Thứ Năm, 2 tháng 2, 2023

How Emotions Are Made - chương 13

 

Chương 13

Từ Bộ Não đến Tâm Trí: Ranh Giới Mới

Bộ não con người là bậc thầy của sự lừa dối. Nó tạo ra trải nghiệm và chỉ đạo hành động với kỹ năng của một ảo thuật gia, nó không bao giờ tiết lộ cách thức hoạt động của nó, đồng thời, nó mang lại cho chúng ta cảm giác tin tưởng sai lầm rằng các sản phẩm của nó — những trải nghiệm hàng ngày của chúng ta — cho thấy chúng ta thấy rõ hoạt động bên trong của nó. Niềm vui, nỗi buồn, sự ngạc nhiên, sợ hãi và những cảm xúc khác dường như rất khác nhau và chúng ta có cảm giác rằng những cảm xúc này được tích hợp sẵn, đến mức chúng ta cho rằng chúng có những được tạo ra bởi các nguồn riêng biệt tách rời nhau bên trong chúng ta. Khi bạn có một bộ não mang tính chủ nghĩa tinh chất, thì bạn sẽ dễ tạo ra một lý thuyết tâm trí sai lầm. Nói cho cùng, chúng ta chính là một mớ các bộ não đang cố gắng nghiên cứu xem bộ não hoạt động như thế nào.

Trong nhiều thiên niên kỷ, sự lừa dối này hầu hết đã thành công. Các tinh chất của tâm trí nhận có thay đổi sau mỗi một hoặc hai thế kỷ, nhưng phần lớn, ý tưởng về các cơ trí óc vẫn bị kẹt trong sự lừa dối này. Ngày nay, việc lượt bỏ hết những tinh chất này vẫn là một vấn đề mang tính thử thách, bởi vì bộ não được cấu tạo để phân loại, và phân loại thì tạo ra chủ nghĩa tinh chất. Mỗi danh từ chúng ta thốt ra lại tạo ra một cơ hội để hình thành một tinh chất, mặc dù chúng ta không có chủ ý làm điều đó.

Từng chút một, khoa học về tâm trí cuối cùng cũng đang loại bỏ những bánh xe phụ giúp giữ thăng bằng ở giai đoạn đầu mới tập lái (training wheels) của nó. Hộp sọ không còn là bức tường thành như trước nữa, hiện này, công nghệ quét ảnh não có thể giúp chúng ta quan sát não người mà không gây một tổn hại nào. Các thiết bị đo lường có thể mang lên người đang giúp chuyển tâm lý học và khoa học thần kinh ra khỏi phòng thí nghiệm và đi vào cuộc sống thực. Tuy nhiên, khi chúng ta tích lũy hàng petabyte dữ liệu não bộ bằng thứ đồ chơi công nghệ thế kỷ 21, giới truyền thông, các nhà đầu tư mạo hiểm, hầu hết sách giáo khoa và một số nhà khoa học vẫn đang giải thích dữ liệu đó bằng lý thuyết về tâm trí của thế kỷ 17 (đã được nâng cấp thành phiên bản não tướng học đẹp đẽ từ Plato 1.0). Khoa học thần kinh đã mang lại sự hiểu biết về não bộ và chức năng của nó tốt hơn nhiều so với những trải nghiệm của chính chúng ta từng có, không chỉ về cảm xúc mà còn đối với tất cả các sự kiện tinh thần.

Nếu tôi đã làm việc một cách chính xác, thì bây giờ bạn đã có thể nhận ra rằng, những điều trông như sự thật về cảm xúc trong những cuốn sách giáo khoa và các phương tiện truyền thông nổi tiếng kia thực sự rất đáng nghi ngờ và cần phải được xem xét lại. Trong những chương trước, bạn đã biết được rằng các cảm xúc là một phần của cơ chế sinh học trong bộ não và cơ thể con người, nhưng không phải vì bạn có những mạch thần kinh riêng biệt dành cho mỗi cảm xúc. Các cảm xúc là kết quả của quá trình tiến hóa, nhưng không phải với tư cách là các tinh chất được truyền lại từ các động vật tổ tiên của chúng ta. Bạn trải nghiệm cảm xúc mà không cần phải ý thức về nỗ lực đã bỏ ra, nhưng điều đó không có nghĩa là bạn là một người nhận những trải nghiệm này một cách thụ động. Bạn nhận thức cảm xúc mà không cần hướng dẫn, nhưng điều này không có nghĩa là các cảm xúc có tính bẩm sinh hay không cần phải học hỏi. Thứ bẩm sinh chính là việc con người dùng các khái niệm để xây dựng nên các thực tại xã hội, và sau đó, đến lượt thực tại xã hội thiết lập ngược lại não bộ. Các cảm xúc là những tạo phẩm rất thật từ thực tại xã hội, được thực hiện bởi bộ não con người trong sự kết hợp với bộ não của những con người khác.

Trong chương cuối này, chúng ta sẽ sử dụng lý thuyết kiến tạo cảm xúc như một chiếc đèn phin để tập trung vào các vấn đề lớn hơn về tâm trí và não bộ. Chúng ta sẽ xem xét kỹ bộ não dự đoán và mọi thứ chúng tôi đã học được về nó, chẳng hạn như sự thoái hóa, hệ thống cốt lõi và thiết lập để phát triển khái niệm, để làm sáng tỏ loại tâm trí có nhiều khả năng xuất hiện từ loại não bộ này. Chúng ta sẽ xem khía cạnh nào của tâm trí có tính phổ quát hoặc không thể tránh khỏi, khía cạnh nào thì không, và điều này có ý nghĩa gì đối với sự hiểu biết rộng hơn của bạn về người khác và về chính bạn.

Kể từ khi con người bắt đầu viết về nhân loại, thì đã có một giả định lớn rằng tâm trí con người được tạo ra bởi một đấng toàn năng. Đối với người Hy Lạp cổ đại, đấng toàn năng này chính là thiên nhiên dưới hình hài của các vị thần. Cơ đốc giáo đã gạt bỏ bản chất con người ra khỏi Mẹ Thiên nhiên và đặt nó vào tay của một Đức Chúa Trời toàn năng, duy nhất. Darwin giật nó lại và gán cho nó một tính năng cụ thể của tự nhiên được gọi là sự tiến hóa. Đột nhiên bạn không còn là một linh hồn bất tử, và tâm trí bạn không còn là chiến trường của thiện và ác, chính nghĩa và tội lỗi. Thay vào đó, bạn là một tập hợp các lực lượng nội tại chuyên biệt được tạo ra bởi quá trình tiến hóa, và chúng đấu tranh với nhau để kiểm soát hành động của bạn. Người ta cho là bộ não của bạn chiến đấu với cơ thể của bạn, lý trí chiến đấu với cảm xúc, vỏ não chiến đấu với vỏ não dưới và các lực lượng ngoại vị chiến đấu với lực lượng nội tại của bạn. Với bộ não động vật được bao bọc trong vỏ não lý trí, người ta cho là con người khác biệt với các loài động vật khác trong tự nhiên, không phải vì chúng ta có linh hồn mà bởi vì chúng ta là đỉnh cao của sự tiến hóa, được ban tặng cho sự sáng suốt và lý trí. Do đó, bạn đến với thế giới được định hình trước này để phản hồi với những thứ mà nó đưa đến cho bạn theo một cách cụ thể, không phải bởi Thượng Đế mà là bởi gene của bạn. Các trải nghiệm như trải nghiệm cảm xúc được cho là bằng chứng cho việc bạn là một động vật xuyên suốt. Nhưng bạn đặc biệt trong vương quốc động vật bởi vì bạn có thể vượt qua con thú bên trong bản thân mình.

Tuy nhiên, như bạn đã biết từ cuốn sách này, những khám phá mới về bộ não đã cách mạng hóa hiểu biết của chúng ta về ý nghĩa của loài người.

Tâm trí của bạn chắc chắn là một sản phẩm của quá trình tiến hóa, nhưng nó không chỉ được định hình bởi mỗi gene. Não bạn chắc chắn là được tạo từ các mạng lưới neuron, nhưng đó chỉ là một trong số các yếu tố để phát triển tâm trí con người. Bộ não của bạn cũng được phát triển bên trong một cơ thể, sống giữa những bộ não khác trong các cơ thể khác, những thứ giúp cân bằng ngân sách cơ thể bạn và mở rộng ngách cảm tính của bạn thông qua các hành động và ngôn từ.

Tâm trí của bạn không phải là một chiến trường giữa các lực lượng nội tại trái ngược nhau – cảm xúc và lý trí – những thứ xác định trách nhiệm của bạn về hành vi của chính mình. Thay vào đó, tâm trí của bạn là một khoảnh khắc được tính toán trong bộ não dự đoán liên tục của bạn.

Bộ não của bạn dự đoán với các khái niệm của nó, và trong khi các nhà khoa học vẫn đang tranh cãi xem liệu một số khái niệm là bẩm sinh hay là do học được, thì việc bạn học chúng khi bộ não tự thiết lập chính nó với môi trường vật chất và xã hội xung quanh là điều không cần phải tranh cãi nữa. Những khái niệm này đến từ văn hóa của chính bạn, và chúng giúp thương lượng vấn đề nan giải cơ bản của việc sống theo bầy đàn – đi trước hay đi chung – một trận chiến luôn có nhiều hơn một giải pháp. Một số nền văn hóa thì ủng hộ việc đi chung, một số khác lại thiên về việc đi trước.

Tất cả những khám phá này đều cho thấy một kiến thức quan trọng: bộ não của con người tiến hóa, trong bối cảnh văn hóa loài người, để tạo ra nhiều hơn một loại tâm trí. Ví dụ, những người ở những nền văn hóa Tây phương trải nghiệm suy nghĩ và trải nghiệm cảm xúc về cơ bản là khác nhau và đôi khi còn mâu thuẫn với nhau. Trong khi đó, các nền văn hóa Bali và Ilongot, và - ở một mức độ nhất định nào đó - các nền văn hóa được dẫn dắt bởi triết học Phật giáo, không có quá nhiều sự khác biệt sâu sắc giữa suy nghĩ và cảm xúc.

Làm thế nào một loại não bộ với các mạng lưới giống nhau lại có thể sinh ra các loại tâm trí khác nhau? Làm thế nào mà cũng một loại não bộ lại tạo ra tâm trí của bạn, đầy đủ các khái niệm và trải nghiệm cảm xúc, và tâm trí của tôi với các phân mục khác nhau của những khái niệm giống nhau và có thể là những khái niệm cảm xúc khác nhau, và tâm trí của người Bali – nơi mà không có sự phân biệt rõ ràng giữa khái niệm và trải nghiệm dành cho suy nghĩ và cảm xúc, mỗi loại tâm trí này lại thích nghi với môi trường vật chất và xã hội xung quanh nó?

Nhìn bề ngoài, tất cả các bộ não phát triển bình thường của con người đều trông khá giống nhau, đặc biệt nếu bạn tháo kính và nheo mắt. Tất cả chúng đều có hai bán cầu. Mỗi vỏ não đều có năm thùy, có tới sáu lớp. Các tế bào thần kinh trong mọi vỏ não được kết nối để nén thông tin thành các bản tóm tắt hiệu quả, tạo ra một hệ thống khái niệm định hình hành động và trải nghiệm. Nhiều đặc điểm trong bộ não người cũng có ở các loài động vật có vú khác, và một số đặc điểm thực sự cổ xưa của hệ thần kinh của bạn thậm chí còn được tìm thấy trong côn trùng. (Một ví dụ là gen Hox, tổ chức hệ thống thần kinh của động vật có xương sống từ đầu đến đuôi.)

Tuy nhiên, bộ não cũng có nhiều khác biệt đáng kể giữa người và người: về vị trí của các rãnh và sườn vỏ não, về số lượng tế bào thần kinh trong các lớp cụ thể của vỏ não hoặc trong các vùng dưới vỏ, trong vi mạch giữa các neuron và sức mạnh kết nối trong các mạng lưới não. Khi xét đến những chi tiết nhỏ này, không có hai bộ não nào từ cùng một loài có cấu trúc hoàn toàn giống nhau.

Tương tự, trong một bộ não đơn lẻ như não của bạn, thiết lập của nó cũng không cố định. Giống như thân cây phát triển vào mùa xuân và thu hẹp lại vào mùa thu, các liên kết giữa các sợi trục và đuôi gai của bạn tăng và giảm theo độ tuổi của bạn. Thậm chí, bạn phát triển thêm các neuron ở mới ở những vùng não nhất định. Loại thay đổi về mặt sinh học này – được gọi là độ linh hoạt của nạo – cũng xuất hiện kèm theo các trải nghiệm. Các trải nghiệm của bạn được mã hóa trong thiết lập của bộ não và có thể thay đổi cách mà bộ não được thiếp lập, làm tăng khả năng cho việc bạn sẽ có cùng trải nghiệm một lần nữa, hoặc dùng những trải nghiệm quá khứ để tạo ra trải nghiệm mới.

Và từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác, hàng tỷ tế bào thần kinh của bạn liên tục tự cấu hình lại từ mô hình này thành mô hình khác. Hóa chất được gọi là chất dẫn truyền thần kinh làm cho điều này trở nên khả thi. Chúng cho phép các tín hiệu truyền qua lại giữa các tế bào thần kinh và chúng tăng hoặc giảm các kết nối thần kinh trong tích tắc, do đó các thông tin chảy dọc theo các con đường khác nhau. Các chất dẫn truyền thần kinh khiến cho một bộ não duy nhất với một nhóm mạng duy nhất có thể kiến tạo các sự kiện tinh thần đa dạng, tạo ra thứ gì đó còn lớn hơn tổng của các phần gộp lại.

Tất nhiên, chúng ta lại có sự thoái hóa: nhiều tập hợp neuron khác nhau cùng tạo ra một kết quả giống nhau. Ngoài ra, cho dù bạn quan sát mô não một cách nhỏ lẻ hay phức hợp – dưới dạng các mạng lưới, các vùng não hoặc các neuron riêng lẻ — thì mô não đó đều đóng góp vào nhiều loại sự kiện tinh thần, chẳng hạn như tức giận, chú ý hoặc thậm chí thị giác hoặc thính giác.

Thiết lập vi mô. Các chất dẫn truyền thần kinh. Sự linh hoạt não bộ. Sự thoái hóa. Hệ thống mạch thần kinh đa mục đích. Các nhà khoa học thần kinh đã tóm lược sự đa dạng đáng kinh ngạc này bằng các gọi bộ não là một “hệ thống phức tạp”. Ý tôi không phải là phức tạp một cách thông tục, như trong “chúa ơi, bộ não đó chắc hẳn là rất phức tạp (complicated)” mà là một cái gì đó trang trọng hơn. Độ phức tạp (complexity) là một thước đo để mô tả các cấu trúc tạo ra thông tin và truyền tải thông tin một cách hiệu quả. Một hệ thống có độ phức tạp cao có thể tạo ra nhiều mẫu mới bằng cách kết hợp các mẩu và các mảnh của các mẫu cũ. Bạn có thể tìm thấy các hệ thống phức tạp trong khoa học thần kinh, vật lý, toán học, kinh tế học và các ngành học thuật khác.

Não người là một hệ thống có tính phức tạp cao, bởi vì trong một cấu trúc vật lý mà nó có thể tái cấu hình hàng tỷ tế bào thần kinh của mình để tạo ra một kho khổng lồ các trải nghiệm, nhận thức và hành vi. Nó đạt được độ phức tạp cao thông qua một sự sắp xếp cực kỳ hiệu quả để tập trung vào các “trung tâm” (hubs) chính yếu như đã đề cập trong chương 6. Cách tổ chức này cho phép bộ não kết hợp nhiều thông tin từ nhiều nguồn một cách hiệu quả tới mức có có thể hỗ trợ ý thức. Ngược lại, mô hình não bộ theo quan điểm cổ điển — các trung tâm độc lập với các chức năng riêng biệt — sẽ là một hệ thống có độ phức tạp thấp vì mỗi trung tâm sẽ tự hoàn thành chức năng duy nhất của nó.

Một bộ não có độ phức tạp và thoái hóa cao tạo ra những lợi thế đặc biệt. Nó có thể tạo ra và vận chuyển nhiều thông tin hơn. Nó mạnh mẽ và đáng tin cậy hơn, với nhiều con đường để đi đến cùng một điểm. Nó có khả năng chống lại thương tích và bệnh tật tốt hơn; bạn đã thấy những ví dụ sống động về cặp song sinh bị tổn thương hạch hạnh nhân (chương 1) và Roger với mạch não dự đoán bị tổn thương (chương 4). Do đó, một bộ não như vậy sẽ giúp bạn có nhiều khả năng sống sót hơn, từ đó truyền lại gene của mình cho thế hệ tiếp theo.

Chọn lọc tự nhiên ưu ái một bộ não phức tạp. Sự phức tạp, chứ không phải lý trí, mới là thứ khiến bạn trở thành kiến trúc sư cho trải nghiệm của mình. Gene của bạn cho phép bạn và những người khác tái định hình bộ não, và từ đó, tái định hình tâm trí của bạn.

Sự phức tạp ở đây ẩn ý rằng, sơ đồ thiết lập của một bộ não không phải là một tập hợp các hướng dẫn cho một loại tâm trí riêng lẻ với các cơ quan trí óc phổ quát. Nhưng não người có rất ít khái niệm tinh thần được thiết lập sẵn, ví dụ như (có thể là) sự dễ chịu và khó chịu (mức độ khoái cảm – valence), kích động và điềm tĩnh (mức độ kích động – arousal), âm thanh lớn và nhỏ, sáng và tối, và những tính chất khác của ý thức. Thay vào đó, đa dạng mới là điều bình thường. Não người được cấu trúc để học được nhiều khái niệm khác nhau và để tạo ra nhiều thực tại xã hội khác nhau, tùy thuộc vào các tình huống mà nó tiếp xúc. Sự đa dạng này không phải là vô hạn hoặc tùy ý; nó bị hạn chế bởi nhu cầu của bộ não về hiệu quả và tốc độ, bởi thế giới bên ngoài, và bởi tình thế tiến thoái lưỡng nan của con người trong việc đi trước hay đi chung. Văn hóa của bạn trao cho bạn một hệ thống các khái niệm, giá trị và thông lệ cụ thể để giải quyết tình huống tiến thoái lưỡng nan này.

Chúng ta không cần có một tâm trí phổ quát, với một tập hợp các khái niệm phổ quát, để tuyên bố rằng chúng là cùng một loài. Tất cả những điều chúng ta cần ở đây là một bộ não người vô cùng phức tạp, thứ có thể tự thiết lập chính nó với môi trường vật chất và xã hội xung quanh, để tạo ra vô hạn các loại tâm trí khác nhau.

Một bộ não người có thể tạo ra nhiều loại tâm trí khác nhau, nhưng tất cả các tâm trí con người đều có một vài thành phần giống nhau. Trong hàng thiên niên kỷ, các học đã đã tin rằng những thành phần chung này chính là các tinh chất, nhưng thực tế thì không phải vậy. Các thành phần này là ba mặt của tâm trí mà chúng ta đã gặp trong cuốn sách này: hiện thực hóa cảm tính, các khái niệm và thực tại xã hội. Chúng (và có lẽ một số khác nữa) là không thể tránh khỏi và do đó, chúng mang tính phổ quát, ngoại trừ bệnh tật, dựa trên giải phẫu và chức năng của não.

Hiện thực hóa cảm tính, hiện tượng mà bạn trải nghiệm thứ bạn tin tưởng, là không thể tránh khỏi vì thiết lập của chính bạn. Các vùng não điều chỉnh ngân sách cơ thể trong mạng lưới cảm thụ nội tại của bạn – nhà khoa học miệng rộng và gần như bị điếc bên trong bạn – chính là nhà cầm quyền mạnh mẽ nhất trong bộ não, và các vùng giác quan sơ cấp khác sẵn sàng nghe theo ông ta. Các dự đoán ngân sách cơ thể luôn đi theo cảm tính, chứ không phải lô gic hay lý trí, và chúng chính là tài xế chính để dẫn dắt trải nghiệm và hành vi của bạn. Chúng ta đều nghĩ rằng thức ăn “ngon” như thể mùi vị vốn có sẵn trong thức ăn, trong khi mùi vị thực sự là một kiến tạo và sự ngon miệng chính là cảm xúc của chính chúng ta. Khi một người lính ở chiến trường nhận thức một khẩu súng trong tay ai đó – trong khi thực tế là không có khẩu súng nào cả, thì có thể anh ấy đã thực sự nhìn thấy khẩu súng đó; đây không phải là một lỗi lầm mà là một nhận thức chân chính. Các thẩm phán khi đói bụng trong phiên tòa ân xá thường ra các quyết định tiêu cực hơn.

Không ai có thể hoàn toàn tránh khỏi việc hiện thực hóa cảm tính. Các nhận thức của bạn không phải là một bức ảnh chụp thế giới. Chúng thậm chí còn không phải là một một bức tranh có chất lượng như hình chụp, như Vermeer. Chúng giống tranh của Van Gogh hay Monet hơn. (Hoặc, trong những ngày tồi tệ, chúng giống với tranh của Jackson Pollock).

Nhưng bạn có thể nhận ra việc hiện thực hóa cảm tính này thông qua các hiệu quả của nó. Bất cứ khi nào bạn có cảm giác rằng bạn biết thứ gì đó là thật, thì nó chính là hiện thực hóa cảm tính. Khi bạn nghe một tin nào đó hay đọc một câu chuyện và bạn lập tức tin tưởng rằng đó là thật, thì đó cũng là hiện thực hóa cảm tính. Hoặc nếu bạn lập tức bác bỏ một tin nhắn nào đó, hoặc thậm chí là chán ghét người đưa tin, thì đó cũng là hiện thực hóa cảm tính. Chúng ta đều thích những thứ củng cố niềm tin của chúng ta, và thường ghét bỏ những thứ phản lại niềm tin của chúng ta.

Hiện thực hóa cảm tính khiến bạn tin chắc vào thứ gì đó, ngay cả khi các bằng chứng chống lại nó. Đó không phải là vì sự thiếu hiểu biết hay ác tâm - nó chỉ đơn giản là vấn đề về cách bộ não được thiết lập và vận hành. Mọi thứ bạn tin và mọi thứ bạn thấy đều được tô màu bởi hoạt động cân bằng ngân sách của bộ não bạn.

Khi chúng ta không kiểm tra việc hiện thực hóa cảm tính này, chúng ta sẽ trở nên cứng nhắc và không linh hoạt. Khi hai nhóm đối lập nhau tin tưởng một cách chắc chắn là họ đúng, thì họ sẽ dính vào các cuộc đụng độ chính trị, các trận chiến tư tưởng, thậm chí, là chiến tranh. Hai quan điểm về bản chất con người mà bạn đã thấy trong quyển sách này, từ quan điểm cổ điển và quan điểm kiến tạo, đã chiến đấu với nhau trong vài ngàn năm rồi.

Trong trận chiến vẫn đang tiếp diễn này, việc hiện thực hóa cảm tính đã khiến mỗi bên đóng khuôn quan điểm của đối phương. Quan điểm cổ điển được biếm họa là thuyết quyết định sinh học, rằng văn hóa hoàn toàn không liên quan và gen là định mệnh tuyệt đối, biện minh cho trật tự xã hội hiện tại là ai giàu có và ai khốn khó. Bức tranh biếm họa đó mô tả một phiên bản cực đoan của việc thích “đi trước” hơn là “đi chung”. Mặt khác, quan điểm kiến tạo bị chỉ trích là chủ nghĩa tập thể tuyệt đối, với cái giá phải trả là tính cá nhân, hoặc bị hiểu nhầm thành một quan điểm trong đó con người là một siêu tổ chức lớn như Borg trong Star Trek, và bộ não là "một viên thịt đồng nhất" trong đó tất cả các neuron có chức năng hoàn toàn giống nhau. Nó là một phiên phải mở rộng của “đi chung” chiến thắng “đi trước”. Trong cuộc chiến này, mỗi bên đều bỏ qua những điều tinh tế và sự đa dạng – thứ chắc chắn phải xảy ra trong cộng đồng khoa học. Nếu bạn đã đọc đến đây, bạn sẽ thấy rằng bằng chứng chỉ ra một kết luận có sắc thái hơn: ranh giới phân chia giữa sinh học và văn hóa là rất nhỏ. Văn hóa hình thành từ chọn lọc tự nhiên, và khi văn hóa ngấm vào da và đi vào não, nó giúp hình thành thế hệ con người tiếp theo.

Hiện thực hóa cảm tính là không thể tránh khỏi, nhưng bạn không phải hoàn toàn bất lực trước nó. Cách phòng vệ tốt nhất để tránh việc hiện thực hóa cảm tính này là sự tò mò. Tôi đã nói với các sinh viên của mình rằng, hãy hết sức cẩn thận khi bạn cảm thấy yêu thích hay ghét bỏ thứ mà bạn đang đọc. Những cảm giác này có thể mang ý nghĩa rằng, các ý tưởng mà bạn đang đọc vốn đã nằm sẵn trong ngách cảm tính của bạn, vì thế hay mở rộng tư tưởng với chúng. Cảm tính của bạn không phải là bằng chứng cho thấy loại khoa học này là tốt hay xấu. Nhà sinh học Stuart Firestein trong cuốn sách thú vị của ông ấy Ignorance, đã khuyến khích mọi người tò mò để học hỏi về thế giới. Ông đề nghị rằng chúng ta hãy thoải mái với những điều không rõ ràng, hãy tìm niềm vui trong những bí ẩn, và hãy cẩn thận để luôn nghi ngờ. Những điều này sẽ giúp bạn nhìn mọi bằng chứng phản lại niềm tin của bạn một cách điềm tĩnh, và trải nghiệm niềm vui trong chuyến săn tìm tri thức.

Điều không thể tránh khỏi thứ hai của tâm trí chính là việc bạn có sẵn các khái niệm, bởi vì não người được thiết lập để tạo ra một hệ thống khái niệm. Bạn tạo ra các khái niệm cho các chi tiết vật lý nhỏ nhất, như những mảnh ánh sáng và âm thanh thoáng qua và cho những ý tưởng vô cùng phức tạp như “Trường phái ấn tượng” và “Những điều không nên mang theo khi đi máy bay”. (Cái thứ hai bao gồm súng đã nạp đạn, đàn voi và dì Edna nhàm chán của bạn.) Các khái niệm về não bộ của bạn là mô hình thế giới giúp bạn tồn tại, đáp ứng nhu cầu năng lượng của cơ thể và cuối cùng xác định khả năng truyền lại gen của bạn cho thế hệ tiếp theo.

Tuy nhiên, thứ có thể tránh khỏi, là việc bạn có những khái niệm cụ thể. Chắc chắn là mọi người đều có một số khái niệm cơ bản trong thiết lập của mình, như “tích cực” và “tiêu cực”, nhưng không phải tất cả mọi tâm trí đều có những khác niệm khác biệt cho “cảm xúc” và “suy nghĩ”. Bất kỳ tập hợp khái niệm nào giúp bạn điều chỉnh ngân sách cơ thể và sống sót mà liên quan đến bộ não của bạn đều ổn cả. Các khái niệm cảm xúc mà bạn học được từ thời thơ ấu chỉ là một ví dụ điển hình.

Các khái niệm không chỉ tồn tại “trong đầu bạn”. Giả sử như tôi với bạn uống cà phê nói chuyện với nhau, và khi tôi nói ra một nhận xét dí dỏm nào đó, bạn mỉm cười và gật đầu. Nếu bộ não của tôi dự đoán về sự mỉm cười và gật đầu này của bạn, thì thông tin thị giác đầu vào đến não bộ của tôi sẽ xác định những chuyển động này, sau đó, dự đoán của chính tôi – ví dụ như, gật đầu lại với bạn – sẽ trở thành hành động của tôi. Sau đó, đến lượt bạn – vốn đã dự đoán cái gật đầu của tôi, cùng với một loạt các khả năng khác, điều này gây ra sự thay đổi trong thông tin cảm giác đầu vào của bạn, tương tác với dự đoán của bạn. Nói cách khác, neuron của bạn tác động lẫn nhau không chỉ thông qua các kết nối trực tiếp mà còn gián tiếp thông qua môi trường bên ngoài – tương tác với tôi. Chúng ta đang trình diễn một điệu nhảy đồng điệu giữa dự đoán và hành động, điều chỉnh ngân sách cơ thể của nhau. Sự đồng điệu này là nền tảng của sự liên kết xã hội và sự đồng cảm; nó khiến mọi người tin tưởng và yêu thích nhau, và nó là một thứ vô cùng quan trọng trong sự gắn kết giữa cha mẹ và con cái.

Do đó, trải nghiệm cá nhân của bạn được kiến tạo một cách chủ động bởi các hành động của bạn. Bạn điều chỉnh thế giới, và thế giới điều chỉnh bạn trở lại. Theo một nghĩa nào đó, bạn là kiến trúc sư của môi trường cũng như trải nghiệm của chính bạn. Chuyển động của bạn, và chuyển động tương ứng của người khác, tác động đến thông tin cảm giác đầu vào sắp tới của bạn. Những cảm giác sắp tới này, giống như bất kỳ trải nghiệm nào khác, có thể tái thiết lập não bạn. Do đó, bạn không chỉ là kiến trúc sư tạo nên trải nghiệm của mình, bạn còn là thợ điện nữa. (wiring – do não là một hệ thống các circuit (mạch, mạch điện) nên thiết lập của não cũng tương tự với việc lắp ráp mạch điện aka mạch thần kinh trong não)

Các khái niệm rất quan trọng với việc sống còn của loài người, nhưng chúng ta cũng phải cẩn thận với chúng bởi vì các khái niệm đã mở cửa cho chủ nghĩa tinh chất. Chúng khuyến khích chúng ta nhìn thấy những thứ không tồn tại. Firestein đã mở đầu cuốn sách Ignorence với một thành ngữ cổ, “Khó mà tìm thấy một con mèo đen trong phòng tối, đặc biệt là khi không có con mèo đen nào cả.” Câu này đã tóm lược một cách tuyệt đẹp quá trình tìm kiếm tinh chất. Lịch sử có nhiều ví dụ về việc những nhà khoa học tìm kiếm tinh chất một cách vô vọng vì vốn dĩ họ đã dùng sai khái niệm dẫn dắt các giả thuyết của họ. Firestein đưa ra ví dụ về ete ánh sáng, một chất bí ẩn được cho là lấp đầy vũ trụ để ánh sáng có môi trường truyền qua. Firestein viết rằng ête là một con mèo đen, và các nhà vật lý đã đưa ra lý thuyết trong một căn phòng tối, sau đó thử nghiệm trong đó, tìm kiếm bằng chứng về một con mèo không tồn tại. Điều tương tự cũng áp dụng cho quan điểm cổ điển về cảm xúc, trong đó các cơ quan tâm trí chính là các phát minh của con người khiến cho đáp án và câu hỏi nhầm lẫn với nhau.

Các khái niệm cũng khiến chúng ta không nhìn thấy những thứ vốn đang hiện hữu. Một sọc của cầu vồng là một thứ ảo giác, nó vốn chứa đựng vô số các tần số khác nhau, nhưng chính các khái niệm về “màu đỏ”, “màu xanh” và các màu khác đã khiến bộ não của bạn phớt lờ sự đa dạng này. Tương tự, khái niệm về một bộ mặt phụng phịu là đại diện cho “nỗi buồn” sẽ làm giảm tính đa dạng trong danh mục cảm xúc này.

Điều không thể tránh khỏi thứ ba trong tâm trí mà chúng ta bàn tới chính là thực tại xã hội. Khi bạn dược sinh ra, bạn không thể tự điều chỉnh ngân sách cơ thể của chính mình – ai đó phải giúp bạn làm điều này. Trong quá trình này, não của bạn học thống kể, tạo ra các khái niệm, và tự lắp ráp dây điện cho chính nó để phù hợp với môi trường xung quanh, trong đó có nhiều người khác – những người đã kiến tạo thế giới xã hội của họ theo những cách cụ thể. Thế giới xã hội cũng bắt đầu trở nên rõ ràng với bạn. Thực tại xã hội chính là siêu năng lực của con ngườ; chúng ta là loài động vật duy nhất có thể giao tiếp với nhau với các khái niệm thuần tinh thần. Không có thực tại xã hội cụ thể nào là không thể tránh khỏi, chỉ có thực tại xã hội phù hợp theo từng nhóm (và nó bị giới hạn bởi thực tại vật lý).

Theo một cách nào đó, thực tại xã hội chính là một cuộc mua bán tinh thần đổi lấy vật chất (Faustian bargain). Đối với một vài hoạt động cần thiết của con người, như xây dựng các nền văn mình, thực tại xã hội mang lại những lợi thế khác biệt. Văn hóa hoạt động trơn tru nhất nếu chúng ta tin vào những sáng tạo tinh thần của chính mình, chẳng hạn như tiền bạc và luật pháp, mà không ý thức rằng mình đang làm điều đó. Chúng ta không nghĩ tới việc chính mình (hoặc các neuron của mình) đang nhúng tay vào những sáng tạo này, do đó, chúng ta xem chúng là thực tại.

Chưa hết, chính siêu năng lực này đã biến chúng ta thành những nhà xây dựng nền văn minh hiệu quả cũng cản trở sự hiểu biết của chính chúng ta về cách chúng ta làm điều đó. Chúng ta liên tục nhầm các khái niệm phụ thuộc vào người nhận thức — hoa, cỏ dại, màu sắc, tiền bạc, chủng tộc, nét mặt, v.v. — với thực tại không phụ thuộc vào người nhận thức. Nhiều khái niệm mà mọi người coi là thuần vật chất thực chất chỉ là các niềm tin về vật chất, chẳng hạn như cảm xúc, và nhiều khái niệm có vẻ mang tính sinh học thực sự lại mang tính xã hội. Ngay cả một cái gì đó có vẻ rõ ràng là thuộc về sinh học, chẳng hạn như bị mù, cũng không phải mang tính khách quan trong sinh học. Một số người không nhìn thấy vẫn không nghĩ mình bị mù, bởi vì họ hoạt động hoàn toàn ổn trong thế giới.

Khi bạn tạo ra thực tại xã hội nhưng lại không nhận ra điều đó, kết quả của việc này thật hỗn độn. Ví dụ như, có rất nhiều nhà tâm lý học không nhận ra rằng mọi khái niệm tâm lý đều là thực tại xã hội. Chúng ta tranh luận về sự khác biệt giữa “sức mạnh ý chí” và “sự kiên trì” và “gan góc” như thể chúng có bản chất riêng biệt, chứ không phải là những kiến tạo giống nhau đến từ chủ ý tập thể. Chúng ta tách biệt "cảm xúc", "điều chỉnh cảm xúc", "tự điều chỉnh", "trí nhớ", "trí tưởng tượng", "nhận thức" và các danh mục tinh thần khác, trong khi tất cả các danh mục này đều đến từ cảm thụ nội tại và thông tin cảm giác đầu vào từ thế giới, chúng trở nên có ý nghĩa thông qua việc phân loại, với sự hỗ trợ từ mạng lưới kiểm soát. Những khái niệm này rõ ràng là thực tại xã hội bởi vì chúng không tồn tại ở tất cả các nền văn hóa, ngược lại, bộ não là bộ não là bộ não. Vì vậy, với tư cách là một lĩnh vực, tâm lý học cứ liên tục khám phá lại những hiện tượng giống nhau và đặt cho chúng những cái tên mới và tìm kiếm chúng ở những vị trí mới trong não. Đó là lý do tại sao chúng ta có hàng trăm khái niệm cho “cái tôi”. Ngay cả các mạng lưới trong não cũng có nhiều tên gọi. Mạng lưới chế độ mặc định, một phần của mạng lưới cảm thụ nội tại, có nhiều bí danh hơn cả Sherlock Holmes.

Khi chúng ta hiểu nhầm tính chất xã hội thành tính chất vật chất, chúng ta đã hiểu nhầm thế giới và hiểu nhầm chính mình. Nói như vậy, thì thực tại xã hội chỉ là một siêu cường nếu chúng ta biết rằng chúng ta có nó.

Từ ba điều không thể tránh khỏi của tâm trí này, chúng ta đã hiểu rằng quan điểm kiến tạo dạy chúng ta phải biết cẩn thận hơn. Trải nghiệm của bạn không phải là khung cửa sổ để nhìn vào thực tại. Thay vào đó, bộ não của bạn được thiết lập để định hình thế giới của bạn, được dẫn dắt bởi những thứ liên quan đến ngân sách cơ thể bạn, và sau đó, bạn xem mô hình thế giới này chính là thực tại. Những trải nghiệm trong từng khoảnh khắc của bạn có thể đem lại cho bạn cảm giác như thể nó là các trạng thái tâm lý riêng biệt nối đuôi nhau, giống như các hạt trên một sợi dây, nhưng như bạn đã học trong cuốn sách này, hoạt động của não bộ của bạn diễn ra liên tục trong các mạng lưới cốt lõi nội tại. Bạn có thể có cảm giác như thể các trải nghiệm của mình bị kích thích từ thế giới bên ngoài hộp sọ, nhưng thực ra chúng được tạo ra từ cơn bão dự đoán và chỉnh sửa bên trong bạn. Điều trớ trêu là, mỗi chúng ta đều có một bộ não tạo ra một tâm trí để hiểu nhầm chính nó.

Trong khi quan điểm kiến tạo ủng hộ chủ nghĩa hoài nghi, thì thuyết tinh chất lại gắn kết sâu sắc với sự chắc chắn. Nó cho rằng, “Bộ não của bạn được thể hiện bởi tâm trí của bạn.” Bạn có các suy nghĩ, do đó trong não của bạn phải có các trung tâm để tạo ra suy nghĩ. Bạn trải nghiệm các cảm xúc, do đó trong não bạn phải có các trung tâm để tạo ra cảm xúc. Bạn nhìn thấy bằng chứng trong các suy nghĩ, cảm xúc và nhận thức của những người khác trong thế giới bên ngoài, do đó, các trung tâm não bộ tương ứng phải mang tính phổ quát, và mọi người đều có các tinh chất tâm trí giống nhau. Gene được cho là đã sản sinh ra một bộ não giống nhau ở toàn bộ loài người.  Bạn cũng nhìn thấy cảm xúc ở động vật và – Darwin thậm chí còn nhìn thấy cảm xúc ở loài ruồi – ví thế, những sinh vật này cũng phải có những trung tâm não phổ quát giống như bạn. Các hoạt động thần kinh đi từ trung tâm này đến trung tâm khác như các vận động viên chuyền gậy trong các cuộc chạy thi tiếp sức.

Thuyết tinh chất không chỉ đưa ra quan điểm về bản chất con người mà còn là thế giới quan. Nó ngụ ý rằng vị trí của bạn trong xã hội được định hình bởi gen của bạn. Do đó, nếu bạn thông minh hơn, nhanh hơn hoặc mạnh mẽ hơn những người khác, bạn có thể thành công một cách chính đáng trong khi người khác thì không. Mọi người sẽ có được thứ xứng đáng với họ và họ xứng đáng với thứ mà họ có. Quan điểm này là một niềm tin trong một thế giới công bằng về gene, được chống lưng bởi một hệ tư tưởng nghe có vẻ mang tính khoa học.

Những thứ mà chúng ta cho là “chắc chắc” – cảm giác về việc biết điều gì là thật về bản thân mình, về những người xung quanh và về thế giới xung quanh, là một ảo giác mà bộ não đã tạo ra để giúp chúng ta sống sót mỗi ngày. Đôi khi, gạt bỏ một chút “chắc chắn” này cũng là một ý tưởng hay. Ví dụ, chúng ta đều nghĩ về bản thân và người khác với những tính cách nhất định. Anh này “hào phóng”. Cô này “trung thành”. Còn ông sếp thì “khốn nạn”. Cảm giác chắc chắn của chính chúng ta khiến chúng ta xem “hào phóng”, “trung thành” và “khốn nạn” như những tinh chất thực sự tồn tại trong con người họ, và như thể chúng ta có thể phát hiện ra các tinh chất này và đo lường chúng. Điều này không chỉ xác định hành vi của chúng ta với họ; mà chúng ta còn cảm thấy hành vi của mình là hợp lý, ngay cả khi anh chàng “hào phóng” đang bòn rút bạn, cô gái “trung thành” đang bí mật chăm lo cho bản thân cô ấy, và ông sếp “khốn nạn” của bạn đang dành tâm trí để lo lắng cho đứa con đang bị ốm ở nhà. Sự chắc chắn khiến chúng ta bỏ qua những lời giải thích khác. Ý tôi không phải là chúng ta ngu ngốc hay thiếu trang bị để nắm bắt thực tại. Ý tôi là chẳng có thứ thực tại nào để nắm bắt cả. Bộ não của bạn có thể tạo ra nhiều hơn một cách giải thích cho các thông tin cảm giác đầu vào xung quanh bạn, không phải vô số cách giải thích – nhưng chắc chắn là nhiều hơn một cách giải thích.

Một liều nghi ngờ lành mạnh mang lại một thế giới quan khác với loại thế giới công bằng về mặt gene của quan điểm cổ điển. Vị thế của bạn trong xã hội này không phải là ngẫu nhiên, mà cũng không phải không thể tránh khỏi được. Hãy xem xét trường hợp của một đứa bé người Mỹ gốc Phi sinh ra trong một gia đình nghèo khó. Cô bé sẽ ít có khả năng nhận được đầy đủ dinh dưỡng trong những năm đầu đời để phát triển não bộ - cụ thể là, dinh dưỡng kém sẽ tạo ra các ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của vỏ não trước (prefrontal cortex – PFC). Những neuron này rất quan trọng cho việc học (việc xử lý lỗi dự đoán) và kiểm soát; kích thước và hoạt động của các vùng trong vỏ não trước lại liên kết tới những kỹ năng cần thiết để học tập ở trường. Dinh dưỡng kém đồng nghĩa với lớp vỏ não trước mỏng hơn, và điều này khiến cho năng lực học tập kém hơn, và bằng cấp ít hơn, ví dụ như không tốt nghiệp trung học, sẽ lại dẫn đến nghèo khó. Trong vòng lẩn quẩn này, định kiến xã hội về chủng tộc, thứ vốn dĩ chỉ là thực tại xã hội, có thể trở thành thực tại vật lý liên quan đến thiết lập não, từ đó khiến cho chúng ta cảm thấy như thể nguyên nhân của sự nghèo khó đến từ mỗi gene.

Một số nghiên cứu chỉ ra rằng những định kiến như vậy chính xác hơn chúng ta tưởng. Ví dụ, Steven Pinker viết trong The Blank Slate rằng: “những người tin rằng người Mỹ gốc Phi hưởng trợ cấp xã hội nhiều hơn người da trắng… họ không hoàn toàn vô lý hay cố chấp. Những niềm tin này là chính xác” khi so sánh với số liệu điều tra dân số. Ông và những người khác lập luận rằng, nhiều nhà khoa học cho rằng những định kiến trên là không chính xác bởi vì chúng ta bị buộc phải tin vào sự đúng đắn chính trị (political correctness -một thuật ngữ được sử dụng để mô tả ngôn ngữ, chính sách, hoặc các biện pháp có mục đích là tránh các hành vi gây bất lợi cho các thành viên của một số nhóm cụ thể trong xã hội.) , chúng ta xem thường những người bình thường, hoặc chúng ta thiên vị bởi những giả định hỗn độn của chúng ta về bản chất con người. Nhưng như bạn vừa thấy, còn có một khả năng khác: số liệu thống kê phúc lợi chính thức này là chính xác bởi vì chúng ta, với tư cách là một xã hội, đã làm cho những dữ liệu này trở nên chính xác.

Bằng các giá trị và thực tiễn của mình, chúng ta hạn chế các lựa chọn và thu hẹp khả năng đối với một số người, trong khi mở rộng chúng đối với những người khác, và sau đó chúng ta nói rằng các định kiến của mình là chính xác. Chúng chỉ chính xác theo một thực tại xã hội chung, trong đó các khái niệm tập thể đã được tạo ra ngay từ đầu. Con người không phải là một mớ banh bi-da va vào nhau rồi chạy vòng quanh. Chúng ta là một mớ các bộ não điều chỉnh ngân sách cơ thể nhau, xây dựng các khái niệm và thực tại xã hội cùng với nhau, và từ đó giúp kiến tạo nên tâm trí của nhau và tạo ra kết quả cho nhau.

Một số độc giả có thể cho rằng loại thế giới quan của người theo chủ nghĩa kiến tạo này là một quan điểm học thuật tháp ngà tự do đầy định kiến từ “Vùng đất mà mọi thứ đều tương đối”. Trên thực tế, quan điểm này cắt ngang các đường lối chính trị truyền thống. Ý tưởng rằng bạn được đóng khuôn bởi văn hóa của bạn là định kiến của phái tự do. Đồng thời, như chúng ta đã bàn tới trong chương 6, bạn phải chịu trách nhiệm cho những khái niệm mà bạn sở hữu, thứ tác động tới hành vi của bạn. Trách nhiệm cá nhân là một ý tưởng mang nặng tính bảo thủ. Bạn cũng phải chịu trách nhiệm phần nào đó cho người khác, không chỉ những người kém may mắn hơn mà còn cho thế hệ tương lai, vì bạn đã tác động đến thiết lập não của họ. Việc bạn đối xử với người khác như thế nào là một vấn đề quan trọng. Đây là một ý tưởng cơ bản trong tôn giáo. Giấc Mơ Mỹ truyền thống cho rằng, “Nếu bạn làm việc chăm chỉ, thì chuyện gì cũng có thể”. Quan điểm kiến tạo đồng ý rằng bạn là tác nhân chính trong định mệnh của chính mình, nhưng bạn bị bao vây bởi môi trường xung quanh bạn. Thiết lập não của bạn, thứ được xác định một phần bởi văn hóa của bạn, sẽ tác động đến các lựa chọn sau này của bạn.

Tôi không biết bạn thì thế nào, nhưng tôi cảm thấy có chút an ủi khi có hơi không chắc chắn về thứ gì đó. Thật thoải mái khi đặt câu hỏi về những khái niệm mà chúng ta đã có sẵn, và thật sảng khoái khi tò mò xem khái niệm nào mang tính vật lý, và khái niệm nào thuộc về xã hội. Có một loại tự do khi nhận ra rằng chúng ta đang phân loại để tạo ra ý nghĩa, và do đó, chúng ta có thể thay đổi các ý nghĩa bằng cách tái phân loại. Sự không chắc chắn có nghĩa là mọi thứ có thể rất khác với vẻ ngoài của nó. Nhận thức này mang đến hy vọng trong những thời điểm khó khăn và có thể tạo ra sự trân trọng hiện tại trong những thời khắc tốt đẹp của cuộc đời.

Giờ là lúc tôi uống thuốc Kool-Aid của chính mình. Dự đoán, cảm thụ nội tại, phân loại, và các vai trò mà tôi đã dùng để mô tả cho các mạng lưới não bộ khác nhau không phải là những sự thật khác quan. Chúng là các khái niệm được các nhà khoa học phá tminh ra để mô tả hoạt động vật lý trong não bộ. Tôi tin rằng những khái niệm này là phương thức tốt nhất để hiểu một số tính toán do neuron tạo ra. Tuy nhiên, có nhiều cách khác để đọc hiểu sơ đồ thiết lập của não bộ (một số trong đó thậm chí còn không được gọi là sơ đồ thiết lập). Lý thuyết kiến tạo cảm xúc gắn liền mật thiết với bộ não hơn thứ được gọi là tinh chất tâm lý hay cơ quan trí óc. Trong tương lai, tôi sẽ không ngạc nhiên nếu xuất hiện nhiều khái niệm hữu ích hơn cho các cấu trúc não bộ. Như Firestein đã nói trong cuốn Ignorance, không có thứ gì “an toàn trước thế hệ các nhà khoa học tiếp theo với thế hệ các công cụ tiếp theo.”

Vật lý, hóa học và sinh học đã bắt đầu với các lý thuyết trực quan, chủ nghĩa tinh chất, bắt nguồn từ chủ nghĩa hiện thực ngây thơ và sự chắc chắn. Chúng ta đã tiến xa hơn những ý tưởng này bởi vì chúng ta nhận thấy rằng những quan sát cũ chỉ đúng trong những điều kiện nhất định. Vì vậy, chúng ta đã phải thay thế các khái niệm của mình. Một cuộc cách mạng khoa học hoán đổi một thực tại xã hội này bằng một thực tại xã hội khác, giống như một cuộc cách mạng chính trị với một chính phủ mới và một trật tự xã hội mới. Trong khoa học, hết lần này đến lần khác, những tập hợp khái niệm mới của chúng ta đã đưa chúng ta đi từ chủ nghĩa tinh chất sang sự đa dạng, và từ chủ nghĩa hiện thực ngây thơ sang thuyết kiến tạo.

Lý thuyết kiến tạo cảm xúc dự đoán và kết hợp các bằng chứng khoa học mới nhất về cảm xúc, tâm trí, và bộ não, tuy rằng bộ não vẫn có quá nhiều bí ẩn. Chúng ta đã phát hiện ra rằng các neuron không chỉ là những tế bào quan trọng trong bộ não; các tế bào thần kinh đệm, bị bỏ qua từ lâu, hóa ra lại hoạt động rất nhiều, thậm chí có thể giao tiếp với nhau mà không cần khớp thần kinh. Hệ thống thần kinh ruột, kiểm soát dạ dày và ruột của bạn, ngày càng quan trọng hơn để hiểu được tâm trí, nhưng nó cực kỳ khó đo lường và do đó phần lớn chưa được khám phá. Chúng ta thậm chí còn phát hiện ra rằng vi sinh vật trong dạ dày của bạn có ảnh hưởng rất lớn đến trạng thái tâm lý mà không ai biết được chúng làm điều này bằng cách nào hoặc tại sao. Có rất nhiều nghiên cứu đổi mới đang diễn ra đến nỗi trong vòng mười năm sau, các chuyên gia ngày nay có thể cảm thấy bản thân họ giống như Plato với cỗ máy quét não.

Khi các công cụ của chúng ta được cải thiện và kiến ​​thức của chúng ta ngày càng phát triển, tôi tin tưởng rằng chúng ta sẽ khám phá ra rằng bộ não của chúng ta thậm chí còn kiến tạo nhiều thứ hơn những gì chúng ta đã biết ở hiện tại. Có lẽ các thành phần cốt lõi như cảm thụ nội tại và các khái niệm một ngày nào đó sẽ bị xem là mang tính tinh chất quá nhiều, khi mà chúng ta phát hiện ra thứ gì đó thậm chí còn được kiến tạo tinh vi hơn ở hậu trường. Câu chuyện khoa học của chúng ta vẫn đang tiếp tục phát triển, nhưng điều đó không có gì đáng ngạc nhiên. Tiến bộ trong khoa học không phải lúc nào là để đi tìm câu trả lời; mà nó còn là để đặt ra những câu hỏi hay hơn. Ngày nay, những câu hỏi đó đã buộc mô hình trong khoa học về cảm xúc phải thay đổi, và rộng hơn là trong khoa học về tâm trí và não bộ, chúng phải thay đổi.

Trong những năm tới, tôi hy vọng tất cả chúng ta sẽ ngày càng ít thấy những câu chuyện tin tức về trung tâm não tạo ra cảm xúc ở người hoặc chuột hoặc ruồi giấm, và chúng ta sẽ thấy nhiều hơn nữa về cách mà não và cơ thể tạo ra cảm xúc. Trong khi đó, bất cứ khi nào bạn nhìn thấy một câu chuyện tin tức mang đầy tính tinh chất về cảm xúc, nếu bạn thậm chí cảm thấy nghi ngờ, thì chính bạn đang tham gia vào cuộc cách mạng khoa học này.

Giống như hầu hết các thay đổi mô hình quan trọng trong khoa học, điều này có tiềm năng giúp thay đổi sức khỏe, luật pháp và con người của chúng ta. Để tạo ra một thực tại mới. Nếu từ những trang sách này, bạn đã biết được rằng bạn là kiến ​​trúc sư tạo ra trải nghiệm của chính mình — và trải nghiệm của những người xung quanh — thì chúng ta sẽ cùng nhau xây dựng thực tại mới đó.

Read More

How Emotions Are Made - chương 12

 

Chương 12

Một con chó đang gầm gừ thì có phải là nó đang tức giận không?

Tôi không nuôi chó, nhưng một vài chú chó mà các bạn của tôi nuôi là một phần trong gia đình lớn của tôi. Chú chó mà tôi yêu thích nhất là Rowdy, một con Golden Retriever lai giống chó Núi Bernese, Rowdy là một chú chó năng động, vui tươi, luôn sẵn sàng hành động. Đúng như tên gọi của mình, Rowdy là hay sủa và hay nhảy, và chú ta thường gầm gừ khi những chú chó khác hoặc người lạ đến gần. Nói cách khác, chú ta đúng là một chú chó.

Đôi khi Rowdy không thể tự kềm chế chính mình, và có một lần, điều này đã khiến chú suýt chút nữa gặp tai họa. Rowdy đang đi dạo với chủ của mình, Angie – bạn tôi, thì một cậu bé đến gần để vuốt ve nó. Rowdy không quen biết cậu bé này và nó bắt đầu nhảy chồm lên và sủa cậu bé. Cậu bé không bị bất kỳ tổn thương có thể nhìn thấy được nào, vì thế, mọi người đều ngạc nhiên khi mẹ cậu bé (người không có mặt ở đó vào lúc Rowdy sủa cậu bé) tố cáo và khiến Rowdy bị bắt và phải đăng ký là “một con chó nguy hiểm tiềm ẩn”. Rowdy tội nghiệp phải đeo rọ mõm khi đi dạo trong nhiều năm sau đó. Và nếu Rowdy nhảy chồm lên ai đó, chú ta sẽ bị phán là nguy hiểm và thậm chí có thể bị cho an tử.

Cậu bé sợ Rowdy và nhận thấy chú chó này đang giận dữ và nguy hiểm. Khi bạn nhìn thấy một chú chó đang sủa và gầm gữ, thì liệu có phải chú ta đang cảm thấy giận dữ hay không? Hay đây chỉ đơn thuần là hành vi bảo vệ lãnh thổ, hay một nỗ lực quá khích để tỏ ra thân thiện? Tóm lại, chó có thể trải nghiệm cảm xúc không?

Tất nhiên, theo lẽ thường, câu trả lời có vẻ là có, Rowdy có cảm xúc khi chú ta gầm gừ. Nhiều cuốn sách nổi tiếng đã khám phá vấn đề này, chẳng hạn như Cuộc sống cảm xúc của động vật của Marc Bekoff, Animal Wise của Virginia Morell, Các chú chó yêu thương chúng ta như thế nào của Gregory Berns. Hàng chục câu chuyện tin tức cũng cho chúng ta thấy những khám phá khoa học về cảm xúc của động vật: chó trở nên ghen tị, chuột cảm thấy hối hận, tôm càng cảm thấy lo lắng, và thậm chí ruồi sợ hãi trước những cái vỉ đập ruồi. Và đương nhiên, nếu bạn sống với thú cưng, bạn hẳn sẽ nhìn thấy chúng hành xử theo một cách trông có vẻ là đầy cảm xúc: chúng chạy quanh khi sợ hãi, nhảy lên khi vui sướng, rên rỉ khi đau buồn, khoan khoái khi được yêu thương. Có vẻ rõ ràng là động vật cũng trải nghiệm cảm xúc giống như chúng ta. Carl Safina, tác giả của cuốn Vượt qua từ ngữ: Động vật nghĩ gì và cảm thấy gì, đã nói ngắn gọn: “Vậy, các loài động vật khác có cảm xúc giống con người không? Có, chúng có. Con người có cảm xúc giống như động vật không? Có, gần như giống hệt nhau.”


Một vài nhà khoa học thì không chắc lắm. Họ cho rằng cảm xúc ở loài vật chỉ là ảo tưởng: rằng, Rowdy có hệ thống các mạch thần kinh trong não kích thích các hành vi sinh tồn của nó, nhưng không tạo ra cảm xúc. Theo quan điểm của họ, Rowdy có thể tiến tới trước hoặc rút lui về phía sau, để thống trị hoặc để khuất phục, để bảo vệ lãnh thổ của mình hoặc để tránh một mối đe dọa. Kết quả là, trong những phân mục này, Rowdy có thể trải nghiệm vui vẻ, đau đớn, kích động hoặc các loại cảm tính khác, nhưng chú ta không có bộ máy tinh thần để trải nghiệm nhiều hơn thế. Cách giải thích này thực sự không thỏa mãn vì nó đi ngược với trải nghiệm của chính chúng ta. Hàng triệu chủ sở hữu vật nuôi sẽ sẵn sàng đặt tiền để cược rằng những con chó của họ gầm gừ tức giận, rũ rượi trong nỗi buồn và cúi đầu vì xấu hổ. Thật khó mà chấp nhận được rằng những nhận thức này chỉ là các ảo tưởng được xây dựng trên các phản ứng cảm xúc chung.

Bản thân tôi cũng không thể chống lại sức hấp dẫn đến từ cảm xúc của động vật. Trong nhiều năm, con gái tôi nuôi một đàn chuột lang trong phòng ngủ con bé. Một ngày nọ, chúng tôi có được một con chuột lang nhỏ tên là Cupcake. Trong tuần đầu tiên khi về nhà mới, đêm nào Cupcake cũng như đang khóc một mình ở cái chuồng lạ. Tôi bỏ nó vào túi áo len, ấm áp và thoải mái, và nó rên rỉ một cách vui vẻ. Bất cứ khi nào tôi lại gần chuồng, những con chuột lang khác đều rít lên và bỏ chạy đi chỗ khác, nhưng Cupcake bé nhỏ thì ngồi im như thể đang chờ tôi bế nó lên, rồi lập tức chui vào cổ tôi ngoáy ngoáy. Những lúc đó, thật khó để không tin rằng nó yêu thương tôi. Trong nhiều tháng, Cupcake là người bạn đồng hành trong đêm khuya của tôi. Nó sẽ nép vào lòng tôi, rầm rì, khi tôi làm việc tại bàn làm việc của mình. Mọi người trong nhà đều nghi ngờ rằng Cupcake thực sự là một con chó con bị mắc kẹt trong cơ thể một con chuột lang. Tuy nhiên, là một nhà khoa học, tôi biết rằng nhận thức của tôi không nhất thiết là đúng với cảm giác thực sự của Cupcake bé nhỏ.

Trong chương này, chúng ta sẽ khám phá một cách hệ thống xem động vật nào có khả năng có cảm xúc, dựa trên hệ thống mạch thần kinh trong bộ não của chúng và dựa trên các nghiên cứu thực nghiệm. Chúng ta cũng phải đặt các cảm xúc yêu mến dành cho thú cưng của mình cũng như thuyết tinh chất về bản chất con người sang một bên, để tập trung nhìn vào các bằng chứng khoa học. Các nhà khoa học khá đồng ý rằng nhiều loài động vật trên trái đất, từ côn trùng đến sâu bọ đến con người, đều có một hệ thống thần kinh có mục đích cơ bản giống nhau. Thậm chí, họ còn ít nhiều dồng ý rằng bộ não động vẫn được xây dựng theo một bản thiết kế chung. Nhưng bất kỳ ai đã từng học thiết kế một ngôi nhà đều biết, rằng vấn đề ở đây chính là các chi tiết nhỏ khi chuyển thể một bảng thiết kế thành một thứ thực sự tồn tại. Khi so sánh não bộ của các loài vật khác nhau, thậm chí ngay cả khi chúng có những mạng lưới vùng não bộ giống nhau, sự khác biệt siêu nhỏ trong thiết lập đôi khi cũng quan trọng ngang với sự tương đồng lớn.

Lý thuyết kiến tạo cảm xúc khiến chúng ta đặt câu hỏi liệu động vật có ba thành phần cần thiết để tạo ra cảm xúc hay không. Thành phần đầu tiên là khả năng tương tác: động vật có thiết bị thần kinh để tạo ra các cảm giác và trải nghiệm như một cảm tính hay không? Thành phần thứ hai là các khái niệm cảm xúc: liệu động vật có học được các khái niệm thuần tinh thần để phân loại các cảm giác của chúng và tạo ra cảm xúc như chúng ta hay không? Cuối cùng, đó là thực tại xã hội: liệu động vật có chia sẻ các khai niệm cảm xúc với nhau, từ đó truyền lại cho thế hệ tiếp theo.

Để xem những loài động vật nào có khả năng cảm nhận cảm xúc, chúng ta sẽ tập trung chủ yếu vào khỉ và vượn lớn vì chúng là những người anh em họ gần nhất về mặt tiến hóa của chúng ta. Trong quá trình này, chúng ta sẽ khám phá xem liệu động vật có những loại cảm xúc giống với những cảm xúc chúng ta cảm nhận hay không… và câu trả lời sẽ là một cú twist bất ngờ.

Tất cả các loài động vật đều điều chỉnh ngân quỹ cơ thể để duy trì sự sống, vì vậy tất cả chúng đều phải có một mạng lưới cảm thụ nội tại nào đó. Phòng thí nghiệm của tôi, cùng với các nhà khoa học thần kinh Wim Vanduffel và Dante Mantini, đã xác minh mạng lưới này ở khỉ macaque và chúng tôi đã thành công. (Khỉ macaque và con người có chung tổ tiên cách đây khoảng 25 triệu năm.) Mạng lưới cảm thụ nội tại của loài khỉ macaque có một số bộ phận tương tự như mạng lưới cảm thụ nội tại của con người mà chúng ta đã phát hiện ra, và chúng cũng có một số bộ phận khác biệt. Mạng lưới ở khỉ macaque được kiến tạo cho chức năng dự đoán giống hệt như mạng lưới ở con người.

Khỉ macaque cũng có thể trải nghiệm cảm tính. Đương nhiên là chúng không thể nói với chúng ta chúng đang cảm thấy như thế nào, nhưng một trong những sinh viên tiến sĩ của tôi, Eliza Bliss-Moreau, có bằng chứng về việc chúng thể hiện các thay đổi cơ thể giống nhau trong những tình huống giống nhau, y như con người thể hiện khi chúng ta cảm nhận một cảm xúc nào đó. Eliza nghiên cứu loài khỉ tại Trung tâm Nghiên cứu Linh trưởng Quốc gia California tại Đại học California, Davis. Những con khỉ của cô ấy đã xem hàng trăm video về những con khỉ khác chơi đùa, đánh nhau, ngủ, v.v., trong khi Eliza theo dõi chuyển động mắt và phản ứng tim mạch của chúng. Cô nhận thấy rằng hoạt động trong hệ thống thần kinh tự động của khỉ cũng tương tự như hoạt động trong hệ thống thần kinh tự động của con người khi xem những video này. Ở người, hoạt động của hệ thần kinh này có liên quan đến cảm xúc mà chúng cảm nhận được, điều này cho thấy khỉ macaque cũng cảm thấy cảm xúc dễ chịu khi xem các hành vi tích cực như kiếm ăn và chải chuốt, và cảm xúc khó chịu khi xem các hành vi tiêu cực như co người lại.

Dựa trên điều này và dựa trên các bằng chứng sinh học khác, khá chắc rằng khỉ macaque đã xử lý các cảm thụ nội tại và chúng cảm nhận được cảm xúc, và nếu đúng như vậy thì các loài vượn lớn như tinh tinh, tinh tinh lùn, khỉ đột và đười ươi chắc chắn cũng cảm nhận được cảm xúc. Đối với các loài động vật có vú nói chung thì khó có thể khẳng định điều này hơn. Chắc chắn rằng chúng có cảm thấy vui vẻ và đau đớn, cũng như tỉnh táo và mệt mỏi. Nhiều động vật có vú có các mạch thần kinh nhìn tương tự như mạch thần kinh của chúng ta, nhưng chúng có các chức năng khác, do đó chúng ta không thể trả lời câu hỏi này chỉ bằng cách kiểm tra thiết lập của bộ não. Theo tôi biết, chưa có ai đã từng nghiên cứu cụ thể về hệ thống thần kinh cảm thụ nội tại ở loài chó, nhưng từ hành vi của chúng, chúng ta có thể chắc rằng chúng có đời sống cảm xúc. Còn chim, cá và loài bò sát thì sao? Chúng ta không biết chắc. Tôi phải thừa nhận rằng những câu hỏi này làm tôi bận tâm với tư cách là một thường dân (như cách mà chồng tôi gọi tôi trong những lúc tôi không phải là nhà khoa học). Tôi không thể mua thịt hoặc trứng trong siêu thị, hay cố gắng đuổi những con ruồi giấm phiền phức kinh khủng, mà không tự hỏi bản thân mình… những sinh vật này cảm thấy gì?

Tôi nghĩ tốt nhất là chúng ta nên cho rằng tất cả các loài động vật đều có cảm xúc. Tôi nhận thấy cuộc thảo luận này có khả năng đưa chúng ta từ vùng đất của khoa học đến vùng đất của đạo đức, đến gần với các vấn đề đạo đức như tổn thương và sự đau đớn ở động vật thí nghiệm, ở những sinh vật được nuôi trong nhà máy để làm thức ăn và liệu cá có cảm thấy đau đớn hay không khi một cái móc móc vào miệng của chúng. Các chất hóa học tự nhiên giúp giảm thiểu những cơn đau trong hệ thần kinh của chúng ta, như opioid, cũng được tìm thấy trong cá, giun tròn, ốc, tôm, cua và một số côn trùng. Ngay cả những con ruồi nhỏ cũng có thể cảm thấy đau đớn; chúng ta đã biết rằng loài ruồi có thể học cách tránh xa các mùi hương liên quan đến điện giật.

Triết gia thế kỷ mười tám Jeremy Bentham nghĩ rằng một con vật chỉ nên được đưa vào phạm vi đạo đức của con người nếu chúng ta chứng minh được con vật có thể cảm nhận được niềm vui hoặc cảm giác đau đớn. Tôi không đồng ý. Một con vật đáng được đưa vào phạm vi đạo đức của chúng ta nếu có bất kỳ khả năng nào chứng minh rằng chúng có thể cảm thấy đau đớn. Điều đó có ngăn tôi giết một con ruồi không? Không, nhưng tôi sẽ làm điều đó thật nhanh.

Khi nói về cảm xúc, khỉ macaque cũng có một điểm khác biệt quan trọng so với con người. Có rất nhiều rất nhiều các vật thể và sự kiện trong thế giới của bạn, từ những côn trùng tí hon cho đến những ngọn núi khổng lồ, chúng đều tạo ra sự biến động trong ngân sách cơ thể bạn và làm thay đổi cảm tính của bạn. Nghĩa là, bạn có một ngách cảm tính rất lớn. Tuy nhiên, khỉ macaque không quan tâm tới nhiều thứ như vậy. Ngách tâm lý của chúng nhỏ hơn chúng ta rất nhiều; cảnh tượng một ngọn núi xinh đẹp từ đằng xa không ảnh hưởng mảy may đến ngân sách cơ thể chúng. Đơn giản là, có nhiều thứ gây ảnh hưởng đến chúng ta hơn so với loài khỉ macaque.

Ngách cảm tính là một lĩnh vực trong cuộc sống nơi mà kích thước thực sự quan trọng. Trong phòng thí nghiệm, nếu chúng tôi giới thiệu một đứa trẻ mới biết đi một tập hợp các món đồ chơi, thì những món đồ chơi thường sẽ nằm ở ngách cảm tính của đứa bé. Con gái Sophia của tôi sẽ phân loại đồ chơi của nó theo hình dáng, màu sắc, kích thước, mức độ yêu thích, hết lần này đến lần khác, mài giũa một cách có thể thống những khái niệm đa dạng liên quan. Còn loài macaque thì không. Đồ chơi đối với chúng không hề thú vị và cũng không ảnh hưởng đến ngân sách cơ thể chúng, và đồ chơi cũng không khiến chúng hình thành các khái niệm. Chúng ta phải thưởng cho khỉ macaque một phần thưởng nào đó, như một món thức ăn hay thức uống ngon lành, để chúng đưa đồ chơi và ngách cảm tính của chúng, từ đó chúng có thể học thống kê. (Eliza nói với tôi rằng món ăn uống ưa thích của khỉ là trái cây khô, nước nho, cheerio vị đậu phộng mật ong, nho, dưa leo, quýt và bỏng ngô.) Lặp lại các phần thưởng này đủ nhiều thì khỉ macaque sẽ họ được sự tương đồng ở các món đồ chơi.

Trẻ sơ sinh loài người cũng nhận được phần thưởng từ người chăm sóc chúng: không chỉ là các món ăn uống ngon lành như sữa mà còn là sự chăm sóc hàng ngày đối với ngân sách cơ thể chúng. Người chăm sóc trở thành một phần trong ngách cảm tính của đứa bé bởi vì họ cho nó ăn, giữ cho nó ấm áp, v.v. Đứa bé được sinh ra với các khái niệm sơ khai về mùi hương và giọng nói của mẹ nó, điều mà nó học được khi còn ở trong tử cung. Trong những tuần đầu đời, nó học cách kết hợp các quy luật tri giác khác của mẹ mình, chẳng hạn như cảm giác khi chạm vào và khuôn mặt của mẹ, bởi vì mẹ đang điều chỉnh ngân sách cơ thể của nó. Mẹ và những người chăm sóc khác cũng có thể dẫn dắt sự chú ý của đứa trẻ đến những thứ thú vị khác trong thế giới bên ngoài. Đứa bé sẽ nhìn theo ánh mắt của họ đến một vật thể nào đó (ví dụ như một chiếc đèn), sau đó họ nhìn đứa bé, và nói về thứ mà nó đang nhìn. Họ nói từ “đèn” với nó một cách có chủ đích, cảnh báo và định hướng nó bằng giọng điệu “nói chuyện trẻ con”.

Những loài linh trưởng khác không có sự chú ý này, và chúng không dùng nó để điều chỉnh ngân sách cơ thể của nhau giống như loài người. Một con khỉ macaque mẹ có thể nhìn theo ánh nhìn của con nó, nhưng nó sẽ không nhìn tới nhìn lui từ vật thể tời mặt con mình, như thể đang mời gọi đứa trẻ nghĩ xem trong tâm trí của nó đang nghĩ gì. Những con non động vật linh trưởng học các khái niệm mà không có các phần thưởng rõ ràng đến từ sự hiện diện của mẹ chúng, nhưng những khái niềm này không đa dạng và phong phú như ở trẻ con loài người.

Tại sao ngách cảm tính của loài người và loài khỉ macaque lại có sự khác biệt lớn về kích thước như vậy? Đầu tiên, mạng lưới cảm thụ nội tại ở khỉ macaque kém phát triển hơn so với loài người, cụ thể là ở các mạch thần kinh giúp kiểm soát lỗi dự đoán. Điều này có nghĩa là khỉ macaque không linh hoạt như con người trong việc hướng sự chú ý đến những thứ ở thế giới ngoài dựa trên trải nghiệm trong quá khứ. Quan trọng hơn, não người lớn gấp năm lần não của khỉ macaque. Chúng ta có nhiều kết nối trong mạng lưới kiểm soát và những phần trong mạng lưới cảm thụ nội tại hơn. Não người dùng loại hệ thống máy móc hạng nặng này để nén và tóm tắt lỗi dự đoán theo cách mà chúng ta thảo luận trong chương 6. Điều này cho phép chúng ta kết hợp và xử lý nhiều thông tin cảm giác từ nhiều nguôn một cách hiệu quả hơn so với khỉ macaque, từ đó chúng ta học được các khái niệm thuần tinh thần. Đó là lý do tại sao ngách cảm tính của bạn có thể chứa được một ngọn núi xinh đẹp còn khỉ macaque thì không.

Mạng lưới cảm thụ nội tại, cùng với ngách cảm tính mà nó đã tạo ra, không đủ để cảm nhận và nhận thức cảm xúc. Do đó, bộ não cũng phải được trang bị để xây dựng nên hệ thống khái niệm, kiến tạo nên các khái niệm cảm xúc, và tạo ra ý nghĩa cho các cảm giác để chúng trở thành cảm xúc của chúng ta và của người khác. Nếu chúng ta giả định về một con khỉ macaque có cảm xúc, thì khi nó nhìn thấy một con khỉ macaque khác đang đu đưa trên cây, nó phải có khả năng không chỉ nhận ra các chuyển động cơ thể mà còn phải nhận ra một phân mục của “niềm vui”.

Chắc chắn là động vật có thể học được các khái niệm. Khỉ, cừu, dê, bò, gấu trúc, chuột đồng, gấu trúc, hải cẩu bến cảng, cá heo mũi chai và nhiều loài động vật khác học các khái niệm bằng khứu giác. Có thể bạn không cho rằng khứu giác là một tri thức khái niệm, nhưng mỗi khi bạn ngửi thấy một mùi quen thuộc, như mùi bắp rang bơ trong rạp chiếu phim, là bạn đang phân loại. Sự pha trộn của các chất hóa học trong không khí mỗi lúc một khác nhau, nhưng bạn vẫn cảm nhận được bắp rang bơ. Tương tự, hầu hết các loài động vật có vú sử dụng các khái niệm khứu giác để nhận ra bạn bè, kẻ thù và con cái. Nhiều loài động vật khác cũng học các khái niệm bằng thị giác hoặc âm thanh. Cừu có thể nhận ra nhau bằng khuôn mặt (!) Và dê thì bằng chất giọng.

Trong phòng thí nghiệm, động vật có thể học được các khái niệm khác nếu bạn thưởng cho chúng đồ ăn thức uống, mở rộng ngách cảm tính của chúng. Khỉ đầu chó có thể học cách phân biệt chữ “B” với chữ “3” bất kể phông chữ và khỉ macaque có thể phân biệt hình ảnh động vật với hình ảnh thức ăn. Khỉ macaque rhesus có thể hiểu khái niệm “Khỉ macaque rhesus” khác với “Khỉ macaque Nhật Bản”, mặc dù chúng là cùng một loài và chỉ khác nhau về màu sắc. (Điều này có nhắc bạn nhớ về điều gì đó liên quan đến con người không?) Khỉ macaque thậm chí có thể học các khái niệm để phân biệt các phong cách hội họa của Claude Monet, Vincent van Gogh và Salvador Dalí.

Tuy nhiên, các khái niệm mà động vật học được không giống với các khái niệm của con người. Con người kiến tạo lên các khái niệm dựa trên mục đích, và bộ não của khỉ macaque thì đơn giản là thiếu thiết lập cần thiết để làm điều đó. Cũng chính thiết lập bị thiếu này khiến cho ngách cảm tính của chúng nhỏ hơn rất nhiều.

Còn vượn thì sao – liệu chúng có thể kiến tạo các khái niệm dựa trên mục đích hay không? Tinh tinh, họ hàng về gene gần nhất của chúng ta, có bộ não lớn hơn loài khỉ macaque rất nhiều, bộ não của chúng cũng có thiết lập để kết hợp các thông tin cảm giác. Tuy nhiên, não người lớn gấp ba lần não của tinh tinh và được thiết lập nhiều hơn cho chức năng này. Nhưng điều này không loại trừ việc tinh tinh cũng có các khái niệm dựa trên mục tiêu. Chỉ là, não người được thiết lập tốt hơn để tạo ra các khái niệm thuần tinh thần, như là “sự giàu có”, trong khi não tinh tinh được thiết lập tốt hơn cho các khái niệm hành động và vật thể, như “ăn” và “thu thập” và “chuối”.

Loài vượn gần như là có thể hình thành khái niệm cho các hành vi thể chất, như đánh đu từ nhánh cây này sang nhánh cây khác. Câu hỏi là, liệu khi một con tinh tinh nhìn thấy những con tinh tinh đang đánh đu trên cây thì nó có nhận thức được một phân mục “vui vẻ” hay không? Để làm được điều này, thì con tinh tinh đang quan sát kia phải có được khái niệm thuần tinh thần và nó có thể suy luận được chủ đích của con tinh tinh đang đu đưa kia, từ đó tạo nên một suy luận về mặt tinh thần. Hầu hết các nhà khoa học đều cho rằng suy luận tinh thần chính là khả năng cốt lõi của tâm trí con người. Do đó, khá nguy hiểm nếu loài vượn có thể làm được điều đó. Chúng ta biết rằng khỉ thì không thể; chúng có thể hiểu được con người đang làm gì, nhưng chúng không thể hiểu được chúng ta đang nghĩ gì, khao khát thứ gì và cảm thấy như thế nào.

Khi nói về loài vượn, chúng ta có thể tin rằng chúng có thể tạo ra các suy luận tinh thần và kiến tạo các khái niệm dựa trên mục tiêu, nhưng chúng ta vẫn chưa thể kết luận chắc chắn về điều đó. Tinh tinh có thể có những điều kiện tiên quyết cho việc này, vì chúng có thể tạo ra một số điểm tương đồng về mặt tinh thần giữa những khác biệt về nhận thức. Ví dụ, chúng biết rằng báo có thể leo cây, rắn có thể leo cây, và khỉ cũng leo cây. Rõ ràng là tinh tinh có thể mở rộng khái niệm này đến một loài động vật mới – nếu chúng cũng có thể hành động tương tự như thế, như loài mèo nhà, và dự đoán rằng con mèo này sẽ leo lên một cái cây. Nhưng khái niệm “leo trèo” của loài người thì nhiều hơn hẳn một hành động; nó là một mục tiêu. Do đó, câu hỏi thực sự ở đây chính là, liệu tinh tinh có hiểu được rằng tất cả những hành động của một con người như leo lên các bậc thang, trèo lên thang, hay bò lên trên những hòn đá đều có chung một mục tiêu là “leo trèo” hay không. Nếu chúng thực sự làm được điều đó, chiến công tinh thần này sẽ cho chúng ta thấy rằng tinh tinh thực sự có thể vượt qua được sự tương đồng về thể chất, chúng có thể nhóm các phân mục leo trèo trông có vẻ rất khác nhau nhưng có cùng một mục tiêu tinh thần này vào chung một nhóm. Và nếu tinh tinh có thể hiểu được rằng việc tiến lên địa vị phía trên trong hệ thống phân cấp xã hội cũng là “leo trèo”, thì các khái niệm của chúng sẽ giống hệt như chúng ta. Như chúng ta đã biết trong chương 5, trẻ sơ sinh loài người có thể làm được những điều này, nếu chúng có một từ ngữ biểu thị khái niệm này. Từ đó, câu hỏi tiếp theo là, liệu vượn lớn có khả năng học các từ ngữ và dùng chúng để học các khái niệm giống cái cách mà trẻ sơ sinh loài người làm hay không.

Các nhà khoa học đã cố gắng dạy ngôn ngữ cho loài vượn từ những năm 1960, thường là bằng hệ thống ký hiệu trực quan như Ngôn ngữ ký hiệu của Mỹ vì bộ máy phát âm của chúng không thích ứng tốt với lời nói của con người. Vượn có thể học cách sử dụng hàng trăm từ hoặc hàng trăm biểu tượng khác để chỉ các đặc điểm cụ thể của thế giới nếu có phần thưởng đi kèm. Chúng thậm chí còn có thể kết hợp các biểu tượng để giao tiếp các yêu cầu phức tạp đòi hỏi thức ăn, như “ăn phô mai – muốn”, và “nhanh – kẹo cao su – muốn – ăn”. Các nhà khoa học vẫn đang tranh cãi về việc liệu vượn có hiểu được ý nghĩa của các biểu tượng hay không, hay chúng chỉ đang bắt chước các huấn luyện viên của chúng để đòi hỏi phần thưởng. Đối với chúng ta, câu hỏi quan trọng nhất ở đây là liệu vượn lớn tự chúng có thể học và dùng các từ ngữ hay biểu tượng mà không cần phần thưởng đi kèm hay không, và liệu chúng có thể từ mình kiến tạo các khái niệm thuần tinh thần như “sự giàu có” và “nỗi buồn” hay không.

Cho đến này, chúng ta có rất ít bằng chứng cho thấy rằng vượn có thể tự học và dùng các biểu tượng. Dường như chúng chỉ có duy nhất một khái niệm mà chúng có thể liên kết với một biểu tượng mà không đòi hỏi phần thưởng đi kèm: “thức ăn”. Nhưng khi vượn thực sự học được cách dùng một từ ngữ, liệu chúng ta làm điều gì tiếp theo không? Liệu chúng do dùng một từ ngữ như một cách để vượt lên trên những gì chúng nhìn thấy, nghe thấy, chạm được và nếm được, để từ đó suy luận tinh thần hay không? Chúng ta vẫn chưa biết. Các từ ngữ rõ ràng không thúc đẩy loài vượn tìm kiếm tâm trí của các sinh vật khác theo cái cách mà trẻ sơ sinh loài người làm. Nhưng vẫn có một số khả năng hấp dẫn có thể xảy ra. Ví dụ, dường như tinh tinh có thể phân loại các vật thể có vẻ ngoài khác nhau theo chức năng – các công cụ, các vật chứa, thức ăn – nếu bạn thưởng cho chúng, và nếu chúng đã từng có trải nghiệm với những chức năng này. Hơn nữa, nếu bạn dạy cho chúng và thưởng cho chúng khi chúng liên kết một biểu tượng với một danh mục như “công cụ”, chúng có thể kết hợp biểu tượng này với những công cụ không quen thuộc khác.

Liệu có phải rằng loài vượn chỉ dùng từ ngữ để yêu cầu phần thưởng hay không? Nhiều người nghi ngờ đã chỉ ra rằng loài vượn rõ ràng là không hề dùng các biểu tượng hay các từ ngữ này để nói về thời tiết hay về con cái của chúng; chúng có thể suy luận đến một thứ gì đó không phải là phần thưởng, nhưng chỉ khi chúng biết rằng chúng sẽ được thưởng khi làm việc đó. (Sẽ rất thú vị khi xem điều gì sẽ xảy ra với những con vượn được huấn luyện biểu tượng, nếu những người huấn luyện của chúng ngừng thưởng cho chúng. Liệu chúng có tiếp tục sử dụng các biểu tượng đó không?) Vấn đề quan trọng ở đây, theo tôi nghĩ, đó là, các từ ngữ dường như không phải là một phần mang tính bẩm sinh trong ngách cảm tính của hầu hết các loài vượn, trong khi chúng rõ ràng là một phần có tính bẩm sinh ở trẻ sơ sinh loài người. Đối với vượn, những từ ngữ mà không đi kèm phần thưởng thì không đáng để bỏ công ra học.

Có một ngoại lệ quan trọng ở đây, là giống tinh tinh lùn. Chúng là loài vật rất có tính xã hội, bình đẳng và hợp tác hơn rất nhiều so với những con tinh tinh bình thường. Chúng cũng có một mạng lưới xã hội rộng lớn hơn nhiều, và đóng vai trò quan trọng trước khi chúng trưởng thành. Và một số tinh tinh lùn dường như có thể hoàn thành các nhiệm vụ mà không cần phần thưởng đi kèm, trong khi tinh tinh bình thường thì cần phần thưởng. Ví dụ như câu chuyện của Kanzi – một con tinh tinh lùn sơ sinh, khi nó nhìn thấy mẹ kế của nó và những con tinh tinh lùn trưởng thành khác kiếm được phần thưởng thức ăn nhờ vệc học các biểu tượng ngôn ngữ. Vào khoảng 6 tháng tuổi, Kanzi dường như có thể tự mình học được các biểu tượng này, thông qua việc nhìn thấy những con tinh tinh lùn khác kiếm được phần thưởng. Ở một mức độ nhất định, các nhà khoa học phát hiện ra rằng Kanzi dường như có thể hiểu được một số ngôn ngữ nói tiếng Anh. Do đó, bộ não của loài tinh tinh lùn khi đắm mình trong môi trường giàu ngôn ngữ, có thể sẽ học được ý nghĩa của các từ ngữ thực sự.

Ngược lại với loài tinh tinh lùn, tinh tinh bình thường được mô tả là một loài sinh vật thông minh, hấp dẫn với một mặt tối. Chúng săn và giết nhau để chiếm lãnh thổ hoặc kiếm thức ăn. Chúng cũng tấn công người lạ mà không có lý do, duy trì một hệ thống thống trị cứng nhắc và đánh đập những con tinh tinh cái để buộc chúng phải phục tùng tình dục. Loài tinh tinh lùn thì thường giải quyết xung đột của chúng bằng cách quan hệ tình dục. Đó là một giải pháp thay thế tốt hơn nhiều so với tội ác diệt chủng.

Tuy nhiên, chúng ta có thể đã đánh giá sai việc học tập khái niệm của tinh tinh trong phòng thí nghiệm. Những con tinh tinh trong các thí nghiệm về ngôn ngữ vốn đã bị tách khỏi mẹ của chúng từ khi còn nhỏ và chúng được nuôi dạy trong môi trường con người – hoàn toàn khác biệt so với môi trường sống tự nhiên của chúng. Trẻ sơ sinh bình thường sẽ sống với mẹ chúng đến năm 10 tuổi, và được chăm sóc bởi mẹ của chúng cho đến năm 5 tuổi, do đó, việc bị tách khỏi mẹ từ khi còn nhỏ có thể làm thay đổi thiết lậm trong mạng lưới cảm thụ nội tại của tinh tinh, và ảnh hưởng trầm trọng đến kết quả của các thí nghiệm. (Hãy tưởng tượng thử về việc tách một đứa bé sơ sinh loài người khỏi mẹ của chúng!)

Khi được thí nghiệm trong những hoàn cảnh tự nhiên hơn, thì ngách cảm tính của tinh tinh dường như rộng hơn so với mức thông thường trong các thí nghiệm. Để có được kiến thức sâu sắc này, chúng ta phải cảm ơn nhà linh trưởng học Tetsuro Matsuzawa tại Viện Nghiên cứu Linh trưởng của Đại học Kyoto. Matsuzawa đã hoàn thành một nhiệm vụ thực sự ấn tượng. Ông có ba thế hệ tinh tinh sống trong một khu nhà ngoài trời được xây dựng giống như một khu rừng. Mỗi ngày, tinh tinh có thể lựa chọn đến phòng thí nghiệm để thực hiện thí nghiệm. Tất nhiên, đôi khi chúng sẽ được thưởng, nhưng điều này không quan trọng trong thí nghiệm này. Những con vật này có một mối quan hệ lâu dài và tin cậy lẫn nhau với Matsuzawa và những nhà thí nghiệm con người khác trong viện này. Một tinh tinh mẹ có thể ôm con mình trong lòng và cho phép một con người thí nghiệm đứa con sơ sinh của mình. Ví dụ, một nghiên cứu trong đó kiểm tra khả năng học các khái niệm về động vật có vú, đồ đạc và xe cộ ở trẻ sơ sinh loài người và trẻ sơ sinh loài tinh tinh (họ dùng các mô hình giống như thật). Việc học này diễn ra mà không có bất kỳ phần thưởng gì và những em bé sơ sinh này được thí nghiệm khi chúng đang ngồi trong lòng mẹ. Sự gần gũi của trẻ sơ sinh với mẹ, kết hợp với mối quan hệ tin cậy với nhà thí nghiệm, có thể đã đủ để đưa hoàn cảnh này vào ngách cảm tính của trẻ sơ sinh tinh tinh. Thật đáng kinh ngạc, nhau trong hoàn cảnh này, khả năng hình thành các khái niệm của tinh tinh sơ sinh và trẻ sơ sinh loài người là tốt như nhau. Tuy nhiên, trẻ sơ sinh loài người biết điều khiển các đồ vật một cách tự nhiên, như di chuyển những chiếc xe tải đồ chơi xung quanh, khiến cho việc hình thành khái niệm dễ xảy ra hơn, trong khi những con tinh tinh con thì không.

Nhóm thí nghiệm của Matsuzawa là một nơi lý tưởng đến tìm hiểu về giới hạn của khả năng hình thành khái niệm của loài tinh tinh. Chúng ta có thể thí nghiệm trên các con tinh tinh sơ sinh – những con mà hệ thống khái niệm của chúng vẫn còn linh hoạt, trong môi trường tự nhiên, khi chúng còn ở trong lòng của mẹ chúng, có thể chúng ta sẽ thực hiện các thí nghiệm kiến tạo khái niệm như trong chương 5. Liệu tinh tinh sơ sinh có thể dùng những từ ngữ vô nghĩa như “toma” để nhóm các vật thể hoặc hình ảnh có vẻ ngoài khác nhau thành một nhóm như trẻ sơ sinh loài người đã làm hay không?

Tuy nhiên, hiện tại, chúng ta không có bất kỳ bằng chứng chắc chắn nào về việc tinh tinh có thể tạo ra các khái niệm dựa trên mục tiêu. Chúng không thể tưởng tượng ra một thứ hoàn toàn mới mẻ, như một con báo biết bay, mặc dù chúng và loài khỉ macaque có một mạng lưới não bộ rất giống với mạng lưới chế độ mặc định của con người (một phần trong mạng lưới cảm thụ nội tại). Chúng không thể xem xét tình huống từ những góc nhìn khác nhau. Chúng không thể tưởng tượng ra một tương lai khác với hiện tại. Chúng cũng không thể nhận thức được các thông tin dựa trên mục tiêu nằm trong đầu của những sinh vật khác. Đó là lý do tại sao tinh tinh và những loài vượn lớn khác gần như không thể tạo ra các khái niệm dựa trên mục tiêu. Khi được thưởng, loài vượn có thể học được một từ ngữ, nhưng chúng không thể tự mình dùng từ ngữ để hình thành một khái niệm tinh thần mang tính mục tiêu, ví dụ như “những thứ ăn kèm với mối”.

Bất kỳ khái niệm nào cũng có thể dựa trên mục tiêu – “cá” có thể là vật nuôi hoặc là bữa tối – nhưng các khái niệm cảm xúc thì chỉ dựa trên mục tiêu, do đó, dường như tinh tinh không thể học được các khái niệm cảm xúc như “niềm vui” hay “sự giận dữ”. Thậm chí nếu chúng có thể học được một từ ngữ như “giận dữ”, thì chúng ta cũng không rõ liệu chúng có thể hiểu nó và sử dụng nó theo một cách mang tính mục tiêu, ví dụ như phân loại hành động của các sinh vật khác là giận dữ hay không.

Đôi khi loài vượn dường như hiểu được một khái niệm thuần tinh thần, trong khi thực sự thì chúng không hiểu. Trong một thí nghiệm, tinh tinh được thưởng các token khi hoàn thành các nhiệm vụ khác nhau và có thể dùng các token này để đổi thức ăn. Chúng tự mình học được cách lưu giữ các token này để đổi lấy món mà chúng ưa thích. Khi bạn nhìn thấy tinh tinh làm việc này, bạn sẽ cảm thấy chúng hiểu được khái niệm “tiền”. Nhưng ở đây, token chỉ là một công cụ để lấy được thứ ăn, chứ không phải là một loại tiền tệ dùng để đổi lấy hàng hóa nói chung. Giống như nhiều người, những con tinh tinh không hiểu rằng giá trị của tiền đến từ lợi ích của chính nó.

Nếu loài tinh tinh không thể định hình các khái niệm dựa trên mục tiêu, thì hẳn là chúng không thể được trang bị một cách tự nhiên để dạy các khái niệm này cho nhau; nghĩa là, chúng không có thực tại xã hội. Thậm chí là nếu chúng có thể học dược một khái niệm như “sự giận dữ” từ người huấn luyện, thì thế hệ của chúng cũng không tạo ra bổi cảnh để thế hệ tiếp theo cài đặt khái niệm này vào bộ não. Tinh tinh và các loài linh trưởng khác thực sự có chia sẻ với nhau các thao tác, ví dụ như đập vỡ hạt bằng đá, nhưng tinh tinh mẹ không tự nó hướng dẫn cho con mình cách để lấy thực phẩm ngon lành hơn; đứa con học bằng cách quan sát. Ví dụ, trong một bầy khỉ macaque ở Nhật Bản, một con bắt đầu rửa thức ăn trước khi ăn, và trong  mười năm, ba phần tư khỉ trưởng thành trong bầy học được thao tác này. Loại chủ ý tập thể này rất hạn chế so với những gì con người chúng ta làm với từ ngữ và các khái niệm tinh thần mà chúng ta phát minh ra.

Trong vương quốc động vật, năng lực tạo ra thực tại xã hội chỉ có ở con người. Chỉ có chúng ta mới có thể tạo ra và chia sẽ các khái niệm thuần tinh thần bằng cách dùng từ ngữ. Chỉ có chúng ta mới có thể dùng các khái niệm này để điều chỉnh ngân sách cơ thể của mình và của người khác một cách hiệu quả hơn, khi chúng ta hợp tác và cạnh tranh với nhau. Chỉ có chúng ta mới có các khái niệm cho các trạng thái tinh thần, như các khái niệm cảm xúc, để dự đoán và lý giải các cảm giác. Thực tại xã hội chính là siêu năng lực của loài người.

Điều này mang chúng ta quay lại với Matsuzawa và những con tinh tinh của ông ấy. Điều đáng ghi nhận là ông ấy đã nuôi dưỡng và lồng ghép các mối quan hệ gia đình trong bầy tinh tinh vào văn hóa loài người theo một cách rất thân mật. Tôi tự hỏi, theo thời gian, bối cảnh văn hóa rất con người của Matsuzawa có ảnh hưởng đến sự phát triển trí não của tinh tinh sơ sinh hay không, vì chúng được nuôi dưỡng bởi những con tinh tinh mẹ, mà những con tinh tinh mẹ này vốn đã được bởi một nhóm những con người tin tưởng và yêu thương chúng.

Một ví dụ mà tôi thấy đặc biệt nổi bật, được Virginia Morell viết trong cuốn sách Animal Wise của cô ấy, mô tả hai nhà thí nghiệm con người cung cấp sự hỗ trợ mang tính xã hội cho một con tinh tinh mẹ đang cho con bú. Tinh tinh mẹ không muốn cho con bú, nhưng các nhà thí nghiệm đã khuyến khích nó một cách nhẹ nhàng để nó trở nên dũng cảm hơn. Theo lời của Morell, “Một nhà nghiên cứu nhẹ nhàng bế đặt tinh tinh con và đặt nó vào vòng tay của tinh tinh mẹ. Bàn tay của con tinh tinh sơ sinh nắm lấy lông của nó. Tinh tinh mẹ sau đó cố gắng cho con bú nhưng nó lại khóc khi tinh tinh con ngậm núm vú của mình; tinh tinh mẹ có vẻ như sắp đặt đứa con sơ sinh của mình xuống sàn. Nhưng rồi giọng nói nhẹ nhàng của nhà khoa học lại vang lên. Đúng, đúng, anh ấy nói một cách nhẹ nhàng, rằng lúc đầu có thể sẽ rất đau, nhưng sẽ sớm không còn đau nữa. Và từ từ tinh tinh mẹ từ từ dịu lài, nó ôm con vào ngực mình và để con bú." Mỗi ngày có hàng nghìn bà mẹ lần đầu tiên phải cho con bú, và tôi có thể nói với bạn rằng điều đó vô cùng đau đớn. Nhưng ai đó (y tá, người thân là phụ nữ lớn tuổi hoặc bạn bè) có thể đưa ra lời động viên hỗ trợ và chỉ cho bạn những việc cần làm, và cuối cùng thì mọi thứ đều tốt đẹp.

Đối với tinh tinh mẹ, những con người hỗ trợ nó không chỉ là người chăm sóc nó: nọ còn ảnh hưởng đến mức độ dễ chịu trong cảm tính của nó, điều chỉnh ngân sách cơ thể nó. Nó và con của nó và mối quan hệ của chúng đều đang được tắm trong văn hóa nhân loại. Liệu sự liên kết xã hội này có tạo ra khác biệt gì trong năng lực ngôn ngữ và khái niệm của những con tinh tinh này trong thời gian dài hay không? Nếu con cái của chúng cuối cùng cũng có thể hình thành các khái niệm mang tính mục tiêu, thì cuộc chơi sẽ hoàn toàn thay đổi.

Được rồi, vậy thì tinh tinh và các loài linh trưởng dường như không có các khái niệm cảm xúc hay thực tại xã hội. Vậy còn loài chó như Rowdy thì sao? Nói cho cùng, chúng ta nuôi chó để thành bạn đồng hành của chúng ta, vì thế, cũng như chúng ta, chúng thực sự là các sinh vật có tính xã hội. Nếu có bất kỳ loài vật phi nhân loại mà có khả năng tạo ra cảm xúc, thì chó hẳn là ứng cử viên hàng đầu.

Chỉ vài thập kỷ trước, nhà khoa học người Nga Dimitri Belyaev chỉ mất khoảng 40 thế hệ để biến đổi những con cáo hoang dã thành một thứ gì đó tương tự như loài chó nhà. Mỗi lần một con cáo cái sinh con, Belyaev chọn những con cáo con trông có vẻ ưa thích và ít hung hãn với con người hết, và nuôi dưỡng chúng một cách có chọn lọc. Những con vật được nuôi dưỡng trong thí nghiệm này trông giống như chó; hộp sọ của chúng ngắn hơn và chúng có mõm rộng hơn, đuôi xoăn và tai mềm, mặc dù Belyaev không chọn những đặc điểm này. Cấu trúc phân tử hóa học của chúng gần giống với loài chó hơn loài cáo. Và chúng rất thích thú khi được tương tác với con người. Loài chó hiện đại cũng được nuôi dưỡng để có những đặc điểm mong muốn nhất định, như gắn kết với người chăm sóc nó, và những đặc điểm khác đi kèm, có lẽ thậm chí là một thứ gì đó giống như các khái niệm cảm xúc của con người.

Tôi suy đoán rằng một trong những đặc điểm vô tình được lai tạo đó là một loại hệ thần kinh nào đó của loài chó. Chúng ta có thể điều chỉnh ngân sách cơ thể của một chú chó và chó cũng có thể điều chỉnh ngân sách cơ thể của chúng ta. (Tôi sẽ không ngạc nhiên nếu chó và chủ nhân của chúng thậm chí còn đồng bộ hóa nhịp tim của nhau, giống như cái cách mà những con người thân thiết tác động lên nhau.) Chúng ta cũng có thể đã khiến giống chó tiến hóa để chúng có các cơ mặt mang tính biểu cảm, những cơ mặt có thể chuyển động một cách dễ dàng này giống như một bức canvas mà chúng ta có thể vẽ lên đó các trạng thái tinh thần phức tạp. Chúng ta quá yêu chó, nên chúng ta nuôi dưỡng chúng để chúng yêu thương chúng ta, hoặc, ít nhất là để chúng ta có thể nhìn thấy chúng yêu thương chúng ta. Chúng ta đối xử lý với chúng gần giống  như thể đang đối xử với những con người nhỏ bé đứng trên bốn chân và mặt áo lông. Nhưng liệu có có nhận thức hay trải nghiệm được cảm xúc của con người hay không?

Chó, cũng như các loài vật có vú khác, có thể cảm nhận được cảm xúc. Không có gì bất ngờ. Quẫy đuôi là một cách mà chúng dường như đang thể hiện cảm xúc. Chúng dường như thực hiện các chuyển động vẫy đuôi nghiêng về bên phải trong những sự kiện dễ chịu, chẳng hạn như nhìn thấy chủ nhân của chúng và sang bên trái trong những sự kiện khó chịu, chẳng hạn như nhìn thấy một con chó lạ. Lựa chọn vẫy về phía nào liên quan đến hoạt động của não: vẫy sang phải tương đương với hoạt động tương đối nhiều hơn ở não trái và ngược lại.

Dường như các chú chó cũng nhìn vào đuôi của nhau để nhận thức cảm xúc. Chúng thư giãn hơn khi xem các đoạn phim về những chiếc đuôi vẫy sang bên phải, và căng thẳng hơn khi xem các đoạn phim về những chiếc đuôi vẫy sang bên trái, khi được đo lường nhịp tim và các yếu tố khác. Chó cũng dường như có thể nhận thức được cảm xúc từ gương mặt và giọng nói của con người. Tôi chưa từng thực hiện bất kỳ thí nghiệm quét não nào trên loài chó, nhưng nếu chúng có cảm xúc, điều này sẽ đến từ việc chúng có một số mạng lưới cảm thụ nội tại. Chỉ là, không ai biết ngách cảm tính của chúng lớn bao nhiêu, nhưng dựa trên bản tính xã hội vốn có của chúng, tôi cá rằng chúng bị thu hút bởi chủ sở hữu của chúng theo một cách nào đó.

Loài có cũng có thể học được các khái niệm. Điều này cũng không có gì đáng ngạc nhiên. Ví dụ như, chúng có thể phân biệt được chó với những loài động vật khác trong các bức ảnh nếu chúng được huấn luyện. Người ta phải huấn luyện chúng khoảng hơn một nghìn lần để chúng nắm bắt được điều này, trong khi trẻ sơ sinh loài người thì chỉ cần vài chục lần. Nhưng loài chó có thể học để phân biệt với độ chính xác tới 80%, thậm chí nếu con chó trong bức ảnh là một con hoàn toàn mới mẻ hoặc đứng trong một quang cảnh phức tạp. Như vậy là không tệ với não chó.

Chó cũng hình thành khái niệm khứu giác. Chúng có thể phân biệt mùi của từng người, nhóm các mùi khác nhau từ các bộ phận khác nhau của cơ thể lại với nhau của cùng một người, nhưng vẫn có thể phân biệt với mùi của những người khác. Và tất nhiên, chúng ta biết rằng chó có thể được huấn luyện để theo dõi các loại đồ vật bằng mùi. Bất kỳ ai bị bắt tại sân bay với đồ ăn hoặc ma túy trong vali của họ đều chứng minh cho điều đó.

Tôi sẽ thận trọng thừa nhận rằng những con chó dường như có thể suy luận một số chủ ý nào đó. Chó giỏi hơn tinh tinh trong việc nhận thức các cử chỉ và dõi theo ánh mắt của con người. Khi Sophia còn nhỏ và con bé chơi trên cát với chú chó biển ưa thích, Harold, Sophia và chú chó này thường nhìn xin phép người lớn để chạy chơi xa hơn: Sophia nhìn tôi còn Harold thì nhìn chủ nhân của nó. Loài chó thông qua ánh mắt của chúng ta để biết nên làm gì, và kỹ năng này của chúng tuyệt vời đến mức chúng trông có vẻ như có thể đọc được suy nghĩ trong mắt của chúng ta. Đáng chú ý hơn, chó có thể dõi theo ánh mắt của nhau để lấy thông tin về thế giới. Khi Rowdy muốn biết chuyện gì đang xảy ra, chú ta tự động nhìn “chị” của chú, Biscuit, một con Golden Retriever, và dõi theo ánh mắt của nó. Hai đứa chúng nó sẽ đứng im như thể đang thảo loại với nhau, và sau đó… chúng bất thình lình hành động. Giống như xem một bộ phim không tiếng vậy.

Nhưng tôi là người hoài nghi, tôi nghi ngờ rằng những con chó đang đưa ra những suy luận tinh thần dựa trên mục tiêu. Chúng có thể chỉ thực sự giỏi trong việc nhận thức hành động của con người, bởi vì, thành thật mà nói, chúng tôi đã nuôi dưỡng chúng để chúng trở nên nhạy cảm với mọi ý thích.

Chó dường như hiểu được rằng con người sử dụng các biểu tượng để truyền đạt chủ ý. Ví dụ, trong một nghiên cứu, một nhà thí nghiệm đặt đồ chơi cho chó trong các phòng khác nhau và sau đó sử dụng các bản sao thu nhỏ của đồ chơi làm biểu tượng. Đối tượng thí nghiệm của cô ấy (Border Collies) hiểu rằng cô ấy đang yêu cầu chúng lấy đồ chơi tương ứng với bản sao thu nhỏ này từnhững căn phòng khác. Trò này khá phức tạp hơn là chơi trò ném và chụp đồ vật. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng chó sử dụng các tiếng gầm gừ và sủa khác nhau để giao tiếp với nhau, mặc dù có thể chỉ là chúng đang truyền đạt sự kích động (cảm xúc) trong tín hiệu âm thanh. Một nghiên cứu thậm chí còn chỉ ra rằng một con chó tên Sofia, giống như những người bạn tinh tinh của chúng ta, có thể được huấn luyện để nhấn các ký hiệu trên bàn phím để giao tiếp một số khái niệm cơ bản: đi bộ, đồ chơi, nước, chơi, thức ăn và thùng của nó.

Rõ ràng là, chó có một số đặc điểm không hề tầm thường, nhưng thậm chí như vậy thì các nhà khoa học vẫn không có bất kỳ bằng chứng nào cho thấy chó có các khái niệm cảm xúc. Trên thực tế, có khá nhiều bằng chứng tương đối tốt chứng minh điều ngược lại, mặc dù nhiều hành vi của chó trông có vẻ mang tính cảm xúc. Ví dụ, chủ nhân của chúng có thể suy luận ra cảm xúc tội lỗi từ chúng, khi họ tin rằng chúng đang giấu giếm thứ gì đó (ví dụ như, tránh né nhìn vào mắt họ) hoặc đang phục tùng (ví dụ như rơi nước mắt, nằm bẹp xuống và rũ đuôi xuống). Nhưng chó có khái niệm tội lỗi không?

Một nghiên cứu khéo léo đã khám phá câu hỏi này. Trong mỗi phiên thí nghiệm, chủ nhân cho chú chó của mình ăn món bánh quy ưa thích, sau đó họ công khai ra lệnh cho chú chó không được ăn cái bánh quy đó, rôi họ bước ra khỏi phòng. Tuy nhiên, chủ nhân của chú chó đó không hề biết rằng sau khi người đó ra khỏi phòng, nhà thí nghiệm đã vào phòng và tác động đến hành vi của chú chó, hoặc là họ đưa cho chú phần thưởng của chú (và chú ăn nó) hoặc là họ đem phần thưởng đó ra khỏi phòng. Sau đó, nhà thí nghiệm có thể nói thật hoặc nói dối với chủ nhân của chú chó này. Phân nửa số chủ nhân được biết rằng chó của họ đã vâng lời và họ chào đón chú chó của mình một cách ấm áp và thân thiện; phân nửa còn lại nghe nói rằng chú chó đã ăn cái bánh quy và nên bị mắng. Điều này đã tạo ra 4 kịch bản khác nhau: những chú chó vâng lời và chủ nhân khen ngợi chúng, những chú chó vâng lời và chủ nhân mắng chúng, những chú chó không vâng lời và chủ nhân không mắng chúng, những chú chó không vâng lời và chủ nhân mắng chúng. Điều gì đã xảy ra? Những chú chó bị mắng thể hiện nhiều hành vi mà mọi người xem là khuôn mẫu của cảm giác tội lỗi, bất chấp việc chú chó có vâng lời hay không. Đây là bằng chứng cho thấy chó không cảm thấy tội lỗi khi thực hiện hành vi bị cấm; thay vào đó, chủ nhân của chúng nhận thức cảm giác tội lỗi từ chúng khi họ tin rằng chú chó đang ăn cái bánh quy.

Một nghiên cứu khác nghiên cứu sự ghen tị ở loài chó, nhà thí nghiệm yêu cầu chủ nhân của chú chó chơi với một con chó đồ chơi trong khi chú chó quan sát cảnh này. Con chó đồ chơi cũng sủa, rên rỉ và vẫy đuôi. Nghiên cứu cho thấy rằng, so với khi chủ nhân chơi với những món đồ khác (như đèn lồng) hay khi chủ nhân đang đọc sách, trong tình huống này, những chú chó sẽ ngoạm, rên rỉ, xô đẩy chủ nhân và đồ chơi, và tự chèn mình vào giữa chủ và đồ chơi một cách thường xuyên hơn. Các tác giả giải thích những phát hiện này có nghĩa là những chú chó đang ghen tị, đặc biệt là vì nhiều chú chó được thử nghiệm đã ngửi hậu môn của con chó đồ chơi. Không may là, các nhà thí nghiệm không kiểm tra xem liệu các chủ nhân có hành xử khác biệt trong ba tình huống đó không (khi chơi với con chó đồ chơi, cái đèn lồng, đọc sách), và cách hành xử này của họ có tác động đến hành vi của chú chó hay không. Họ giả định rằng hành vi của chủ nhận là giống nhau, và chú chó hiểu rằng hành vi ghen tuông chỉ được xuất hiện trong một điều kiện duy nhất. Do đó, thậm chí ngay cả khi nhiều chủ nhân của thú nuôi tìn rằng chó của họ trải nghiệm cảm giác ghen tị, thì chúng ta vẫn không có bằng chứng khoa học này chứng minh điều này.

Các nhà khoa học vẫn đang khám phá các giới hạn trong hành vi loài chó, xét về mặt cảm xúc. Ngách cảm tính của chúng rộng hơn chúng ta trong một vài khía cạnh, bởi vì khứu giác và thính giác của chúng rất siêu việt; nhưng ngách cảm tính của chúng cũng hẹp hơn chúng ta ở một vài khía cạnh khác, bởi vì chúng không thể đi đến tương lai để tưởng tượng về một thế giới khác với thế giới đang tồn tại. Quan điểm của tôi từ việc đánh giá các bằng chứng là, chó không có các khái niệm cảm xúc của con người như giận dữ, ghen tị và tội lỗi. Chúng ta có thể tin rằng một chú chó cụ thể nào đó có thể tự phát triển các khái niệm giống như cảm xúc của nó trong mối quan hệ với chủ nhân của nó. Tuy nhiên, không có ngôn ngữ, thì các khái niệm cảm xúc của loài chó chắc chắn phải hẹp hơn nhiều so với ở loài người, và nó cũng không thể dạy các khái niệm này cho những chú chó khác. Do đó, khả năng chó trải nghiệm “Giận dữ” (hoặc khái niệm tương tự) thông thường là điều vô cùng xa vời.

Thậm chí nếu cho không có chung cảm xúc với con người, điều đáng chú ý là chó và các động vật khác có thể chỉ thông qua cảm tính mà làm được những gì. Nhiều động vật có thể trải nghiệm cảm tính khó chịu khi những con vật gần nó đang bị đau đớn. Ngân sách cơ thể của con vật này bị đánh thuế bởi sự khó chịu của con vật kia, do đó, con vật bị đánh thuế ngân sách cơ thể đó phải cố gắng cải thiện tình huống. Ví dụ, ngay cả một con chuột cũng sẽ giúp một con chuột khác khi nó bị khó chịu. Trẻ sơ sinh loài người có thể an ủi lẫn nhau khi chúng cảm thấy khó chịu. Bạn không cần phải có khái niệm cảm xúc để có được năng lực này, bạn chỉ cần một hệ thống thần kinh có cảm thụ nội tại, thứ sản sinh ra cảm tính, là đủ.

Giữa những bằng chứng tích lũy cho thấy loài chó có một số kỹ năng thực sự đáng chú ý, chúng ta vẫn hiểu lầm về loài chó một cách nghiêm trọng. Chúng ta hay nhìn chúng như thể đang nhìn chính mình, thông qua lý thuyết tinh thần về bản chất loài người đã lỗi thời, thay vì nhìn chúng với tư cách là chính chúng. John Bradshaw, tác giả của cuốn Dog Sense, đã giải thích rằng chúng ta nhìn chó một cách sai lầm: chúng ta cho rằng chó có một “con sói bên trong” luôn tìm kiếm sự thống trị, và “con sói” này cần phải bị thuần hóa bằng các lực lượng văn minh – chính là chủ nhân của chúng (một cách nghĩ cũng giống như huyền thoại của chúng ta về con thú bên trong chính mình – thứ cần được thuần hóa bởi lý trí). Bradshaw nói tiếp, chó là một loài vật có tính xã hội rất cao, cũng như sói trong hoang dã khi bạn không nhét chúng vào sở thú với một đám sói lạ khác. Cho vài chú chó vào công viên cùng nhau, và một lúc sau thì bạn sẽ thấy chúng bắt đầu chơi với nhau. Thứ trông giống như tính thống trị ở loài chó là thứ mà Bradshaw gọi là “sự căng thẳng”, và cũng là thứ mà chúng ta gọi là sự mất cân bằng ngân sách cơ thể. Hãy nghĩ về điều này: chúng ta nuôi dưỡng một con vật tình cảm và gắn kết với chúng ta, chúng ta điều chỉnh ngân sách cơ thể của chúng, và chúng ta bỏ mặc chúng gần như mỗi ngày. (Bạn có thể tưởng tượng sẽ ra sao khi điều này xảy ra cho một đứa bé loài người?) Tất nhiên ngân sách cơ thể của chúng sẽ bị kiệt quệ và chúng sẽ cảm thấy bị kích động mạnh và khó chịu. Chúng ta nuôi chúng để chúng phụ thuộc cảm tính vào chúng ta. Do đó, chủ nhân phải chăm sóc ngân sách cơ thể chú chó của họ. Chó có thể không cảm thấy sợ hãi, giận dữ, và những cảm xúc con người khác, nhưng chúng có trải nghiệm các cảm tính như vui, buồn, gắn kết và những cảm xúc khác. Nhưng để chó trở thành một loài vật sống chung với người bạn con người của chúng, thì chỉ những cảm tính đơn giản này có lẽ là đã đủ rồi.

Hãy tóm lại những điều chúng ta đã nói qua. Liệu động vật có điều chỉnh ngân sách cơ thể chúng bằng cảm thụ nội tại hay không? Tôi không nói về toàn bộ vương quốc động vật mà chỉ nói về động vật có vú – chuột, khỉ, vượn và chó – tôi nghĩ là chúng ta có thể trả lời “có” cho câu hỏi này. Liệu động vật có trải nghiệm cảm xúc hay không? Một lần nghĩ, tôi nghĩ chúng ta có thể tự tin mà trả lời “có”, dựa trên các bằng chứng về sinh học và hành vi. Liệu động vật có thể học được các khái niệm và liệu chúng có thể phân loại một cách dự đoán trước với những khái niệm này không? Chắc chắn rồi. LIệu chúng có học được các khái niệm về hành động hay không? Hoàn toàn có thể. Liệu chúng có học được ý nghĩa của các từ ngữ hay không? Trong một vài trường hợp, một số động vật có thể học được các từ ngữ và các hệ thống kí hiệu khác, khi các ký hiệu này trở thành một phần của các mẫu thống kê mà não có thể nắm bắt và lưu trữ để sử dụng sau này.

Nhưng liệu động vật có thể dùng từ ngữ để vượt ra khỏi ranh giới của các quy luật thống kê trên thế giới, để tạo ra các điểm tương đồng về mục tiêu để nhóm các hành động hay vật thể vốn có vẻ ngoài khác nhau thành một nhóm với nhau hay không? Liệu chúng có thể dùng từ ngữ để hình thành các khái niệm tinh thần hay không? Liệu chúng có nhận ra rằng một phần của thông tin mà chúng cần từ thế giới bên ngoài nằm trong tâm trí của các sinh vật khác xung quanh chúng hay không? Liệu chúng có thể phân loại các hành động và tạo ra ý nghĩa cho các hành động này như các sự kiện tinh thần hay không?

Có lẽ là không. Ít nhất chúng không thể làm những điều này theo cái cách mà con người đang làm. Vượn có thể kiến tạo các danh mục tương đối giống với chúng ta, hơn mức mà chúng ta có thể tưởng tượng. Nhưng ngay lúc này, không có bằng chứng rõ ràng nào cho thấy rằng các con vật phi nhân loại trên hành tinh này có các loài khái niệm cảm xúc mà con người có. Chỉ có chúng ta mới có các nguyên liệu cần thiết để tạo ra và chuyển đổi thực tại xã hội, bao gồm các khái niệm cảm xúc. Điều này vẫn đúng khi xét tới Người Bạn Tốt Nhất của Con người.

Do đó, hãy quay lại với trường hợp của Rowdy: liệu chú ta có giận dữ khi chú ta gầm gừ và nhảy chồm lên cậu bé hay không? Dựa theo những gì đã bàn luận, Rowdy không có các khái niệm cảm xúc, do đó, bạn có thể đoán được rằng câu trả lời của tôi là không.

À, không hẳn. (Hãy sẵn sàng cho cú twist mà tôi đã đề cập ở đầu chương.)

Từ quan điểm của lý thuyết kiến tạo cảm xúc, câu hỏi “liệu một chú chó đang gầm gừ có đang giận dữ hay không?” là một câu hỏi sai ngay từ đầu, hoặc ít nhất, đó là một câu hỏi không đầy đủ. Nó giả định rằng một con chó có thể giận dữ hoặc không giận dữ theo một cách khách quan. Nhưng, như bạn đã biết, các danh mục cảm xúc không có dấu vân tay sinh học nhất quán. Các cảm xúc luôn được kiến tạo từ góc nhìn của người nhận thức. Do đó, câu hỏi “liệu Rowdy có đang giận dữ hay không?” thực sự là hai câu hỏi khoa học tách rời với nhau:

·         “Liệu dưới góc nhìn của cậu bé, Rowdy có đang giận dữ hay không?”

·         “Liệu dưới góc nhìn của chính nó, Rowdy có đang giận dữ hay không?”

Các câu hỏi này có những câu trả lời khá là khá cnhau.

Câu hỏi đầu tiên, “Liệu dưới góc nhìn của cậu bé, Rowdy có đang giận dữ hay không?” Rõ ràng là có. Khi chúng ta quan sách hành vi của một chú chó, chúng ta dùng những khái niệm cảm xúc của chính chúng ta để tạo ra các dự đoán và kiến tạo các nhận thức. Từ quan điểm của một con người, Rowdy đang giận dữ nếu cậu bé kiến tạo một nhận thức về sự giận dữ.

Liệu đánh giá này của cậu bé có chính xác không? Bạn có thể nhớ lại rằng, độ chính xác của các phạm trù thực tại xã hội là vấn đề của sự đồng thuận. Giả sử bạn và tôi đang đi ngang qua nhà Rowdy và nó đang gầm gừ lớn tiếng. Bạn cảm thấy nó tức giận. Tôi thì không. Tính chính xác có nghĩa là: Chúng ta có đồng ý với nhau hay không? Những trải nghiệm của chúng ta về Rowdy có tương đồng với trải nghiệm của chủ nhân Angie của nó, vì cô ấy biết nó rõ nhất hay không? Những trải nghiệm của chúng ta về Rowdy có phù hợp với các chuẩn mực xã hội trong tình huống này không, bởi vì suy cho cùng thì đây cũng là thực tại xã hội? Nếu chúng ta đồng ý với nhau, thì sự kiến tạo của chúng ta của chúng tôi đồng điệu với nhau.

Giờ hãy xét tới câu hỏi thứ hai, liên quan đến trải nghiệm của Rowdy. Liệu chú ta có cảm thấy giận dữ khi chú ta gầm gừ hay không? Liệu chú ta có thể kiến tạo một trải nghiệm giận dữ từ các dự đoán cảm giác của mình hay không? Câu trả lời là, hầu như không. Chó không có các khái niệm cảm xúc của con người – thứ cần thiết để kiến tạo một phân mục giận dữ. Không có khái niệm “giận dữ” của phương Tây, chó không thể phân loại cảm thụ nội tại của chúng và những thông tin cảm giác khác để tạo ra một phân mục cảm xúc. Và chúng cũng không nhận thức cảm xúc từ những con chó khác hay những con người khác. Chó có nhận thức được các trạng thái khó chịu và vui vẻ và một vài trạng thái khác, đây là một thành tựu chỉ cần có cảm tính là đủ.

Chó cũng có thể có một số khái niệm giống như cảm xúc. Ví dụ, một số các nhà khoa học nghi ngờ rằng, những loài vậy có tính xã hội cao, như chó và voi, có một số khái niệm về cái chết và có thể trải nghiệm một loại buồn bã nào đó. Sự buồn bã này không có các đặc tính giống hệt với sự buồn bã ở loài người, nhưng hai cả đều xuất phát từ một điều giống nhau: nền tảng hóa thần kinh của sự gắn kết, ngân sách cơ thể, và cảm tính. Ở loài người, mất người thân, người yêu, hay bạn bè có thể tàn phá ngân sách của bạn và gây ra nhiều đau khổ tương tự như việc cai nghiện ma túy. Khi một sinh vật mất đi một sinh vật khác – người đã giúp chúng cân bằng ngân sách cơ thể, thì sinh vật này sẽ cảm thấy đau khổ từ việc ngân sách cơ thể của chúng bị mất cân bằng. Do đó, ca sĩ Brian Ferry từ nhóm nhạc rock Roxy Music đã nói đúng – rằng, tình yêu thuốc phiện.

Hành vi sai trái của Rowdy vào cái ngày định mệnh đó có thể bắt nguồn từ một câu chuyện bên lề đã xảy ra vào đầu tuần đó. Trước khi Rowdy bị bắt, chú chó này đã mất đi người “chị” Sadie của chú, một con Golden Retriever chết vì tuổi già. Angie – chủ nhân của chú – tin rằng đây là lý do mà Rowdy đã nhảy chồm lên người cậu bé vào hôm đó. Cô ấy nói rằng Rowdy đang rất đau buồn, chú đã mất đi một sinh vật giúp điều chỉnh ngân sách cơ thể của chú, và chú đã tạm thời quên mất việc huấn luyện của mình. Rowdy biết rằng chú không nên nhảy chồm lên, nhưng, có lẽ hôm ấy chú không còn là chính mình nữa – dù “chính mình” này có nghĩa là gì đi chăng nữa.

Có nhiều giai thoại về những con chó bỏ ăn hoặc trở nên thờ ơ sau cái chết của một con chó khác trong gia đình. Một số người coi những trường hợp này là bằng chứng của sự đau buồn ở chó, nhưng chúng cũng có thể được hiểu đơn giản hơn là ảnh hưởng của sự mất cân bằng ngân sách cơ thể, kèm theo cảm tính khó chịu. Nói cho cùng, chính Angie có lẽ đang rất đau buồn về cái chết của Sadie, và Rowdy, rất nhạy cảm với hành vi của cô ấy, có thể đã phát hiện ra một số thay đổi trong cảm xúc của cô ấy, và điều này thậm chí còn làm thâm hụt ngân sách của chú ta hơn nữa.

Chia câu hỏi về con chó đang gầm gừ của chúng ta thành hai câu hỏi, phản ánh riêng biệt nhận thức của con người và chó, không phải là một trò đùa câu khách. Tôi thừa nhận rằng sự khác biệt mà tôi tạo ra ở đây khá tinh vi. Quan điểm kiến tạo cảm xúc thường bị hiểu nhầm thành “chó không có cảm xúc” (và đôi khi, thậm chí là, “người không có cảm xúc”). Những tuyên bố đơn giản hóa như vậy là hoàn toàn vô nghĩa bởi vì chúng giả định rằng các cảm xúc có tinh chất, do đó, chúng có thể xuất hiện hoặc không xuất hiện, mà không phụ thuộc vào bất kỳ người nhận thức nào. Nhưng cảm xúc chính là nhận thức, và mỗi một nhận thức đều cần có một người nhận thức. Và do đó, mỗi câu hỏi về một phân mục cảm xúc đều phải được hỏi từ một quan điểm cụ thể.

Nếu vượn, chó và những loài động vật khác không có khả năng trải nghiệm cảm xúc của con người, vậy thì tại sao có quá nhiều những câu chuyện và tin tức về việc phát hiện ra cảm xúc ở động vật, thậm chí là côn trùng? Tất cả đều đến từ một lỗi tinh vi được lặp đi lặp lại trong khoa học, và lỗi này rất khó phát hiện và khó vượt qua.

Hãy hình dung điều này: một con chuột được đặt vào một cái hộp nhỏ với lưới điện trên sàn. Các nhà khoa học mở một âm thanh lớn và ngay sau đó thì sốc điện con chuột. Cú sốc điện này khiến con chuột đông cứng lại và nhịp tim cũng như huyết áp của nó tăng lên, khi nó kích thích mạch thần kinh bao gồm các neuron chính trong hạch hạnh nhân. Các nhà khoa học lặp lại hành động này nhiều lần, liên kết âm thanh lớn đó với cú sốc điện. Cuối cùng, họ mở âm thanh lớn lên mà không kèm cú sốc điện, và con chuột lúc này đã học được rằng âm thanh lớn thì sẽ đi kèm cú sốc điện, đã tự mình đông cứng lại và nhịp tim và huyết áp của nó cũng tăng lên. Bộ não và cơ thể của con chuột phản ứng như thể nó đang bị sốc điện.

Các nhà khoa học ở trường phái quan điểm cổ điển sẽ nói rằng con chuột đã học được việc phải sợ hãi âm thanh lớn này, gọi hiện tượng này là “học cách sợ hãi” (fear learning). (Đây cũng là cùng loại thí nghiệm được thực hiện với SM, một người phụ nữ không có hạch hạnh nhân, người được cho rằng không thể học được cách sợ hãi, như đã mô tả trong chương 1). Trong hàng thập kỷ, trên khắp thế giới, các nhà khoa học đã sốc điện chuột, ruồi, và những động vật khác để định vị cách thức mà các neuron trong hạch hạnh nhân giúp chúng học cách đông cứng (freeze) như thế nào. Sau khi xác định được mạch thần kinh đông cứng này, các nhà khoa học đã suy luận rằng hạch hạnh nhân chứa đựng một mạch thần kinh sợ hãi – tinh chất của nỗi sợ - và hiện tượng nhịp tim, huyết áp tăng lên, và đông cứng người lại, được cho là dấu vân tay sinh học nhất quán biểu thị nỗi sợ. (Tôi chưa bao giờ biết rằng tại sao họ lại quyết định rằng đó là nỗi sợ. Chuột không thể học được sự ngạc nhiên, cảnh giác, hoặc có thể chỉ là nỗi đau hay sao? Nếu tôi là con chuột, tôi sẽ khá tức giận về cú sốc điện, như vậy thì tại sao không phải “học cách giận dữ” (anger learning)?)

Dù sao, các nhà khoa học này từ đó vẫn suy ra rằng việc học cách sợ hãi mở rộng từ chuột sang người, bởi vì mạch thần kinh sợ hãi có liên quan trong hạch hạnh nhân – thứ đã được truyền cho chúng ta thông qua quá trình tiến hóa của động vật có vú - còn gọi là “bộ não ba ngôi”. Những nghiên cứu về việc học cách sợ hãi này đã giúp thiết lập lý thuyết rằng hạch hạnh nhân vị trí của nỗi sợ hãi trong não bộ.

Trong tâm lý học và khoa học thần kinh, thứ gọi là học cách sợ hãi đã trở thành một ngành công nghiệp. Các nhà khoa học dùng nó để giải thích cho chứng rối loạn căng thẳng hậu chấn thương (PTSD). Nó được sử dụng để hỗ trợ cho việc phát minh ra các loại thuốc trong ngành dược phẩm và tìm hiểu chứng rối loạn giấc ngủ. Với hơn 100.000 lượt truy cập trên Google, “học cách sợ hãi” là một trong những cụm từ được sử dụng phổ biến nhất trong tâm lý học và khoa học thần kinh. Chưa hết, học cách sợ hãi chỉ là một cái tên ưa thích dùng cho một hiện tượng nổi tiếng khác: Điều kiện hóa cổ điển (classical conditioning) hay điều kiện hóa Pavlov (Pavlovian conditioning), được đặt tên theo nhà tâm lý học Ivan Pavlov, người đã phát hiện ra nó với các thí nghiệm nổi tiếng của ông trên việc chảy nước miếng ở loài chó. Thí nghiệm học cách sợ hãi cổ điển đã chứng minh rằng một kích thích lành tính, chẳng hạn như âm thanh, có thể có khả năng kích hoạt một số mạch thần kinh trong hạch hạnh nhân để đề phòng nguy hiểm bất trắc. Các nhà khoa học đã dành nhiều năm để lập bản đồ mạch thần kinh này một cách chi tiết.

Giờ hãy nói về lỗi tinh vi mà tôi đã ám chỉ. Đông cứng người lại là một hành vi, trong khi đó, nỗi sợ là một trạng thái tâm lý phức tạp hơn rất nhiều. Những nhà khoa học tin rằng họ đang nghiên cứu về việc học cách sợ hãi đang phân loại hành vi đông cứng người lại là “sợ hãi”, và những mạch thần kinh khiến đông cứng người lại này là mạch thần kinh sợ hãi. Cũng giống như khi tôi đã phân loại chú chuột lang Cupcake là đang vui vẻ, khi chính nó cũng không thể kiến tạo một trải nghiệm về sự vui vẻ, các nhà khoa học đã vô thức sử dụng khái niệm cảm xúc của chính họ, kiến tạo nhận thức về sự sợ hãi, và áp đặt chúng vào những con chuột đang đông cứng người lại kia. Tôi gọi lỗi khoa học phổ biến này là ngụy biện suy luận tinh thần.

Suy luận tinh thần là một việc bình thường; chúng ta thực hiện điều này mỗi ngày, một cách tự động và không hề mất sức. Khi bạn nhìn thấy một người đang mỉm cười, bạn sẽ lập tức suy luận rằng cô ấy đang vui vẻ. Khi bạn nhìn thấy một người đang uống một ly nước, bạn sẽ suy luận rằng anh ấy đang khát nước. Ngoài ra, bạn có thể suy luận rằng anh ấy đang cảm thấy căng thẳng đến khô miệng hoặc đang ngừng lại đột ngột trước khi đưa ra ý kiến. Khi bạn đang ăn trưa và bạn cảm thấy nóng và đỏ mặt, bạn có thể suy luận rằng điều này là do bạn đang có cảm xúc lãng mạn, hoặc bạn đang bị cúm.

Tất nhiên, trẻ em cũng nhận thức cảm xúc từ đồ chơi của chúng và các tấm chăn an toàn của chúng, và chúng đối thoại một cách vô cùng thú vị với những thứ đó, nhưng người lớn cũng là các chuyên gia trong vấn đề này. Trong một thí nghiệm nổi tiếng từ những năm 1940, Fritz Heider và Mary-Ann Simmel đã tạo ra một đoạn phim hoạt hình đơn giản từ các khối hình học để xem liệu người xem có suy luận ra các trạng thái tinh thần hay không. Các nhân vật trong đoạn video này gồm hai hình tam giác và một hình tròn đi chuyển xung quanh một hình chữ nhật. Đoạn video không có âm thanh và không có giải thích về các chuyển động này. Ngay cả như thế, người xem vẫn sẵn lòng áp đặt cảm xúc và các trạng thái tinh thần cho các hình khối này. Một vài người cho rằng hình tam giác lớn đang bắt nạt hình tam giác nhỏ vô tội cho đến khi hình tròn dũng cảm đến để cứu nó.


 Các nhà khoa học, những thành viên trong loài người, cũng tạo ra các suy luận tinh thần khi diễn giải các kết quả từ nghiên cứu của chính họ. Trên thực tế, mỗi khi các nhà khoa học ghi nhận đo lường thể chất và áp đặt một nguyên nhân tinh thần cho nó, họ đang thực hiện ngụy biện suy luận tinh thần. “Sự thay đổi trong nhịp tim được tạo ra bởi sự hưng phấn”. “Vẻ cau có đó biểu hiện sự giận dữ”. “Hoạt động trong thùy insula trước là do ghê tởm”. “Đối tượng thí nghiệm nhấn bàn phím vi tính nhanh hơn là vì căng thẳng.” Cảm xúc không tạo ra các hành động một cách khách quan và không phụ thuộc vào người nhận thức. Những hành động này, tự thân chúng chắc chắn là bằng chứng cho một thứ gì đó mang tính tâm lý đã xảy ra, nhưng các nhà khoa học chỉ đoán xem chúng là gì. Đây chính là điều mà các nhà khoa họ đã làm: chúng ta đo đạc các thứ, sau đó chúng ta chuyển thể các khuôn mẫu con số thành thứ gì đó có ý nghĩa bằng việc suy luận. Nhưng khi mục tiêu của bạn là tạo ra một lời giải thích khoa học, thì một số suy luận sẽ tốt hơn một số khác.

Hiện tượng học cách sợ hãi là một trong những ví dụ kịch liệt nhất về ngụy biện suy luận tinh thần trong khoa học cảm xúc. Những nhà thí nghiệm này đã làm mờ đi sự khác biệt quan trọng giữa hành vi, chuyển động và trải nghiệm. Co cơ là một chuyển động. Đông cứng người là một hành vi vì nó bao gồm nhiều chuyển động cơ kết hợp với nhau. Cảm giác sợ hãi là một trải nghiệm có thể hoặc có thể không xuất hiện cùng với những hành vi như đông cứng người lại. Hệ thống mạch thần kinh kiểm soát sự đông cứng người lại không phải là hệ thống mạch thần kinh của nỗi sợ hãi. Sự hiểu lầm khoa học nghiêm trọng này, cùng với cụm từ “học cách sợ hãi”, đã gây ra sự nhầm lẫn trong nhiều thập kỷ và biến một thí nghiệm về điều kiện hóa cổ điển (classical conditioning) thành một ngành công nghiệp về sự sợ hãi.

Khái niệm “học cách sợ hãi” này đầy rẫy các vấn đề khác nữa. Những con chuột trong các tình huống bị đe dọa không phải luôn đông cứng người lại. Khi bạn đặt chúng và một cái hộp nhỏ với các âm thanh và các cú sốc điện đi cùng nhau và xuất hiện ở những thời điểm không thể đoán trước được, chuột thực sự đông cứng người lại, nhưng nếu đặt chúng ở môi trường mở lớn hơn, chuột sẽ bỏ chạy đi chỗ khác, trừ phi chúng bị dồn vào một góc – giống như khi bị tấn công. Nếu bạn kềm chế con chuột khi âm thanh vang lên (điều lẽ ra sẽ không quan trọng, vì con chuột lúc này đang đông cứng người lại), thì nhịp tim của nó sẽ hạ xuống hay vì tăng lên. Thêm vào đó, không phải tất cả các hành vi đa dạng này đều cần đến hạch hạnh nhân. Cho đến nay, các nhà khoa học đã xác định được ít nhất ba con đường trong não chuột được cho là liên quan đến sự sợ hãi, mỗi con đường gắn liền với một hành vi cụ thể, và tất cả đều là sản phẩm của sự nguỵ biện suy luận tinh thần. Cuối cùng, một hành vi đơn giản như đông cứng người vốn xuất phát từ nhiều mạch thần kinh trong một mạng phân tán không dành riêng cho việc đông cứng người lại hoặc sự sợ hãi.

Nói tóm lại, bạn không thể nghiên cứu về sự sợ hãi bằng cách sốc điện những con chuột trừ phi ngay từ đầu, bạn đã định nghĩa “sợ hãi” một cách tròn trịa là “phản ứng đóng băng của một con chuột khi bị sốc điện.”

Cũng giống như loài chuột, loài người cũng hành xử theo những cách khác nhau khi bị đe dọa. Chúng ta có thể đông cứng lại, bỏ chạy hoặc tấn công. Chúng ta cũng có thể bật cười, té xỉu, hay phớt lờ những thứ đang xảy ra xung quanh. Những hành vi này có thể đến từ những mạch thần kinh khác nhau trong bộ não giống nhau của các loài động vật có vú, nhưng chúng vốn dĩ không phải là cảm xúc, và chúng không phải là bằng chứng cho thấy cảm xúc có những tinh chất mang tính sinh học.

Tuy nhiên, một số nhà khoa học vẫn tiếp tục viết rằng họ đã tách rời các trạng thái tâm lý rất phức tạp ở động vật. Ví dụ, chuột con khi bị tách khỏi mẹ sau khi sinh ra, đã tạo ra một âm thanh cao vút nghe như tiếng khóc. Một số nhà khoa học suy ra rằng các mạch thần kinh tạo ra tiếng khóc đó hẳn phải là mạch thần kinh của nỗi buồn. Nhưng những con chuột con này không phải đang buồn. Chúng đang lạnh. Âm thanh chỉ là một sản phẩm phụ khi những con chuột con cố gắng điều chỉnh nhiệt độ cơ thể chúng – một phần của ngân sách cơ thể - một việc vốn thường được mẹ chúng làm cho chúng. Việc này không liên quan gì đến cảm xúc cả. Một lần nữa, ngụy biện suy luận tinh thần lại xuất hiện.

Kể từ bây giờ, bất cứ khi nào bạn đọc một bài báo về cảm xúc động vật, hãy xem xét khuôn mẫu này. Nếu một nhà khoa học dán nhãn một hành vi như đông cứng với một từ ngữ chỉ trạng thái tinh thần như “sợ hãi”, bạn nên nghĩ rằng, “Aha, đây là ngụy biện suy luận tinh thần.”

Nói cho công bằng, thì thực sự là vô cùng khó khăn để một nhà khoa học tránh khỏi cái bẫy của việc suy luận tinh thần. Các cơ quan tài trợ thích tài trợ cho các nghiên cứu liên quan trực tiếp đến con người. Các nhà khoa học cũng phải công nhận rằng họ đang thực hiện một suy luận tinh thần ngay từ đầu, đó là một kỳ công không hề nhỏ trong việc xem xét nội tâm. Và khi đó họ phải đủ can đảm để đối mặt với những lời chỉ trích, khinh bỉ của đồng nghiệp vì đã bơi ngược dòng nước. Nhưng hoàn toàn có thể làm được điều đó.

Nhà khoa học thần kinh Joseph E. LeDoux, người đã phổ biến ý tưởng học cách sợ hãi trong cuốn sách nổi tiếng The Emotional Brain của mình, hiện đã lập luận chống lại việc sử dụng thuật ngữ “sợ hãi” khi đề cập đến loài chuột. Trên quan điểm này, ông là một nhà khoa học dũng cảm về mặt tri thức hiếm có. Ông đã xuất bản hàng trăm bài báo về cái gọi là học cách sợ hãi, và một cuốn sách nổi tiếng về nỗi sợ hãi nằm trong hạch hạnh nhân của não bộ, tuy nhiên ông đã cẩn thận xem xét các bằng chứng trái ngược và sửa đổi quan điểm của mình. Theo quan điểm đã được sửa đổi của ông, đông cứng người giúp giữ an toàn cho động vật khi đối mặt với mối đe dọa; nó là một hành vi sinh tồn. Các thí nghiệm cổ điển của ông cho thấy cái mà bây giờ ông gọi là một mạch thần kinh sinh tồn kiểm soát hành vi đóng băng, chứ không phải kiểm soát trạng thái tinh thần như sợ hãi. Sự thay đổi lý thuyết của LeDoux là một ví dụ khác về cuộc cách mạng khoa học mới đối với tâm trí và bộ não, hướng lĩnh vực này tới một lý thuyết về cảm xúc có tính khoa học hơn.

Mặc dù LeDoux và các nhà khoa học cùng chí hướng khác đã tạo ra sự thay đổi, bạn vẫn có thể dễ dàng tìm thấy lỗi suy luận tinh thần trong các video YouTube và các bài nói chuyện TED của các nhà nghiên cứu khác nghiên cứu cảm xúc ở động vật. Người nói cho bạn xem một bộ phim hấp dẫn hoặc hình ảnh một con vật đang thực hiện hành vi nào đó. Nhìn xem một con chuột vui vẻ như thế nào khi bạn cù nó; nhìn xem một con chó buồn bã như thế nào khi nó rên rỉ; nhìn xem một con chuột sợ hãi như thế nào khi nó đông cứng người lại. Nhưng, hãy nhớ rằng, các cảm xúc không phải là thứ mà chúng ta quan sát thấy; mà là thứ chúng ta kiến tạo nên. Khi bạn xem các video, bạn không ý thức được rằng bạn đang sử dụng các kiến thức khái niệm để tạo ra các suy luận, cũng giống như việc bạn không ý thức được quá trình đã khiến bạn nhìn những đốm màu ngẫu nhiên ở chương 2 thành một con ong. Do đó, đối với bạn, động vật trông có vẻ đang có cảm xúc.

Trong chương 4, tôi đã giải thích rằng tất cả những thứ được cho là vùng não phản ứng cảm xúc đều đang tạo ra các dự đoán để điều chỉnh ngân sách cơ thể. Thêm vào đó ngụy biện suy luận tinh thần, rồi trộn đều lên, và bạn sẽ có một công thức để tạo ra câu chuyện huyền thoại về cách thức hoạt động của cảm xúc trong bộ não. Quan sát thấy vỏ não trước của một động vật gặm nhắm tăng hoạt động khi nhìn thấy hàng xóm của mình bị đau đớn là một chuyện. Cho rằng động vật gặm nhắm này cảm thấy đồng cảm lại lại một chuyện khác. Một cách giải thích đơn giản hơn là hai con vật này đang ảnh hưởng đến ngân sách cơ thể của nhau, giống như nhiều loài sinh vật khác.

Bạn hay bị vướng vào việc suy luận tinh thần hơn khi nói về những con vật giống mình. Nhận thức được niềm vui ở một chú chó đang nhảy nhót thì dễ hơn việc nhận thức niềm vui ở một chú gián đang nhảy nhót. Nhận thức được tình yêu thương từ một con thỏ mẹ khi nó ngủ với con của mình thì dễ hơn việc nhận thức tình yêu thương từ một con giun caecilian mẹ, khi nó cho con mình ăn bằng chính thịt của nó. Bộ phim được đề cử giải Oscar dành cho phim khoa học viễn tưỡng District 9 đã cung cấp một ví dụ xuất sắc cho hiện tượng này. Ban đầu các sinh vật ngoài hành tinh trông giống như những con côn trùng ghê tởm với kích thước của con người, nhưng khi chúng ta phát hiện ra rằng họ cũng có gia đình và những người họ thương yêu, chúng ta cảm thấy đồng cảm với họ. Ngay cả hình dạng của Heide và Simmel cũng có vẻ giống con người, vì tốc độ và cách di chuyển của chúng khiến người ta liên tưởng đến cảnh mọi người đang đuổi theo nhau. Chúng ta bắt đầu nhận thức hành động của chúng dưới góc độ tinh thần, và chúng bước vào vòng tròn đạo đức của chúng ta.

Suy luận tinh thần với loài vật không phải là một việc xấu – nó là một điều hoàn toàn bình thường. Hàng ngày, tôi lái xe đi ngang qua một bảng quảng cáo có hình một con đười ươi con đáng yêu. Tôi mỉm cười mỗi khi tôi đến gần nó, bất kể tôi đang nghiền ngẫm về điều gì khác, mặc dù tôi biết con đười ươi không thực sự mỉm cười với tôi và nó cũng không có tâm trí giống như tôi. Thành thật mà nói, nếu mọi người đều vướn vào ngụy biện suy luận tinh thần với động vật, và chúng ta cho phép chúng bước vào vòng tròn đạo đức của chúng ta, thì có lẽ chúng ta sẽ có ít kẻ săn trộm giết voi và tê giác để lấy ngà hoặc săn vượn và tinh tinh lùn làm thức ăn. Nếu mọi người tham gia vào suy luận tinh thần nhiều hơn khi quan sát đồng loại của họ, có lẽ chúng ta sẽ ít tàn nhẫn hơn và ít chiến tranh hơn. Tuy nhiên, khi chúng ta là các nhà khoa học, chúng ta phải chống lại sự lôi cuốn của suy luận tinh thần.

Chúng ta đã quen việc nghĩ về động vật giống như nghĩ về chính chúng ta: chúng giống chúng ta như thế nào, chúng dạy chúng ta điều gì về chính mình, chúng có ích với chúng ta như thế nào, chúng ta siêu việt hơn chúng như thế nào. Hoàn toàn ổn nếu như chúng ta nhân hóa động vật với mục đích bảo vệ chúng. Nhưng khi chúng ta nhìn động vật bằng lăng kính danh tính của chính mình, chúng ta có thể gây hại cho chúng theo những cách không ngờ tới. Chúng ta xem những chú chó quá gắn bó với chúng ta tới mức trở nên căng thẳng là “quá hung dữ” và chúng ta trừng phạt chúng khi đáng lẽ ra, chúng ta nên chăm sóc chúng hơn. Chúng ta tách tinh tinh con ra khỏi mẹ chúng trong khi, trong môi trường hoang dã thì tinh tinh con sẽ được nuôi dưỡng cho đến khi chúng năm tuổi, hoàn toàn được bảo vệ trong sự ấm áp và mùi hương của lông tinh tinh mẹ.

Thử thách của chúng ta khi cố gắng hiểu tâm trí loài vật, là phải hiểu chúng với tư cách của chính chúng, chứ không phải theo cách của con người. Hiểu tâm trí loài vật theo cách của con người là một ý tưởng đến từ quan điểm cổ điển về bản chất con người, nó ngụ ý rằng, tinh tinh và các loài linh trưởng khác ít tiến hóa hơn, chúng là một phiên bản kém hơn của chúng ta. Không phải như thế. Chúng chỉ là thích nghi với môi trường sinh thái mà chúng sống. Tinh tinh phải kiếm thức ăn và con người hiện đại thì không, vì vậy não tinh tinh được thiết lập để xác định và ghi nhớ các chi tiết, chứ không phải để xây dựng các điểm tương đồng về tinh thần.

Cuối cùng, nếu chúng ta tìm hiểu về loài vật theo cách riêng của chúng, chúng ta sẽ có nhiều lợi ích hơn vì mối quan hệ của chúng ta với chúng sẽ tốt hơn. Con người chúng ta sẽ ít gây thiệt hại hơn cho chúng và cho thế giới mà tất cả chúng ta đang sống.

Động vật là những sinh vật có cảm xúc, ít nhất là đối với nhận thức của con người. Đây là một phần của thực tại xã hội mà chúng ta tạo ra. Chúng ta truyền cảm xúc cho ô tô, đồ đạc trong nhà và thậm chí cả những hình tròn và hình tam giác nhỏ trong một bộ phim. Chúng ta cũng truyền cảm xúc cho động vật. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là động vật thực sự trải nghiệm cảm xúc. Động vật có một ngách cảm tính nhỏ không thể hình thành khái niệm cảm xúc. Một con sư tử không thể ghét một con ngựa vằn khi nó săn và giết nó. Đó là lý do tại sao chúng ta không cảm thấy hành động của con sư tử là phi đạo đức. Bất cứ khi nào bạn đọc một cuốn sách hay một tin tức nói về việc động vật trải nghiệm cảm xúc như con người (“Tin mới nhận: Mèo cảm thấy schadenfreude (vui vẻ trước thất bại của người khác) trước chuột), hãy nhớ về điều này và bạn sẽ nhanh chóng nhìn thấy sự ngụy biện suy luận tinh thần hiển hiện ngay trước mắt bạn.

Một số nhà khoa học vẫn cho rằng tất cả các động vật có xương sống đều có chung mạch cảm xúc cốt lõi được bảo tồn để biện minh cho tuyên bố rằng động vật cũng có cảm xúc như con người. Một nhà khoa học thần kinh nổi tiếng, Jaak Panksepp, thường mời khán giả của mình xem bằng chứng về các mạch thần kinh như vậy trong các bức ảnh của ông về những con chó đang gầm gừ và mèo đang gào rít, và trong video về những chú chim non “khóc đòi mẹ”. Tuy nhiên, người ta nghi ngờ về sự tồn tại của những mạch thần kinh cảm xúc này trong bộ não động vật. Bạn có các mạch thần kinh sinh tồn cho các hành vi như “bốn chữ F” nổi tiếng (chiến đấu (fighting), chạy trốn (fleeing), kiếm ăn (feeding) và giao phối (mating)); chúng được kiểm soát bởi các vùng ngân sách cơ thể trong mạng lưới cảm thụ nội tại của bạn và chúng gây ra những thay đổi cơ thể mà bạn trải nghiệm dưới dạng các cảm tính khác nhau, nhưng chúng không dành riêng cho cảm xúc. Đối với cảm xúc, bạn cũng cần các khái niệm cảm xúc để phân loại chúng.

Việc tìm kiến các năng lực liên quan đến cảm xúc vẫn đang diễn ra. Tinh tinh lùn và tinh tinh, những bà con gần của chúng ta, có thể có những dây lửa (công cụ kích hoạt vận hành máy móc) trong các mạch thần kinh của chúng để hình thành các loại khái niệm cảm xúc của chính chúng. Loài voi cũng có khả năng này; chúng sống lâu, là động vật có tính xã hội, và chúng liên kết chặt chẽ với đàn của mình. Loài cá heo cũng vậy. Ngay cả những chú cho như Rowdy cũng là các ứng cử viên tốt, vì chúng đã được nuôi dưỡng bên cạnh con người trong hàng ngàn năm. Có một điều gì đó có thể đang xảy ra trong các loài động vật này, dù có thể nó không phải là cảm xúc con người. Với chuột thí nghiệm, chuột lang Cupcake, và hầu hết những loài vật khác mà chúng ta nhìn thấy như thể chúng có cảm xúc, chúng không thể kiến tạo cảm xúc vì chúng không có các khái niệm cảm xúc cần thiết. Các loài vật phi nhân loại có cảm tính, nhưng ở thời điểm này, thực tại cảm xúc của chúng chỉ là do chúng ta tạo ra.



Read More