnh này không đủ bằng chứng thực tế để được đền bù xứng đáng. Những người bị đau kinh niên thường được chẩn đoán là mắc bệnh tâm thần, và thậm chí còn hơn thế nữa nếu họ muốn phẫu thuật xâm lấn để cố gắng giảm bớt nỗi đau “ảo tưởng” của họ. Các công ty bảo hiểm y tế từ chối điều trị vì cơn đau kinh niên được coi là tâm lý, không phải thể chất. Người mắc bệnh không thể làm việc, nhưng họ không được bồi thường. Nhưng như chúng ta đã thấy ở chương trước, đau kinh niên có khả năng là một căn bệnh về não đến từ những dự đoán sai. Căn bệnh này là có thật. Thứ đang thiếu sót trong luật pháp chính là cách não bộ não hoạt động dựa trên các dự đoán và mô phỏng, và chứng đau kinh niên là một tổn thương ở một mức độ khác, chứ không phải một loại hoàn toàn khác.

Sau khi đưa ra nhận định này, tôi phải chỉ ra rằng quan điểm về tác hại tinh thần trong luật pháp hoàn toàn không nhất quán và thậm chí là rất trớ trêu, nếu bạn xem xét các tiêu chuẩn quốc tế về tra tấn. Công ước Geneva cấm gây tổn hại tâm lý cho các tù nhân chiến tranh và Hiến pháp Hoa Kỳ cũng cấm “hình phạt tàn nhẫn và bất thường”. Vì vậy, việc chính phủ tra tấn tâm lý một tù nhân là bất hợp pháp, nhưng lại hoàn toàn hợp pháp khi biệt giam một tù nhân trong thời gian dài, mặc dù sự căng thẳng của việc biệt giam có thể rút ngắn các telomere của tù nhân và do đó, rút ngắn cuộc sống của anh ta.

Việc một kẻ bắt nạt ở trường trung học lăng mạ, hành hạ và làm nhục con bạn cũng là điều hoàn toàn hợp pháp mặc dù điều này sẽ làm rút ngắn các telomere và do đó, có thể rút ngắn tuổi thọ của chúng. Khi một nhóm nữ sinh trung học cố tình cô lập một nữ sinh khác, họ đang hành động có chủ đích và động cơ cố ý gây tổn thương, tuy nhiên hiếm có trường hợp nào bị xem là vi phạm pháp luật. Trong một vụ án được công bố rộng rãi, Phoebe Prince đã treo cổ tự sát vào năm 2012 sau hàng tháng trời bị bạo lực lời nói và đe dọa về mặt thể chất. Sáu thanh thiếu niên đã bị truy tố hình sự về tội quấy rối, theo dõi, hành hung và hành vi xâm phạm các quyền công dân khác: họ bắt nạt cô ấy và rồi, họ lại đăng những bình luận thô thiển lên trang Facebook tưởng niệm cô. Vụ việc này đã khiến Massachusetts thông qua luật chống bắt nạt. Những luật này là một sự khởi đầu mới, nhưng luật cũng chỉ trừng phạt những trường hợp nghiêm trọng nhất. Vậy thì làm thế nào để tạo ra một bộ luật thực sự áp dụng cho học đường?

Những kẻ bắt nạt cố ý tạo ra thương tổn (suffering), nhưng chúng có cố ý gây hại (harm) hay không? Chúng ta không thể biết chắc chắn, nhưng trong đa số trường hợp, tôi nghi ngờ câu trả lời là không. Hầu hết trẻ em đều không ý thức được nỗi đau khổ về tinh thần mà chúng gây ra có thể chuyển thành bệnh tật về thể chất, khiến mô não bị suy nhược, giảm chỉ số thông minh và rút ngắn các telomere. Chúng ta nói rằng, trẻ con là trẻ con thôi. Nhưng bắt nạt là một đại dịch quốc gia. Trong một nghiên cứu, hơn 50% trẻ em trên khắp đất nước nói rằng chúng bị bắt nạt bằng lời nói hoặc bị cô lập ở trường, hoặc chúng đã tham gia vào việc bắt nạt một đứa trẻ khác, ít nhất là trong vòng hai tháng. Hơn 20% nói rằng chúng là nạn nhân hoặc hung thủ trong một vụ bắt nạt, và hơn 13% nói rằng chúng có liên quan đến việc bắt nạt trên mạng. Bắt nạt là một mối nguy hiểm nghiêm trọng đối với tuổi thơ, với các hậu quả có thể kéo dài suốt đời, vào thời điểm xuất bản của cuốn sách này, Viện Y học Hoa Kỳ và Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia đang đưa ra một báo cáo toàn diện về các phân nhánh sinh học và tâm lý của vấn đề bắt nạt học đường.

Nếu bạn đang phải chịu đựng tổn thương tinh thần, dù nguyên nhân là do bị bắt nạt hay nguyên nhân khác, thì liệu tổn thương của bạn có được tính là tổn hại (harm) hay không, và hung thủ có nên bị trừng phạt hay không? Một vụ án pháp lý gần đây đã có hàm ý rằng câu trả lời là “có”. Một công ty ở Atlanta đã yêu cầu lấy mẫu DNA từ các nhân viên trong công ty bởi vì có ai đó đã làm ô nhiễm kho hàng bằng phân. Lấy thông tin gene của người khác mà không được sự đồng ý của họ là bất hợp pháp (việc này đã vi phạm Đạo luật không phân biệt đối xử thông tin di truyền), nhưng vụ kiện này được xử thắng phần lớn là bởi vì cảm xúc. Hai nguyên đơn được đền bù khoảng $250,000 cho mỗi người cho việc họ cảm thấy bị sỉ nhục và bắt nạt, cộng thêm một khoảng đáng kể trị giá $1,75 triệu tiền phạt cho “sự căng thẳng về cảm xúc và tổn thương tinh thần”. Số tiền đền bù lớn này không phải đến từ sự tổn thương hiện tại của nguyên đơn, mà đến từ những tổn thương tinh thần mà họ có thể sẽ phải chịu trong tương lai. Nói cho cùng, thông tin về sức khỏe cá nhân của họ có thể bị sử dụng bất cứ lúc nào để chống lại họ trong suốt quãng đời còn lại của họ. Nỗi sợ hãi về tương lai này dễ dàng được các bồi thẩm viên mô phỏng, và do đó, họ thông cảm với nó. Nhưng trường hợp của chứng đau kinh niên thì khó khăn hơn: làm sao mà bạn có thể nhìn thấy một thứ vô hình được? Chẳng thể nhìn thấy bất kỳ tổn thương nào, và không có gì giúp não bộ tạo ra mô phỏng, vì thế não bộ cũng không thể tạo ra sự thông cảm cho nạn nhân, và kết quả là không tạo ra bất kỳ sự đền bù thiệt hại nào.

Hệ thống pháp lý gặp nhiều khó khăn trong việc xử lý các tổn thương tinh thần vì những lý do hoàn toàn thực tế. Làm sao có thể đo lường các tổn thương tinh thần một cách khách quan nếu cảm xúc không có tinh chất hoặc các dấu vân tay? Ngoài ra, tổn hại về thể chất như gãy chân thường dễ dự đoán hơn về mặt kinh tế so với tổn thương về mặt tinh thần – thứ đa dạng hơn rất nhiều. Và làm thế nào để bạn phân biệt nỗi đau cảm xúc bình thường với sự tổn hại lâu dài?

Có lẽ, câu hỏi quan trọng nhất ở đây là: loại tổn thương nào nên được xem như tổn hại? Ai đáng được thông cảm, và do đó, ai đáng được luật pháp bảo vệ? Nếu bạn vô ý hay cố ý làm gẫy tay tôi thì là bạn nợ tôi. Nhưng nếu bạn vô ý hay cố ý làm tôi đau lòng, thì bạn không nợ tôi, thậm chí nếu chúng ta đã thân thiết với nhau trong một thời gian dài, chúng ta điều chỉnh ngân sách cơ thể nhau, và việc chia tay khiến tôi phải trải qua một quá trình thể chất cũng tra tấn khủng khiếp như quá trình cai nghiện. Bạn không thể kiện người khác vì đã làm bạn đau lòng, dù bạn có muốn kiện họ đến mức nào chăng nữa (hoặc dù họ có xứng đáng bị kiện đến mức nào chăng nữa). Luật pháp dùng để tạo ra và củng cố thực tại xã hội. Các tuyên bố đồng cảm với nỗi đau là các tuyên bố về quyền của ai mới là quan trọng… và nhân đạo đối với ai với là quan trọng.

Như bạn đã thấy, luật pháp hình thành và thể hiện quan điểm cổ điển về cảm xúc và quan điểm về bản chất con người. Câu chuyện về chủ nghĩa tinh chất là một câu chuyện hư cấu mà bộ não và sự kết nối của nó với cơ thể không hề coi trọng. DO đó, dựa trên quan điểm khoa học ngày nay về bộ não, tôi sẽ đưa ra một số khuyến nghị cho các bồi thẩm, thẩm phán và hệ thống pháp luật nói chung. Tôi không phải là một học giả luật pháp, và tôi biết rằng các vấn đề của khoa học không giống với các vấn đề trong luật pháp. Tôi cũng biết rằng, suy đoán về các mâu thuẫn cơ bản của sự nhân đạo là một chuyện, nhưng thiết lập tiền lệ pháp lý về chúng lại là một chuyện khác. Nhưng điều quan trọng là phải xây được cầu nối giữa các lĩnh vực này. Khoa học thần kinh và hệ thống luật pháp đã thực sự mất kết nối một cách nghiêm trọng trên các vấn đề cơ bản về bản chất con người. Những chênh lệch này phải được xử lý nếu chúng ta vẫn muốn xem hệ thống pháp luật là một trong những thành tựu ấn tượng nhất về thực tại xã hội của con người, và để luật pháp tiếp tục bảo vệ các quyền bất khả xâm phạm về cuộc sống, tự do và mưu cầu hạnh phúc của con người.

Tôi sẽ bắt đầu bằng cách giáo dục các thẩm phán và bồi thẩm đoàn (và các tác nhân pháp lý khác như luật sư, cảnh sát và sĩ quan tạm tha (người theo dõi những tội phạm được tạm tha trong thời gian thử thách)) khoa học cơ bản về cảm xúc và bộ não dự đoán. Các Tòa án Tối cao New Jersey, Oregon và Massachusetts đang thực hiện các bước đi đúng hướng bằng cách chính thức hướng dẫn các bồi thẩm viên rằng trí nhớ của con người được kiến tạo nên và chúng có thể sai. Chúng ta cần một phương pháp tương tự để giáo dục về các cảm xúc. Để đạt được mục tiêu đó, tôi đề xuất năm mục giảng dạy chính. Bạn có thể gọi nó là một tuyên ngôn khoa học cảm xúc trong hệ thống pháp luật.

Mục giảng dạy đầu tiên trong tuyên ngôn này liên quan đến thứ gọi là biểu hiện cảm xúc. Các cảm xúc không được biểu hiện, chúng cũng không được trưng bày hay tiết lô trên gương mặt, cơ thể hay giọng nói theo bất kỳ một cách khách quan nào, và bất kỳ ai chịu trách nhiệm trong việc xác nhận sự vô tội, có tội hay hình phạt đều phải biết điều này. Bạn không thể nhận ra hoặc phát hiện ra sự giận dữ, buồn bã, hối hận, hay bất kỳ cảm xúc nào từ người khác – bạn chỉ có thể đoán, và một số suy đoán của bạn có nhiều thông tin hơn một số khác. Một phiên tòa công bằng phụ thuộc vào sự đồng bộ giữa người trải nghiệm (bị cáo và nhân chứng) và người nhận thức (bồi thẩm đoàn và thẩm phán), và điều này có thể khó đạt được. Ví dụ, một số bị cáo khá giỏi trong việc sử dụng các cử động phi ngôn ngữ để truyền đạt thông tin về cảm xúc của họ, chẳng hạn như sự hối hận. Một số bồi thẩm viên sẽ đồng bộ hóa các khái niệm của họ với bị cáo tốt hơn những người khác. Điều này có nghĩa là các bồi thẩm viên có thể sẽ cần phải cố gắng hơn để nhận thức cảm xúc trong những tình huống khó khăn, như khi họ bất đồng ý kiến với bị cáo hay với nhân chứng trong vấn đề chính trị hoặc khi người kia thuộc một sắc tộc khác. Bồi thẩm đoàn nên cố gắng đặt mình vào vị trí của người khác để tạo điều kiện thuận lợi cho sự đồng bộ này và nuôi dưỡng sự đồng cảm.

Mục giảng dạy thứ hai là về thực tại. Thị giác, thính giác và các giác quan khác của bạn luôn luôn được tô điểm bởi cảm xúc của bạn. Thậm chí một bằng chứng nghe có vẻ khách quan nhất cũng bị tô điểm bởi việc hiện thực hóa cảm tính. Các bồi thẩm viên và thẩm phán phải được hướng dẫn về các bộ não dự đoán và hiện thực hóa cảm tính, cách mà các cảm xúc của họ sẽ thay đổi thứ mà họ nhìn thấy và nghe thấy trong phòng xử án, theo đúng nghĩa đen. Một ví dụ mà chúng ta có thể dùng trong trường hợp này là đoạn video về những người biểu tình mà chúng ta đã đề cập, khi niềm tin chính trị khiến người ta nhận thức mục đích bạo lực và mục đích hòa bình từ cùng một đoạn video. Các bồi thẩm viên cũng phải hiểu về cách mà hiện thực hóa cảm tính đã tác động đến các nhân chứng. Thậm chí là một câu nói đơn giản như “tôi đã nhìn thấy hắn cầm con dao” cũng là một nhận thức đến từ hiện thực hóa cảm tính. Lời khai của các nhân chứng không chuyển tải được sự thật cứng nhắc và lạnh lùng.

Mục giảng dạy thứ ba là về tính tự chủ. Các sự kiện mà bạn có cảm giác là nó tự động xảy ra không nhất thiết là nằm hoàn toàn ngoài sự kiểm soát của bạn, và chúng cũng không nhất thiết phải mang tính cảm xúc. Bộ não dự đoán của bạn có cùng mức độ kiểm soát khi bạn kiến tạo một cảm xúc hay một suy nghĩ hay một kí ức. Bị cáo trong vụ án mưu sát không phải là một con hải quỳ hình người chịu ảnh hưởng bởi môi trường của anh ta, bị kích thích bởi cơn giận dữ của anh ta để mà hành động hung hãn không thể kiểm soát. Hầu hết các phân mục của sự giận dữ - dù bạn có cảm thấy chúng tự động xảy ra như thế nào – thì chúng cũng không dẫn tới hành vi giết người. Sự tức giận cũng có thể bộc phát một cách có chủ đích trong một thời gian dài, vì thế, nó không hề mang tính tự động. Bạn phải có trách nhiệm nhiều hơn cho hành động của mình, và bạn phải có kiểm soát nhiều hơn, dù là về mặt cảm xúc hay lý trí.

Thứ tư, hãy cẩn thận trước lối biện hộ “bộ não của tôi khiến tôi làm điều đó”. Các bồi thẩm viên và thẩm phán cần phải cẩn thận trước những tuyên bố rằng những vùng não nhất định sẽ trực tiếp dẫn tới hành vi tồi tệ. Đó chỉ là khoa học rác. Mọi bộ não đều khác nhau; sự khác biệt là điều bình thường (hãy nghĩ về sự thoái hóa) và chúng không nhất thiết sẽ tạo ra ý nghĩa gì đó. Các hành vi trái luật không bao giờ được định vị trong một vùng não nhất định. Ở đây tôi không đề cập đến sự phát triển ngoại lai như khối u hoặc các dấu hiệu rõ ràng của sự thoái hóa thần kinh, trong một số trường hợp, chẳng hạn như một số loại bệnh sa sút trí tuệ tiền đình thái dương, loại bệnh có thể khiến người ta khó lòng hành động tuân thủ pháp luật. Mặc dù vậy, nhiều khối u và tổn thương thoái hóa thần kinh không có bất cứ liên quan nào đối với hệ thống pháp luật.

Mục giảng dạy cuối cùng là hãy lưu tâm đến chủ nghĩa tinh chất. Các bồi thẩm viên và thẩm phán cần biết rằng mọi nền văn hóa đều có đầy đủ các phạm trù xã hội như giới tính, chủng tộc, sắc tộc và tôn giáo. Chúng ta không được nhầm lẫn chúng với các phạm trù vật lý, sinh học với các đường phân chia sâu sắc về bản chất. Tương tự, các khuôn mẫu cảm xúc cũng không phải là thứ nên có mặt trong phòng xử án. Phụ nữ không nên bị trừng phạt vì cô ấy đã cảm thấy giận dữ thay vì cảm thấy sợ hãi trước kẻ tấn công họ, và đàn ông không nên bị trừng phạt vì cảm thấy bất lực và yếu đuối thay vì cảm thấy dũng cảm và hung dữ. Tiêu chuẩn về một người biết điều trong luật pháp chỉ là một thứ hư cấu dựa trên các khuôn mẫu, và nó được áp dụng một cách không nhất quán. Có lẽ đã đến lúc để chôn con người biết điều này và hình thành một số tiêu chuẩn khác để so sánh.

Ngoài tuyên ngôn khoa học về cảm xúc, chúng ta cũng có một huyền thoại lâu đời về các vị thẩm phán không tư vị, thứ được các thành viên trong Tòa án Tối cao Hoa Kỳ và các chuyên gia luật pháp vừa tuyên truyền vừa tranh cãi. ác học giả có thể tranh luận trên các tạp chí pháp lý về giá trị của cảm xúc trong hoạt động xét xử, nhưng các bằng chứng trong giải phẫu não bộ của con người đều chứng minh rằng bất kỳ con người nào, kể cả thẩm phán, đều không thể thoát khỏi ảnh hưởng của cảm thụ nội tại và cảm tính khi họ đưa ra quyết định. Các cảm xúc không phải là kẻ thù cũng không phải là một thứ xa hoa, mà chúng là nguồn gốc của trí tuệ. Các thẩm phán không cần tiết lộ cảm xúc của họ (giống như cách mà các nhà trị liệu tâm lý không tiết lộ cảm xúc), nhưng họ phải ý thức được cảm xúc và sử dụng chúng một cách rõ ràng với khả năng tốt nhất của họ.

Để sử dụng cảm xúc một cách thông thái, tôi đề nghị các thẩm phán hãy học hỏi cách trải nghiệm cảm xúc với mức độ nhận diện chi tiết cảm xúc cao. Nếu họ cảm thấy khó chịu, sẽ tốt hơn nếu họ phân biệt được là họ đang cảm thấy (ví dụ như) giận dữ thay vì ghê tởm hay đói bụng. Sự giận dữ có thể giúp nhắc nhớ việc nuôi dưỡng sự thông cảm trước một bị cáo không đáng thông cảm, một nguyên đơn cả tin, một nhân chứng hiếu chiến hoặc một luật sư đặc biệt thâm độc. Nếu không có sự thông cảm, sự giận dữ có thể sẽ tạo ra những hình phạt mang tính quả báo, và chúng sẽ tạo ra nguy hiểm cho tính công bằng – nền tảng của hệ thống luật pháp. Các thẩm phán có thể nuôi dưỡng khả năng nhận diện cảm xúc chi tiết cao bằng cách dùng các bài tập mà tôi đã đề xuất trong chương 9: thu thập các trải nghiệm, học hỏi các từ ngữ chỉ cảm xúc, dùng cách kết hợp khái niệm để tạo ra và phát hiện ra những khái niệm cảm xúc mới, và giải kiến trúc và tái phân loại các trải nghiệm cảm xúc của họ tại thời điểm cần thiết. Nghe có vẻ rằng có rất nhiều việc phải làm, nhưng, cũng như bất kỳ kỹ năng nào khác, luyện tập sẽ khiến mọi chuyện trở nên quen thuộc. Tương tự, chúng ta cũng sẽ không mất mát gì nếu thông báo ngắn gọn cho các thẩm phán về về các chuẩn mực văn hóa khác nhau trong việc trải nghiệm cảm xúc và giao tiếp cảm xúc, trước khi họ đối diện với các bị cáo đến từ các nền văn hóa khác.

Các thẩm phán cũng có thể được hướng dẫn để giảm thiểu tác động của hiện thực hóa cảm tính khi chọn lựa bồi thẩm viên (một quá trình gọi là voir dire). Thông thường, các thẩm phán và các luật sư loại bỏ các bồi thẩm viên bằng cách hỏi họ những câu hỏi trực tiếp và rõ ràng như "Bạn có thể khách quan, công bằng và vô tư trong trường hợp này không?" hoặc "Bạn có biết bị đơn không?" Họ cũng cố gắng đánh giá những điểm tương đồng bề ngoài giữa bồi thẩm viên và bị cáo. Ví dụ: nếu một cố vấn tài chính bị buộc tội biển thủ hàng triệu đô la từ các khoản đầu tư hưu trí của khách hàng của mình, thẩm phán có thể hỏi các bồi thẩm viên tiềm năng rằng liệu bản thân họ có phải là nạn nhân của án biển thủ hay không, hay họ có họ hàng thân thiết nào làm việc trong ngành tài chính hay không. Nhưng những điểm giống và khác nhau bề ngoài này chỉ là phần nổi của tảng băng chìm. Sẽ khôn ngoan hơn nếu kiểm tra ngách cảm tính của một bồi thẩm viên, để xem người này sẽ dự đoán như thế nào trong phiên tòa, điều này có thể chỉ ra những thiên vị định hình nhận thức của họ. Ví dụ, một thẩm phán có thể dùng những kỹ thuật đánh giá từ tâm lý họ, hỏi bồi thẩm viên xem họ đọc tạp chí nào, họ thích xem phim nào, hoặc liệu họ có chơi game người đầu tiên nổ súng hay không. Những thông tin này sẽ cho phép thẩm phán cân nhắc các thành kiến tiềm ẩn của các bồi thẩm viên, dựa trên việc họ thường dùng thời gian để làm gì, thay vì hỏi bồi thẩm viên một cách trực tiếp về thành kiến của họ (câu trả lời trong trường hợp này không nhất thiết là thực sự có giá trị).

Các đề xuất của tôi cho đến lúc này chỉ liên quan đến những vấn đề dễ giải quyết. Bây giờ, chúng ta đã sẵn sàng để đối mặt với những thứ khó khăn hơn - những thông tin trong khoa học có thể thay đổi các giả định cơ bản trong luật pháp.

Chúng ta đã biết rằng các giác quan của chúng ta không tiết lộ thực tại, và các thẩm phán và bồi thẩm viên chắc chắn cũng phải chịu ảnh hưởng từ hiện thực hóa cảm tính. Những yếu tố này, cùng với các kiến thức khác về trí óc và bộ não của chúng ta, đã dẫn đến một ý tưởng khá cấp tiến (mà tôi gần như hơi sợ khi phải nói ra): rằng có lẽ đã đến lúc chúng ta cần xem xét lại việc dùng bồi thẩm đoàn để xác định việc có tội hay vô tội trong một vụ án. Phải, điều này đã được ghi trong Hiến pháp Hoa Kỳ, nhưng những người viết nên Hiến pháp mang tính bước ngoặt đó không hề biết về cách thức hoạt động của bộ não con người, họ cũng không biết rằng một ngày nào đó, chúng ta có thể phát hiện DNA của bị cáo dưới móng tay của nạn nhân. Trước khi có bằng chứng DNA, luật pháp không thể nói chắc liệu một phán quyết có tội là đúng hay sai. Hệ thống luật pháp chỉ có thể quyết định liệu rằng sự phán xét này có được thực hiện một cách công bằng hay không, nghĩa là, việc định tội tuân thủ nhất quán theo các quy định và quy trình pháp lý hay không. Do đó, luật pháp không phải là về sự thật mà là về sự nhất quán. Quy trình tố tụng là nhằm mục đích tránh những sai sót về thủ tục trong việc đưa ra một quyết định có tội hay vô tội, chứ không phải về tính chính xác của chính quyết định đó. Hệ thống luật pháp ngày nay chỉ có hiệu lực nếu chúng ta giả định rằng tính nhất quán luôn tạo ra một kết quả công bằng. Thí nghiệm DNA đang thay đổi tất cả những điều đó. Nó không hoàn hảo, nhưng nó khách quan hơn rất nhiều so với nhận thức mang tính cảm tính và cảm xúc của các bồi thẩm viên con người.

Khi không có bằng chứng DNA liên quan, các phiên tòa có thể bỏ bồi thẩm đoàn đi, và thay vào đó là một nhóm các thẩm phán được chọn ngẫu nhiên từ một nhóm lớn, họ làm việc cùng nhau, tạo ra một sự thông thái tập thể. Như tôi đã nói qua, tôi không phải là một học giả luật pháp, tôi chỉ là một nhà khoa học, do đó có lẽ những bộ óc luật pháp thông thái hơn sẽ kiến tạo nên một hệ thống hội đồng tư pháp cân bằng theo những cách tốt hơn. Một nhóm các thẩm phán có kỹ năng, những người đã được đào tạo để ý thức về bản thân họ và có khả năng nhận diện chi tiết cảm xúc mức độ cao, họ có thể tránh khỏi việc hiện thực hóa cảm tính một cách hiệu quả hơn nhiều so với bồi thẩm đoàn. Đây không hẳn là một giải pháp hoàn hảo: ít nhất ở Mỹ, các thẩm phán thường thuộc về nhóm những người lớn tuổi, chủ yếu là người Âu Mỹ, và thường đại diện cho một nhóm các niềm tin cụ thể, trong khi họ vẫn tin rằng họ không bị phụ thuộc và ảnh hưởng bởi bất kỳ yếu tố nào. Các thẩm phán cũng có nhiều khả năng đưa ra các mức án tối đa. Nhưng có một điều chắc chắn là, mỗi ngày, ở Mỹ, hàng nghìn người phải xuất hiện trước mặt một bồi thẩm đoàn gồm những người đồng lứa với họ, hy vọng được đối xử một cách công bằng, trong khi trên thực tế, họ bị phán xét bởi những bộ não người – thứ luôn nhận thức thế giới bên ngoài từ quan điểm tư lợi bên trong. Điều ngược lại chỉ là một thứ hư cấu, và bộ não con người không được cấu tạo ra để làm điều đó.

Và bây giờ, chúng ta đang nói về vấn đề khó khăn nhất: kiểm soát hành vi và từ đó, chịu trách nhiệm cho hành động của mình – điều này có nghĩa là gì. Luật pháp (cũng như phần lớn tâm lý học) thường chia trách nhiệm ra thành hai phần: những hành động xuất phát từ chính bạn – thứ mà bạn phải chịu trách nhiệm nhiều hơn, và những hành động xuất phát từ tình huống xung quanh bạn – thứ bạn phải chịu trách nhiệm ít hơn. Sự phân chia “bên trong” và “bên ngoài” này không phù hợp với thực trạng của bộ não dự đoán.

Trong quan điểm kiến tạo về bản chất con người, mỗi một hành động của con người đều bao gồm ba loại trách nhiệm, chứ không phải hai. Trách nhiệm đầu tiên là trách nhiệm truyền thống: hành vi của bạn tại thời điểm. Bạn kéo cò súng. Bạn chộp lấy tiền và bỏ chạy. (Hệ thống luật pháp đặt tên cho loại hành vi này là actus reus, hành động gây hại.)

Loại trách nhiệm thứ hai liên quan đến các dự đoán cụ thể của bạn, thứ sắp tạo ra hành động trái pháp luật (được gọi là mens rea, tâm trí tội lỗi). Hành vi của bạn không chỉ xuất phát từ một thời điểm đơn lẻ; nó luôn được dẫn dắt bởi dự đoán. Khi bạn ăn cắp tiền từ két tiền đang mở, lúc này bạn là một tác nhân, nhưng nguyên nhân tối thượng cho hành vi của bạn cũng bao gồm các khái niệm như “Máy tính tiền”, “Tiền”, “Quyền sở hữu” và “Ăn cắp”. Mỗi khái niệm này được liên kết với một quần thể lớn các phân mục đa dạng trong não của bạn, và dựa trên chúng, bạn đưa ra các dự đoán dẫn đến hành động của mình. Bây giờ, nếu những người khác với các khái niệm tương tự trong tình huống tương tự (người biết điều) cũng sẽ đánh cắp tiền mặt, thì bạn có thể sẽ ít phải chịu trách nhiệm hơn cho hành động của mình. Tuy nhiên, nếu họ có thể đã để không ăn cắp tiền, thì trong trường hợp đó, trách nhiệm của bạn sẽ lớn hơn.

Loại trách nhiệm thứ ba liên quan đến nội dung bên trong hệ thống khái niệm của bạn, tách rời khỏi cách thức mà bộ não của bạn sử dụng hệ thống đó để dự đoán khi đang phá luật. Các bộ não không tạo ra tâm trí trong môi trường chân không. Mỗi con người là tổng thể của những khái niệm của chính họ, những khái niệm này trở thành những dự đoán định hướng hành vi. Những khái niệm trong đầu bạn không hoàn toàn là vấn đề lựa chọn cá nhân. Các dự đoán của bạn cũng xuất pháp từ các tác động văn hóa trong môi trường bạn sống. Khi một cảnh sát người Âu Mỹ bắn một dân thường không vũ trang người Mỹ gốc Phi, và người cảnh sát này đã thực sự nhìn thấy một khẩu súng trong tay người dân thường này do tác động của hiện thực hóa cảm tính, sự việc này bắt nguồn từ một thứ gì đó bên ngoài thời điểm mà nó xảy ra. Thậm chí ngay cả khi người cảnh sát này có tính phân biệt chủng tộc rõ ràng, các hành động của anh ta cũng phần nào đó xuất phát từ các khái niệm của anh ta, được hình thành bởi các trải nghiệm trong đời anh ta, bao gồm các thành kiến chủng tộc của người Mỹ. Các khái niệm và hành động của nạn nhân cũng được tạo thành từ trải nghiệm trong suốt cuộc đời của họ, bao gồm thành kiến về cảnh sát của người Mỹ. Tất cả mọi dự đoán của bạn đều được định hình không chỉ bằng các trải nghiệm trực tiếp mà còn bằng các trải nghiệm gián tiếp đến từ truyền hình, phim ảnh, bạn bè, và các biểu tượng trong nền văn hóa của bạn. Cảnh trốn thoát khỏi một tội ác thành thị trong phim thì thú vị đó, hoặc dành một hai tiếng đồng hồ xem phim về cảnh sát trên TV thì cũng thật giảm stress, nhưng thói quen xem các cuộc xung đột của cảnh sát này cũng có cái giá phải trả. Chúng tinh chỉnh các dự đoán của chúng ta về mối nguy hiểm gây ra bởi những người thuộc các dân tộc khác, hoặc những người đang trong tình trạng kinh tế xã hội nhất định. Tâm trí không chỉ là một chức năng tạo ra từ bộ não của bạn, mà nó còn được tạo ra từ các bộ não khác trong nền văn hóa của bạn.

Loại trách nhiệm thứ ba này có cả mặt tốt và mặt xấu. Đôi khi, nó bị tầm thường hóa thông qua cách nói “xã hội thật đáng trách”, một cụm từ được dùng bởi những người cánh tả đầy cảm xúc. Tôi đang nói về một thứ sâu sắc hơn. Nếu bạn phạm tội, thì bạn thực sự đáng trách, nhưng các hành động của bạn bắt nguồn từ hệ thống khái niệm của bạn, và những khái niệm này không chỉ đột nhiên xuất hiện từ hư vô. Chúng được rèn giũa bởi thực tại xã hội mà bạn đang sống, chúng chui vào bên trong bạn và bật tắt các gene của bạn và thiết lập các neuron của bạn. Bạn học từ môi trường của mình, cũng giống như bất kỳ loài động vật nào khác. Tuy nhiên, tất cả các loài động vật đều định hình môi trường của riêng chúng. Và với tư cách là một con người, bạn cũng định hình môi trường sống của mình để thay đổi hệ thống khái niệm của mình, nghĩa là, bạn hoàn toàn chịu trách nhiệm cho các khái niệm mà bạn đã chấp nhận cũng như các khái niệm mà bạn đã từ chối.

Như chúng ta đã nói ở chương 8, bộ não dự đoán mởi rộng đường biên giới của sự tự chủ ra ngoài thời điểm của hành động, và do đó, nó mở rộng phạm vi trách nhiệm của bạn theo một cách phức tạp. Văn hóa của bạn có thể dạy bạn rằng, những người có một loại màu da nhất định thì sẽ thường là tội phạm, nhưng bạn hoàn toàn có khả năng giảm thiểu tác hại gây ra từ những niềm tin như vậy, và trau dồi dự đoán của bạn theo một hướng khác. Bạn có thể làm bạn với những người có màu da khác nhau và tự nhận thấy rằng họ là những cư dân tuân thủ pháp luật. Bạn có thể chọn việc không xem những chương trình truyền hình củng cố thành kiến chủng tộc đó. Hoặc bạn có thể mù quáng mà tuân theo các quy luật thông thường trong văn hóa của bạn, chấp nhận các khái niệm đầy thành kiến, và tự làm tăng khả năng đối đãi tồi tệ với những người đó của bạn lên.

Dylann Roof, người đã bắn các thành viên người Mỹ gốc Phi trong một nhóm nghiên cứu Kinh Thánh, hắn đã chọn việc ở xung quanh các biểu tượng da trắng thượng đẳng. Chắc hẳn là hắn đã lớn lên trong một xã hội đầy rẫy sự phân biệt chủng tộc, nhưng những người lớn khác ở Mỹ cũng vậy, mà chúng ta thì đâu có đi loanh quanh rồi bắn người khác. Do đó, ở cấp độ neuron, bạn và xã hội của bạn cùng nhau làm cho một số dự đoán nhất định trở nên dễ xảy ra hơn hơn trong não của bạn. Tuy nhiên, bạn vẫn phải chịu trách nhiệm khắc phục tư tưởng độc hại. Sự thật khó khăn ở đây là, rốt cuộc là mỗi chúng ta phải chịu trách nhiệm về những dự đoán của chính mình.

Luật pháp đã có tiền lệ cho quan điểm dựa trên dự đoán về trách nhiệm cá nhân. Ví dụ, nếu bạn lái xe trong tình trạng say rượu và đâm vào xe của ai đó, bạn phải chịu trách nhiệm về tác hại mà bạn đã gây ra, mặc dù bạn không thể kiểm soát chân tay một cách hiệu quả trong tình trạng say xỉn. Bởi vì mọi người trưởng thành trong xã hội đều biết rằng say rượu sẽ khiến cho họ có nguy cơ đưa ra các quyết định sai lầm, vì vậy bạn phải chịu trách nhiệm cho những hậu quả xảy ra khi bạn say rượu.

Luật pháp gọi điều này là lập luận về hành vi có thể đoán trước được. Bạn có chủ ý gây hại hay không đều không quan trọng: bạn phải chịu trách nhiệm pháp lý. Và hiện nay chúng ta đã có đủ bằng chứng để mở rộng phạm vi cho lập luận về hành vi có thể đoán trước được này, từ những nhận thức thông thường quy mô lớn đến những dự đoán mili giây của bộ não. Bạn đã biết rõ ràng một số khái niệm của bạn, ví dụ như thành kiến chủng tộc, có thể khiến bạn gặp rắc rối. Nếu bộ não của bạn dự đoán rằng người thanh niên Mỹ gốc Phi ở trước mặt bạn đang cầm một khẩu súng, và bạn nhận thức được một khẩu súng vốn không tồn tại, thì ở một mức độ nào đó, bạn có tội, dù đó là do hiện thực hóa cảm tính gây ra thì bạn vẫn có tội bởi vì bạn có nhiệm vụ phải thay đổi các khái niệm của mình. Nếu bạn tự giáo dục chính mình chống lại những định kiến như vậy, cố gắng mở rộng hệ thống khái niệm với mục tiêu là để thay đổi dự đoán của mình, có thể bạn vẫn sẽ nhìn nhầm một khẩu súng vốn không tồn tại, và một thảm kịch vẫn có thể xảy ra. Nhưng khả năng mắc lỗi của bạn đã phần nào giảm đi, bởi vì bạn đã hành động có trách nhiệm để thay đổi những gì bạn có thể thay đổi.

Cuối cùng, hệ thống pháp luật phải nắm bắt được ảnh hưởng to lớn của văn hóa đối với các khái niệm và dự đoán của con người, những yếu tố quyết định trải nghiệm và hành động của họ. Nói cho cùng, bộ não tự thiết lập chính nó với thực tại xã hội xung quanh nó. Đây là một trong những năng lực quan trọng nhất mang lại lợi thế cho chúng ta trong quá trình tiến hóa. Do đó, chúng ta chịu trách nhiệm phần nào về những khái niệm mà chúng ta đã thiết lập trong các bộ não nhỏ bé ở thế hệ tương lai. Nhưng đây không phải là vấn đề của luật hình sự. Nó thực sự là một vấn đề chính sách liên quan đến Tu chính án thứ nhất, bảo đảm quyền tự do ngôn luận. Tu chính án đầu tiên được thành lập dựa trên quan điểm rằng tự do ngôn luận tạo ra một cuộc chiến ý tưởng, cho phép sự thật chiếm ưu thế. Tuy nhiên, các tác giả của nó không biết rằng văn hóa thiết lập bộ não. Các ý tưởng chui vào bên trong bạn, gắn chặt ở đó đủ lâu. Một khi một ý tưởng thực sự được cài đặt vào, bạn sẽ không còn có thể từ chối nó một cách dễ dàng nữa.

Khoa học về cảm xúc là một chiếc đèn pin thuận tiện để soi sáng một số giả định lâu đời trong luật pháp về bản chất con người — những giả định mà ngày nay chúng ta đã biết rằng chúng không đúng với cấu trúc bộ não con người. Con người không có mặt lý trí và mặt tình cảm, và cái trước cũng không điều khiển cái sau. Các thẩm phán không để đặt cảm xúc qua một bên và xử lý vụ án một cách thuần lý trí. Các bồi thẩm viên không thể phát hiện ra cảm xúc từ các bị cáo. Bằng chứ nhìn có vẻ khách quan nhất bị ảnh hưởng bởi hiện thức hóa cảm xúc. Các hành vi tội phạm không thể được định vị trong một vùng não người. Nói ngắn gọn là, mọi nhận thức và trải nghiệm bên trong phòng xử án – hoặc ở bất kỳ nơi nào khác – đều thấm đẫm ảnh hưởng của văn hóa và những niềm tin mang tính cá nhân cao và chúng được chỉnh sửa từ thông tin cảm giác đầu vào từ thế giới ngoài, thay vì là kết quả của một quy trình không tư vị.

Chúng ta đang ở một bước ngoặt mà khoa học mới về tâm trí và bộ não đã có thể bắt đầu hình thành các quy luật. Bằng cách giáo dục thẩm phán, bồi thẩm đoàn, luật sư, nhân chứng, cảnh sát và những người liên quan khác trong quá trình pháp lý, chúng ta sẽ có thể tạo ra một hệ thống pháp luật công bằng hơn. Có lẽ chúng ta không thể sớm hủy bỏ các phiên tòa xét xử bởi bồi thẩm đoàn, nhưng ngay cả những bước đơn giản, như giáo dục bồi thẩm viên rằng cảm xúc được xây dựng, cũng có thể cải thiện tình hình hiện tại.

Ít nhất thì hiện tại, hệ thống pháp luật vẫn coi bạn là một con thú cảm xúc được phục trang bởi lý trí. Xuyên suốt cuốn sách này, chúng ta đã thách thức câu chuyện huyền thoại này một cách có hệ thống thông qua các bằng chứng và các quan sát, nhưng vẫn còn một giả định mà chúng ta chưa đặt câu hỏi: liệu thú vật thì có tình cảm hay không? Những bộ não của các họ hàng linh trưởng gần của chúng ta, như tinh tinh, liệu chúng có kiến tạo nên các cảm xúc hay không? Còn chó thì sao: chúng có các khái niệm và thực tại xã hội như chúng ta hay không? Năng lực cảm xúc của chúng ta trong vương quốc muôn loài có thực sự đặc biệt hay không? Chúng ta sẽ khám phá các chủ đề này trong chương tiếp theo.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét