Chương 10
Cảm xúc và Bệnh tật
Hãy nghĩ về lần cuối cùng
mà bạn bị cảm. Có thể bạn bị sổ mũi, ho, sốt, và các triệu chứng khác. Hầu hết
mọi người đều cho là nguyên nhân gây ra bệnh cảm chỉ là một loại virus gây bệnh
cảm. Tuy nhiên, khi các nhà khoa học đặt một con virus gây bệnh cảm vào mũi của
một trăm người, chỉ có khoảng 25-40 người mắc bệnh. Do đó, một con virus bệnh cảm
không thể là tinh chất của căn bệnh này – có một thứ gì đó phức tạp hơn đang diễn
ra. Virus chỉ mang tính cần thiết cho căn bệnh, chứ không đầy đủ để gây ra căn
bệnh.
Tập hợp đa dạng các triệu
chứng mà bạn gọi là “bệnh cảm” không chỉ hiện diện trong cơ thể bạn mà còn ở
tinh thần của bạn nữa. Ví dụ, nếu bạn là một người hướng nội hoặc một người có
tư duy tiêu cực, bạn sẽ dễ bị cảm khi mũi của bạn nhiễm khuẩn.
Quan điểm mới của chúng ta
về bản chất con người, lấy cảm hứng từ lý thuyết kiến tạo cảm xúc, đã xóa tan
ranh giới giữa tinh thần và thể chất, bao gồm những phần mà căn bệnh tác động tới.
Ngược lại, tư duy chủ nghĩa tinh chất cũ kỹ thì cũng giữ vững những ranh giới
này. Nếu bạn gặp vấn đề với bộ não của mình? Hay đi gặp một nhà thần kinh học.
Nếu bạn gặp vấn đề với trí óc của mình, thì bạn cần gặp một nhà tâm lý trị liệu.
Quan điểm hiện đại hơn thì tích hợp trí óc và bộ não, và đưa ra các hướng dẫn để
hiểu biết hơn về các căn bệnh của con người.
Ví dụ, nếu bạn quan sát
các triệu chứng đa dạng trong các căn bệnh như căng thẳng, trầm cảm, đau mãn
tính, và stress mãn tính, chúng không thể chứa gọn trong một ngăn tủ giống như
những món đồ dùng nhà bếp có thể chứa trong một ngăn tủ bếp. Mỗi căn bệnh có một
sự đa dạng khổng lồn, và tất cả các tập hợp triệu chứng của chúng chồng chéo
lên nhau. Tình huống này nghe rất quen tai. Bạn đã học được rằng các danh mục cảm
xúc như niềm vui và nỗi buồn không có bất kỳ tinh chất nào cả; chúng được tạo
ra bởi các hệ thống cốt lõi trong cơ thể và bộ não của bạn, trong bối cảnh có
những cơ thể và bộ não khác. Bây giờ, tôi đề xuất rằng một số căn bệnh nghe có
vẻ khác nhau cũng có cấu trúc tương tự như thế: chúng là một cái bánh sinh học
rất đa dạng được con người cắt ra theo nhiều cách khác nhau.
Dùng phương pháp kiến tạo
để hiểu về các căn bệnh có thể giúp giải đáp một số câu hỏi phức tạp chưa bao
giờ được giải đáp. Tại sao nhiều chứng rối loạn lại có chung các triệu chứng? Tại
sao nhiều người vừa căng thẳng vừa trầm cảm? Triệu chứng mệt mỏi kinh niên có
phải là một căn bệnh không, hay chỉ là ngụy trang của chứng trầm cảm? Những người
mắc chứng đau kinh niên mà không thể xác định được các mô bị tổn thương thì có
phải họ đang mắc bệnh về tâm thần không? Và tại sao những người bị bệnh tim thường
bị trầm cảm? Nếu những căn bệnh được đặt tên khác nhau có liên quan đến cùng một
nhóm nguyên nhân cốt lõi, làm mờ ranh giới giữa những căn bệnh đó, thì những
câu hỏi như vậy sẽ không còn là bí ẩn.
Chương này là chương có
tính suy đoán nhất trong toàn bộ cuốn sách này, nhưng nó được củng cố bởi dữ liệu,
và tôi hy vọng là bạn sẽ cảm thấy những ý tưởng này thật hấp dẫn và khiêu
khích. Trong những trang tiếp theo, tôi sẽ mô tả cách mà các hiện tượng như đau
đớn và stress, và các căn bệnh như đau kinh niên, stress kinh niên, căng thẳng
và trầm cảm, chúng đan xen với nhau nhiều hơn là bạn nghĩ, và chúng được kiến tạo
theo đúng cái cách mà cảm xúc được kiến tạo. Thành phần chính yếu trong quan điểm
này là sự hiểu biết sâu sắc hơn về bộ não mang tính dự đoán và ngân sách cơ thể
bạn.
Hàng ngày, ngân sách cơ thể
của bạn dao động một cách bình thường, vì não dự đoán nhu cầu của cơ thể và tạo
ra thay đổi xung quanh các nguồn ngân sách như oxy, glucose, muối và nước. Khi
bạn tiêu hóa thức ăn, dạ dày và ruột của bạn sẽ “vay mượn” các nguồn lực từ cơ
bắp của bạn. Khi bạn chạy, cơ bắp của bạn vay mượn các nguồn lực từ gan và thận
của bạn. Trong những lần vay mượn này, ngân sách của bạn vẫn có khả năng thanh
toán.
Ngân sách cơ thể bạn trở
nên mất cân bằng khi não bạn ước tính sai. Điều này thỉnh thoảng cũng xảy ra.
Khi thứ gì đó có ý nghĩa về mặt tâm lý xảy ra, ví dụ như nhìn thấy sếp của bạn
hay huấn luyện viên của bạn hay giáo viên của bạn đang bước về phía bạn, não của
bạn có thể dự đoán một cách không cần thiết là bạn đang cần nhiên liệu, nó sẽ
kích hoạt các mạch thần kinh sống còn gây tác động đến ngân sách của bạn. Nói
chung, sự mất cân bằng trong ngắn hạn này không đáng lo, miễn là bạn có thể trả
lại các khoản rút ngân sách này thông qua việc ăn uống và ngủ nghỉ.
Tuy nhiên, khi ngân sách bị
mất cân bằng trong dài hạn, động lực bên trong của bạn thay đổi theo chiều hướng
xấu hơn. Bộ não của bạn dự đoán sai rằng cơ thể bạn cần năng lượng lặp đi lặp lại,
khiến ngân sách của bạn rơi vào tình trạng báo động đỏ. Tác hại của việc lập kế
hoạch sai kinh niên có thể tàn phá sức khỏe của bạn và triệu tập “những tay đòi
nợ” trong cơ thể bạn – và chúng chính là một phần của hệ thống miễn dịch của bạn.
Thông thường, hệ thống miễn
dịch của bạn là một trong nhóm những người tốt trong cơ thể bạn, bởi vì chúng bảo
vệ bạn khỏi những kẻ xâm nhập và các vết thương. Nó giúp bạn thông qua việc gây
ra tình trạng viêm nhiễm, chẳng hạn như tạo ra các vết sưng tấy khi bạn vô tình
dùng búa đập vào ngón tay, hoặc khi bạn bị ong đốt hoặc nhiễm trùng. Tình trạng
viêm nhiễm này xuất phát từ một số protein nhỏ gọi là các cytokine tiền viêm,
mà tôi đã đề cập ngắn gọn trong chương trước. Khi bạn bị chấn thương hoặc bị
nhiễm bệnh, các tế bào của bạn tiết ra các cytokine hút máu đến vùng bị nhiễm bệnh,
làm tăng nhiệt độ và tạo ra các vết sưng tấy. Những cytokine này có thể khiến bạn
cảm thấy mệt mỏi và cảm thấy bệnh chung chung khi chúng thực hiện công việc của
mình là giúp bạn hồi phục.
Tuy nhiên, các cytokine tiền
viêm cũng có thể trở thành kẻ xấu, nếu có điều kiện thích hợp để đòi nợ. Điều
này đặc biệt đúng khi ngân sách cơ thể của bạn mất cân bằng kinh niên, chẳng hạn,
nếu bạn sống trong một khu vực nguy hiểm và nghe thấy tiếng súng mỗi đêm. Trong
một môi trường khắc nghiệt như vậy, não của bạn có thể thường xuyên dự đoán rằng
bạn cần nhiều năng lượng hơn mức cơ thể yêu cầu. Những dự đoán này khiến cơ thể
bạn tiết ra cortisol thường xuyên hơn và nhiều hơn mức bạn cần. Cortisol thường
giúp giảm viêm (đó là lý do tại sao các loại kem hydrocortisone làm giảm ngứa,
và tiêm cortisone giúp giảm sưng). Khi bạn có quá nhiều cortisol trong máu
trong thời gian dài, thì tình trạng viêm sẽ bùng phát. Bạn sẽ cảm thấy cạn kiệt
năng lượng. Bạn có thể bị cảm. Nếu ai đó đặt một virus bệnh cảm vào mũi của bạn,
bạn sẽ là một trong số những người bị bệnh.
Tiếp theo, có thể sẽ xảy
ra một vòng lẩn quẩn. Khi bạn cảm thấy mệt mỏi do viêm nhiễm, bạn không vận động
nhiều, nhằm để bảo trì nguồn năng lượng hạn chế của bạn (não của bạn lúc này đã
nhầm lẫn). Bạn bắt đầu ăn uống và ngủ nghỉ một cách sai trái và bỏ qua việc tập
thể dục, và điều này sẽ khiến ngân sách cơ thể bạn mất cân bằng hơn nữa, và bạn
bắt đầu cảm thấy cực kỳ tồi tệ. Bạn có thể sẽ tăng cân, và điều này sẽ đẩy
nhanh vấn đề của bạn hơn nữa vì các tế bào chất béo trên thực tế sẽ sản sinh
các cytokine tiềm viêm khiến cho chứng viêm nhiễm trầm trọng hơn. Bạn có thể sẽ
bắt đầu trốn tránh mọi người, và như vậy thì những người khác không thể giúp bạn
cân bằng ngân sách cơ thể được, và những người có ít liên kết xã hội hơn cũng sẽ
có nhiều cytokine tiềm viêm hơn và thậm chí sẽ thường xuyên bị bệnh hơn.
Khoảng 10 năm trước, các
nhà khoa học đã kinh ngạc khi khám phá ra rằng các cytokine tiền viêm có thể chạy
từ cơ thể lên não. Hiện nay chúng ta cũng biết rằng bộ não có riêng một hệ thống
viêm nhiễm với các tế bào sản sinh cytokine. Những protein bé nhỏ này, với khả
năng tạo ra các cảm xúc đau khổ, đã tái định hình não bộ. Chứng viêm trong bộ
não tạo ra các thay đổi trong cấu trúc bộ não, cụ thể là trong mạng lưới cảm thụ
nội tại của bạn; nó can thiệp vào các liên kết thần kinh, và nó thậm chí còn giết
chết các neuron. Chứng viêm kinh niên có thể khiến bạn khó tập trung hơn, khó
nhớ hơn và làm giảm năng lực của bạn trong các bài kiểm tra IQ.
Hãy xem xét điều gì sẽ xảy
ra nếu bạn ở trong một tình huống xã hội căng thẳng, như khi một nhóm đồng nghiệp
đột nhiên ngưng mời bạn cùng ăn trưa, hoặc khi bạn bè của bạn đọc tin nhắn của
bạn mà không trả lời. Bình thường, bộ não của bạn sẽ dự đoán rằng bạn cần thêm
nhiên liệu mà cơ thể bạn thực sự không cần, điều này sẽ tạm thời tác động đến
ngân sách của bạn. Nhưng nếu tình huống xã hội này không kết thúc nhanh chóng?
Chuyện gì sẽ xảy ra nếu việc bị xã hội từ chối này xảy ra hàng ngày? Cơ thể của
bạn sẽ luôn ở tình trạng báo động, tràn ngập cortisol và cytokine. Lúc này, não
của bạn bắt đầu đối xử với cơ thể bạn như thể nó bị bệnh hoặc đã bị tổn hại, và
tình trạng viêm mãn tính bắt đầu xuất hiện.
Tình trạng viêm trong bộ
não của bạn là vô cùng tồi tệ. Nó tác động đến các dự đoán của bạn, đặc biệt là
những dự đoán liên quan đến việc quản lý ngân sách cơ thể, khiến ngân sách của
bạn bị thấu chi. Hãy nhớ rằng các mạch thần kinh quản lý ngân sách cơ thể của bạn
mắc chứng lãng tai – nó hầu như điếc đặc trước sự chỉnh sửa từ cơ thể bạn. Tình
trạng viêm có thể đẩy sự hầu như điếc đặc này trở thành “hoàn toàn điếc đặc”.
Các vùng quản lý ngân sách cơ thể bạn bắt đầu trở nên thiếu nhạy cảm trước tình
huống của bạn, điều này khiến ngân sách cơ thể bạn bị thấu chi nhiều hơn. Bạn
có thể trở nên mệt mỏi và cảm giác khó chịu. Việc lập ngân sách sai kinh niên sẽ
khiến nguồn lực của bạn cạn kiệt, khiến cơ thể bạn bị hao mòn, và cuối cùng
tích tụ nhiều cytokine tiền viêm hơn. Khi điều đó xảy ra, bạn thực sự, thực sự
đang gặp rắc rối.
Một ngân sách cơ thể bị mất
cân bằng kinh niên có tác dụng như phân bón đối với bệnh tật. Trong hai mươi
năm gần đây, rõ ràng là hệ thống miễn dịch là một thành phần gây ra nhiều bệnh
hơn bạn có thể dự đoán, bao gồm bệnh tiểu đường, béo phì, bệnh tim mạch, trầm cảm,
mất ngủ, giảm trí nhớ, và những chức năng “lý trí” khác liên quan đến việc lão
hóa sớm và mất trí nhớ. Ví dụ, nếu bạn vốn đã bị ung thư, thì tình trạng viêm sẽ
làm cho các khối u phát triển nhanh hơn. Các tế bào ung thư cũng có nhiều khả
năng sống sót hơn trong hành trình nguy hiểm qua đường máu để lây nhiễm sang
các vị trí khác trong cơ thể, một quá trình được gọi là di căn. Tử vong vì ung
thư đến sớm hơn.
Tình trạng viêm đã trở
thành một thứ thay đổi cuộc chơi trong hiểu biết của chúng ta về các căn bệnh
thần kinh. Trong nhiều năm, các nhà khoa học và các bác sĩ đã dùng quan điểm cổ
điển để nhìn nhận các bệnh thần kinh như căng thẳng kinh niên, đau kinh niên,
stress, và trầm cảm. Mỗi một căn bệnh đều được cho là sở hữu một dấu vân tay
sinh học khiến nó khác biệt với những căn bệnh khác. Các nhà nghiên cứu sẽ hỏi
những câu hỏi mang tính chủ nghĩa tinh chất giả định rằng mỗi một chứng bệnh đều
khác nhau: “Trầm cảm tác động đến cơ thể của bạn như thế nào? Bằng cách nào mà
cảm xúc ảnh hưởng đến cơn đau? Tại sao chứng căng thẳng và trầm cảm thường xuất
hiện cùng nhau?”
Gần đây, sự phân chia ranh
giới giữa các căn bệnh này đã bắt đầu biến mất. Những người được chẩn đoán là mắc
các chứng rối loạn có tên giống nhau có thể có nhiều triệu chứng rất khác nhau
– sự đa dạng mới là điều bình thường. Cùng lúc đó, những chứng rối loạn khác
nhau có thể chồng chéo lên nhau: chúng đều có những triệu chứng giống nhau,
chúng làm suy nhược những vùng não giống nhau, người mắc bệnh cho thấy khả năng
nhận diện chi tiết cảm xúc thấp, và các cách điều trị giống nhau có cùng hiệu
quả như nhau.
Kết quả của những khám phá
này là các nhà nghiên cứu đang dần lệch xa khỏi quan điểm cổ điển rằng các chứng
bệnh khác nhau có những tinh chất khác nhau. Thay vào đó, họ tập trung vào một
tập hợp các nguyên liệu thường gặp – những thứ khiến người ta dễ bị tổn thương
trước những chứng bệnh khác nhau này, như các yếu tố về gene, chứng mất ngủ, và
tổn thương mạng lưới cảm thụ nội tại hoặc những trung tâm chính trong não
(chương 6). Nếu những vùng này bị tổn thương, bộ não sẽ gặp rắc rối lớn: trầm cảm,
rối loạn hoảng sợ, tâm thần phân liệt, tự kỷ, chứng khó đọc, đau mãn tính, sa
sút trí tuệ, bệnh Parkinson và rối loạn tăng động giảm chú ý đều có liên quan đến
tổn thương trung tâm.
Quan điểm của tôi là một số
bệnh chính được coi là khác biệt và “tâm thần” đều bắt nguồn từ tình trạng cơ
thể mất cân bằng kinh niên và tình trạng viêm nhiễm không thể kiểm soát. Chúng
ta phân loại và đặt tên cho chúng theo những cái tên khác nhau dựa trên bối cảnh,
cũng giống như cách chúng ta phân loại và đặt tên cho các thay đổi cơ thể giống
nhau thành những cảm xúc khác nhau. Nếu tôi đúng, thì các câu hỏi như, “Tại sao
chứng căng thẳng và trầm cảm lại thường xuyên xuất hiện cùng nhau?” sẽ không
còn là bí ẩn nữa, vì cũng giống như các cảm xúc, những chứng bệnh này không có
các ranh giới cố định. Tôi sẽ trình bày nhiều lý do hơn cho quan điểm này khi
chúng ta thảo luận chi tiết về các chứng stress, đau đớn, trầm cảm và căng thẳng.
Hãy bắt đầu với stress. Có thể bạn sẽ nghĩ rằng stress là một
thứ xảy ra với bạn, như khi bạn phải vật lộn với năm nhiệm vụ cùng một lúc, hoặc
khi sếp của bạn nói với bạn rằng công việc ngày mai hết hạn trong hôm nay, hoặc
khi bạn đánh mất người mà bạn yêu thương. Nhưng stress không đến từ thế giới
bên ngoài. Bạn đã kiến tạo nên nó.
Một số stress mang tính tích cực, ví dụ như thử thách khi học
một môn học mới ở trường. Một số stress mang tính tiêu cực nhưng vẫn có thể chịu
được, như việc cãi nhau với bạn thân của bạn. Và một số stress thì rất độc hại,
như cơn stress kinh niên đến từ việc nghèo túng trong thời gian lâu dài, bị lạm
dụng, hoặc cô đơn. Nói cách khác, stress là một quần thể các phân mục đa dạng.
Nó là một khái niệm, cũng như “niềm vui” và “sợ hãi”, mà bạn ứng dụng để kiến tạo
nên các trải nghiệm từ một nguồn ngân sách cơ thể mất cân bằng.
Bạn kiến tạo nên các phân mục của “Stress” thông qua các cơ
chế não bộ tương tự với khi kiến tạo nên các cảm xúc. Trong mỗi trường hợp này,
não của bạn tạo ra các dự đoán về ngân sách cơ thể bạn trong mối quan hệ với thế
giới bên ngoài và tạo ý nghĩa cho nó. Những dự đoán này được tạo ra từ mạng lưới
cảm thụ nội tại của bạn và di chuyển xuống theo cùng một con đường từ bộ não đến
cơ thể. Theo hướng ngược lại, stress và các cảm xúc cũng dùng chung một con đường
đi lên để mang theo các thông tin cảm giác đầu vào từ cơ thể đến bộ não. Và
cùng một cặp đôi các mạng lưới cảm thụ nội tại và kiểm soát cũng đóng vai trò
tương tự như nhau đối với stress và các cảm xúc. ((Các nhà nghiên cứu về cảm
xúc và căng thẳng hiếm khi nhận ra những điểm tương đồng này và có xu hướng hỏi
căng thẳng ảnh hưởng đến cảm xúc như thế nào và ngược lại, như thể căng thẳng
và cảm xúc là độc lập và tách rời nhau.) Từ quan điểm kiến tạo, điểm khác biệt
giữa chúng chỉ là kết quả cuối cùng: liệu bộ não của bạn sẽ phân loại cảm giác
của bạn là stress hay là một cảm xúc.
Tại sao bộ não có tính dự đoán lại kiến tạo nên các phân mục
của stress hay các phân mục cảm xúc trong một tình huống nào đó? Không ai biết
câu trả lời. Có lẽ là khi ngân sách cơ thể của bạn bị cạn kiệt càng lâu thì bạn
sẽ càng có xu hướng phân loại nó với khái niệm “stress”, nhưng đây chỉ là suy
đoán thuần túy.
Nếu ngân sách cơ thể bạn bị mất cân bằng trong thời gian
dài, bạn có thể sẽ phải trải nghiệm stress kinh niên. (Lập ngân sách sai kinh
niên thường được chẩn đoán là stress, đó là lý do tại sao người ta nghĩ rằng
stress tạo ra bệnh.) Stress kinh niên rất nguy hiểm cho sức khỏe thể chất của bạn.
Theo đúng nghĩa đen, nó ăn mòn các mạng lưới cảm thụ nội tại và kiểm soát của bạn,
khiến chúng suy nhược, trong khi nguồn ngân sách bị mất cân bằng kinh niên đã
tái định hình các mạch thần kinh não bộ chịu trách nhiệm điều chỉnh ngân sách.
Những điều này là quá đủ để chứng minh rằng sự phân chia cổ điển giữa bệnh thể
chất và bệnh thần kinh là hoàn toàn sai lầm.
Các nhà khoa học vẫn đang tìm cách giải đáp câu đố về hệ thống
miễn dịch, stress và các cảm xúc, nhưng ngay lúc này chúng ta đã nắm được một
vài thứ. Sự mất cân bằng tích lũy trong ngân sách cơ thể — chẳng hạn như việc lớn
lên trong nghịch cảnh, nơi bạn không cảm thấy an toàn hoặc bị thiếu thốn những
nhu cầu cơ bản như thực phẩm bổ dưỡng, thời gian yên tĩnh để ngủ, v.v. — cũng
làm thay đổi cấu trúc mạng lưới cảm thụ nội tại, tái thiết lập bộ não của bạn
và làm giảm năng lực của bộ não trong việc điều chỉnh ngân sách cơ thể một cách
chính xác. Chỉ cần một vài trải nghiệm có tính tiêu cực cao thì những đứa trẻ
đã cảm thấy như thể chúng đang sống trong vùng chiến, làm giảm kích thước các
vùng lập ngân sách cơ thể khi chúng trưởng thành. Lớn lên trong một gia đình khắc
nghiệt và rối loạn, với nhiều mâu thuẫn và chỉ trích sẽ làm tăng tình trạng
viêm ở trẻ em gái vị thành niên và đặt trẻ em vào quỹ đạo của bệnh mãn tính; nó
cũng tồi tệ như việc trẻ bị lạm dụng hay bị bỏ rơi trong thời thơ ấu. Cũng giống
như việc là nạn nhân bị bắt nạt. Những đứa trẻ bị bắt nạt khi còn nhỏ có biểu
hiện viêm mức độ nhẹ kéo dài đến tuổi trưởng thành, khiến chúng dễ mắc một loạt
các bệnh về tâm thần và thể chất. Đây là vô số những cách mà một ngân sách cơ
thể mất cân bằng có thể tác động lên bộ não, dẫn đến nguy cơ mắc bệnh tim, viêm
khớp, tiểu đường, ung thư và các bệnh khác cao hơn.
Về mặt tích cực, sự liên kết giữa cảm xúc và stress cho thấy
rằng bạn có thể giảm tình trạng viêm bằng cách áp dụng các kỹ thuật từ chương
trước. Ví dụ như, những người thông minh hơn về mặt cảm xúc khi bị mắc ung thư,
thường có mật độ cytokine tiền viêm thấp hơn. Theo nghiên cứu, khi bệnh nhân
nói rằng họ thường phân loại, dán nhãn và thấu hiểu các cảm xúc của họ thì họ ít
có khả năng bị tăng cytokine trong quá trình hồi phục sau ung thư tuyến tiền liệt
hoặc sau một sự kiện căng thẳng, và những người không dán nhãn các cảm tính của
mình thì có mức độ tuần hoàn cytokine cao hơn rất nhiều. Những bệnh nhân nữ sống
sót sau ung thư vú thường dán nhãn và thấu hiểu cảm xúc của họ cũng có một sức
khỏe tốt hơn là ít khi phải đi khám những triệu chứng liên quan đến ung thư
hơn. Điều này có nghĩa là, theo thời gian, những người phân loại một cách hiệu
quả các cảm giác nội tại của họ thành các cảm xúc sẽ được bảo vệ tốt hơn trước
các quá trình viêm nhiễm kinh niên dẫn tới một sức khỏe kém.
Đau, giống như căng thẳng
và cảm xúc, là một từ dùng để mô tả một quần thể trải nghiệm đa dạng — đau nhức
khi bị trẹo mắt cá chân, nhức đầu liên tục, ngứa ngáy khi bị muỗi đốt, và tất
nhiên, sự đau đớn khi đẩy một đầu ba mươi năm cm qua cổ tử cung rộng 10 cm.
Có thể bạn sẽ nghĩ rằng
khi cơ thể của bạn bị hại, các thông tin chỉ đơn giản là truyền từ khu vực bị tổn
thương đến não của bạn, khiến bạn phải chửi thề và đưa tay lấy ibuprofen và
băng cá nhân. Đúng là hệ thống thần kinh của bạn đã gửi những thông tin cảm
giác đầu vào đến bộ não của bạn khi các cơ và khớp của bạn bị thương, hoặc các
tế bào cơ thể bạn bị tổn thương bởi nhiệt độ quá nóng hay quá lạnh, hoặc để phản
ứng với kích ứng hóa học như hạt tiêu vào mắt. Quá trình này được gọi là đau cảm thụ (nociception). Trong quá khứ,
các nhà khoa học tin rằng bộ não chỉ đơn giản là nhận và biểu thị các cảm giác
đau cảm thụ và, voilà (tiếng pháp, nguyên văn, nghĩa là: vậy là
xong), bạn trải nghiệm cơn đau.
Những các hoạt động bên
trong của cơn đau phức tạp hơn nhiều đối với một bộ não mang tính dự đoán. Cơn
đau là một trải nghiệm không chỉ đến
từ các tổn thương thể chất mà còn xuất hiện khi não của bạn dự đoán về một cơn
đau sắp xảy ra. Nếu đau cảm thụ được tạo ra từ dự đoán, tương tự như tất cả mọi
hệ thống cảm giác khác trong bộ não, thì bạn sẽ kiến tạo nên các phân mục của
cơn đau từ các bộ phận cơ bản hơn bằng cách sử dụng khái niệm "Đau".
Theo cách nhìn nhận của
tôi, cơn đau được kiến tạo theo đúng cái cách mà các cảm xúc được tạo ra. Giả sử
như bạn đang ở phòng khám để được tiêm phòng uốn ván. Bộ não của
bạn tạo ra một phân mục “Đau” bằng cách đưa ra các dự đoán về mũi kim đâm vào
da của bạn, vì bạn đã có kinh nghiệm trước đó với các mũi tiêm. Bạn có thể cảm
thấy đau ngay cả trước khi kim chạm vào cánh tay của bạn. Sau đó các dự đoán của
bạn sẽ được chỉnh sửa bởi thông tin đầu vào liên quan đến đau cảm thụ - khi bạn
thực sự được tiêm – và một khi có lỗi dự đoán, bạn sẽ phân loại các cảm giác
đau cảm thụ này và tạo ra ý nghĩa cho chúng. Cơn đau mà bạn trải nghiệm khi bị
tiêm thực sự chỉ nằm trong bộ não của bạn.
Cách giải thích về nỗi đau
dựa trên sự dự đoán của tôi được chống lưng bởi một vài quan sát. Khi bạn dự
đoán (mong đợi) nỗi đau, như trong khoảnh khắc trước khi bị tiêm, các vùng não
bộ chịu trách nhiệm xử lý cơn đau cảm thụ đã thay đổi hoạt động của chúng.
Nghĩa là, bạn đã mô phỏng cơn đau và do đó, bạn cảm thấy đau. Hiện tượng này được
gọi là hiệu ứng phản dược (nocebo effect). Có lẽ bạn đã quen thuộc với hiệu ứng
đồng nghiệp của nó – hiệu ứng giả dược (placebo effect), hiệu ứng giả dược có
nghĩa là khi chúng ta dùng (mà không biết) một loại thuốc không có tác dụng,
thường là một viên thuốc đường, thì chúng ta vẫn cảm thấy được giảm đau. Nếu bạn
tin là bạn sẽ cảm thấy đỡ đau, thì niềm tin này của bạn sẽ tác động đến các dự
đoán và giảm lượng thông tin đau cảm thụ đầu vào, do đó bạn sẽ cảm thấy thực sự
đỡ đau. Cả hiệu ứng giả dược và hiệu ứng phản dược đều thay đổi các loại hóa chất
trong các vùng não bộ chịu trách nhiệm xử lý cơn đau cảm thụ. Những hóa chất
này bao gồm các opioid giúp giảm đau và chúng hoạt động tương tự như morphine,
codeine, heroin và các loại thuốc gây nghiện khác. Opioid tăng lên trong hiệu ứng
giả dược và làm giảm việc cảm thụ đau đớn, và nó cũng giảm trong hiệu ứng phản
dược, khiến chúng có biệt danh là “tủ thuốc nội tại của bạn”.
Tôi đà nhìn thấy con gái
mình trải nghiệm hiệu ứng phản dược khi con bé còn nhỏ và bị nhiễm trùng tai lần
thứ 13 trong vòng 9 tháng. Lần đầu tiên, chúng tôi đến trị liệu tại một phòng
khám nhi, con bé rên rỉ khó chịu khi bác sĩ nhìn vào lỗ tai của nó (mặc dù ông ấy
là một bác sĩ cẩn thận và tận tâm). Lần thứ hai, con bé khóc lóc
trong phòng chờ. Lần thứ ba, con bé bắt đầu nức nở khi chúng tôi bước vào hành
lang, và lần thứ tư, khi chúng tôi đến bãi đậu xe. Sau đó, con bé bắt đầu sụt sịt
mỗi khi chúng tôi đi trên con đường có phòng khám này. Đây chính là bộ não đang
dự đoán; Sophia bé nhỏ đang mô phỏng cơn đau lỗ tai. Phải mất hàng tháng trời
sau khi Sophie không còn bị nhiễm trùng tai nữa và con bé bước vào độ tuổi chập
chững biết đi, thì con bé mới không còn hỏi rằng “đi bác xĩ sao? Kekk tai của
Sophia sao?” bất cứ khi nào chúng tôi đi đến gần phòng khám.
Giống như cảm xúc và stress, nỗi đau hoàn toàn là một kiến
tạo của bộ não, được tạo ra bởi cặp đôi mạng lưới quen thuộc của chúng ta, mạng
lưới cảm thụ nội tại và mạng lưới kiểm soát. Và những điểm tương đồng không chỉ
có thế. Những con đường dẫn những dự đoán về cơn đau cảm thụ xuống cơ thể, và
những con đường mang các thông tin về cơn đau cảm thụ đầu vào lên bộ não, chúng
liên quan mật thiết đến các cảm thụ nội tại. (Thậm chí, chúng có thể chính là một dạng của cảm thụ nội tại.)
Nói chung, các cảm giác cơ thể được phân loại thành nỗi đau, stress và các cảm
xúc về cơn bản là cùng một thứ, ngay cả khi xét ở mức độ neuron trong não bộ và
tủy sống. Phân biệt giữa nỗi đau, stress và cảm xúc là một dạng của khả năng nhận
diện chi tiết cảm xúc.
Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng cảm thụ đau đớn và cảm
thụ nội tại (nociception và interoception) ở cùng một chỗ với nhau. Nếu trong
phòng thí nghiệm của mình, tôi khiến bạn cảm thấy khó chịu khi chườm nóng gây
đau lên cánh tay bạn, bạn sẽ nói rằng bạn cảm thấy đau đớn hơn. Điều này xảy ra
là bởi vì các vùng lập ngân sách cơ thể của bạn đã tạo ra những dự đoán khiến
cho nỗi đau bị vặn lớn lên – giống như cách chúng ta vặn lớn âm thanh. Những dự
đoán này có thể ảnh hưởng đến mô phỏng nỗi đau trong bộ não của bạn, và chúng
cũng có thể chạm tới cơ thể và khuếch đại hoặc giảm thiểu báo cáo về cơn đau đến
bộ não của bạn. Do đó, các vùng lập ngân sách cơ thể có thể đánh lừa khiến bộ
não tin rằng có nhiều mô đang bị tổn hại, bất chấp những gì đang thực sự xảy ra
trong cơ thể. Như vậy, khi bạn cảm thấy khó chịu, các khớp và cơ của bạn có thể
đau đớn hơn, hoặc bạn có thể bị đau bao tử. Khi ngân sách cơ thể bạn không khỏe
mạnh, nghĩa là các dự đoán cảm thụ nội tại của bạn đang bị điều chỉnh lệch lạc,
thì lưng của bạn có thể đau hơn, hoặc chứng đau đầu của bạn có thể trầm trọng
hơn – không phải vì bạn bị tổn thương mô mà bởi vì thần kinh của bạn đang lặp
đi lại lại điều đó. Đây không phải là một nỗi đau tưởng tượng. Đó là một nỗi
đau có thật.
Khi người ta trải nghiệm một cơn đau liên tục mà không bị tổn
thương bất kỳ mô nào trên cơ thể, thì chứng bệnh đó được gọi là cơn đau kinh niên (chronic pain). Một số
ví dụ nổi tiếng là đau cơ xơ hóa, đau nửa đầu và đau lưng mãn tính. Hơn 1,5 tỷ người
bị đau kinh niên, trong đó có 100 triệu người ở Mỹ phải trả tổng cộn hơn 500 tỷ
USD mỗi năm cho việc điều trị. Nếu tính luôn cả lượng năng suất làm việc bị mất
đi bởi căn bệnh này, thì cơn đau đã khiến nước Mỹ mất đi $635 triệu đô la mỗi
năm. Căn bệnh này cũng vô cùng khó trị, vì các loại thuốc giảm đau được kê đơn
hiện nay hơn phân nửa là không có tác dụng gì. Dịch bệnh đau kinh niên trên
toàn thế giới là một trong những bí ẩn lớn trong y học hiện đại.
Bằng cách nào, và tại sao mà nhiều người trải nghiệm cơn
đau liên tục khi cơ thể của họ không bị tổn thương về mặt thể chất? Để trả lời
câu hỏi này, hãy nghĩ về những điều có thể xảy ra nếu não của bạn tạo ra những
dự đoán không cần thiết về cơn đau, và sau đó, nó bỏ quả những lỗi dự đoán chứng
minh điều ngược lại. Bạn sẽ thực sự cảm thấy đau đớn mà không có bất kỳ lý do
rõ ràng nào. Điều này cũng giống như việc bạn nhìn thấy con ong từ những đốm
màu trong chương 2, khi bạn thực sự nhìn thấy những đường nét vốn dĩ không tồn
tại. Bộ não của bạn phớt lờ thông tin cảm giác đầu vào, nó duy trì tin rằng dự
đoán của mình mới chính là thực tại. Ứng dụng ví dụ này vào nỗi đau và kết quả
là chúng ta sẽ có một mô hình hợp lý về cơn đau kinh niên: đó là những dự đoán
sai lầm không được chỉnh sửa.
Hiện nay các nhà khoa học xem cơn đau kinh niên là một căn
bệnh thuộc về não bộ, với gốc rễ bắt nguồn từ tình trạng viêm nhiễm. Có khả
năng là, bộ não của một người bị đau kinh niên đã nhận được lượng thông tin đầu
vào khổng lồ về cơn đau cảm thụ ở một thời điểm nào đó trng quá khứ, và khi vết
thương được chữa lành, bộ não không nhận được tín hiệu chữa lành này. Nó vẫn tiếp
tục dự đoán và phân loại và tạo ra cơn đau kinh niên. Cũng có khả năng là, các
dự đoán về các chuyển động bên trong cơ thể đã vặn lớn lượng thông tin đầu vào
về cơn đau cảm thụ khi lượng thông tin này được truyền tải từ cơ thể lên bộ
não.
Nếu bạn không may mắc phải cơn đau kinh niên, thì có thể bạn
đã bị nghi ngờ về căn bệnh này bởi những người không hiểu bạn đang phải trải
qua điều gì. Họ nói với bạn rằng cơn đau chỉ “ở trong đầu của bạn”, ý của họ
là, “bạn không bị tổn thương mô, vì thế, hãy đi khám tâm lý đi.” Ý tôi là, bạn
không hề bị điên. Rõ ràng có điều gì đó sai trái đang xảy ra với bạn. Bộ não dự
đoán của bạn, thứ thực sự “ở trong đầu của bạn”, đang tạo ra một cơn đau thực sự,
kể từ thời điểm cơ thể của bạn đã được chữa lành. Nó cũng giống như triệu chứng
tay chân ảo - hi một người bị cụt tay vẫn có thể cảm nhận được cánh tay hoặc
chân bị mất của mình vì não của anh ta liên tục đưa ra các dự đoán về nó.
Chúng ta cũng có những bằng chứng thuyết phục về việc một số
cơn đau kinh niên xuất phát từ dự đoán. Những con vật bị stress hoặc bị thương
khi còn nhỏ thường mắc chứng bệnh đau liên tục này. Trẻ sơ sinh loài người, những
bé phải phẫu thuật thường có nhiều khả năng bị đau hơn sau này. (Thật đáng kinh
ngạc, trẻ sơ sinh trước những năm 1980 thường không được gây mê trong cuộc phẫu thuật lớn, vì họ tin rằng chúng
không thể cảm thấy đau!) Ngoài ra còn có một căn bệnh được gọi là hội chứng đau
vùng phức tạp, trong đó cơn đau do chấn thương lan sang các vùng khác một cách
khó giải thích của cơ thể, điều này dường như có liên quan đến các dự đoán cảm
thụ tiêu cực.
Do đó, “đau đớn” cũng giống như “stress”, là các ý nghĩa mà
bạn tạo ra cho các cảm giác thể chất của mình. Bạn cũng có thể xem cơn đau và
stress là các cảm xúc, hoặc thậm chí các cảm xúc và stress là những dạng khác
nhau của cơn đau. Ý tôi không phải là bộ não không thể phân biệt các phân mục cảm
xúc và đau đớn, ý tôi là cả hai đều không có các dấu vân tay. Nếu tôi quét não
của bạn khi bạn đang bị đau răng và khi bạn đang giận dữ, thì mẫu quét sẽ trông
hơi khác nhau. Nhưng, nếu tôi quét não của bạn khi bạn đang giận dữ theo những
phân mục khác nhau, thì chúng cũng trông khác nhau. Những phân mục khác nhau của
cơn đau răng cũng khác nhau như vậy. Đây chính là sự thoái hóa; sự đa dạng mới
là điều bình thường.
Các cảm xúc, cơn đau cấp tính, cơn đau kinh niên và stress
được kiến tạo trong cùng những mạng lưới, trong cùng con đường dẫn từ não đến
cơ thể và ngược lại; và chúng hầu như xuất phát từ cùng một vùng vỏ não sơ cấp,
do đó, hoàn toàn hợp lý khi chúng ta phân biệt cảm xúc và cơn đau chỉ bằng các
khái niệm – nghĩa là, thông qua các khái niệm, bộ não tạo ra ý nghĩa cho các cảm
giác cơ thể. Cơn đau kinh niên có thể là do bộ não của bạn đã áp dụng sai khái
niệm “đau”, khi nó kiến tạo lên trải nghiệm cơn đau mà không có bất kỳ tổn
thương hay đe dọa nào đến các mô. Cơn đau kinh niệm có thể là một ca bi thảm do
dự đoán sai và do não nhận được các
thông tin lệch lạc từ cơ thể.
Hãy nhớ những thứ bạn vừa
học được từ cơn đau kinh niên và stress kinh niên, giờ hãy hướng sự chú ý của
chúng ta sang bệnh trầm cảm, một tình trạng suy nhược khác có thể lấn át cuộc sống.
Còn được gọi là rối loạn trầm cảm nặng, trầm cảm vượt xa nỗi đau khổ hàng ngày
mà mọi người cảm thấy khi họ rên rỉ, "Tôi trầm cảm quá." Marvin, người
máy hoang tưởng, trong The Hitchhiker’s
Guide to the Galaxy của Douglas Adams, thực sự bị trầm cảm. Đôi khi anh
chán nản cuộc sống đến mức tự tắt máy chính mình. Một giai đoạn trầm cảm nặng
cũng giống như việc bị mất khả năng lao động. Tiểu thuyết
gia William Styron nói trong cuốn hồi ký của mình: “Cơn đau từ chứng trầm cảm nặng
thường không thể tưởng tượng nổi đối với những người chưa từng trải qua nó, và
trong nhiều trường hợp, nó giết người vì người ta không thể chịu đựng nổi cơn
đau đó nữa.”
Đối với nhiều nhà khoa học
và bác sĩ, trầm cảm vẫn là một căn bệnh của tâm trí. Nó được phân loại là một
chứng rối loạn tâm lý và thường bị đổ lỗi cho suy nghĩ tiêu cực: Bạn quá khắt
khe với bản thân hoặc có quá nhiều suy nghĩ tiêu cực gây hại cho bản thân. Hoặc
có thể có những sự kiện đau đớn đã kích thích chứng trầm cảm, đặc biệt là khi
gene của bạn dễ bị tổn thương. Hoặc có thể là bạn không điều chỉnh tốt cảm xúc
của mình, điều này khiến bạn phản ứng quá mức với những sự kiện tiêu cực và ít
phản ứng với những sự kiện tích cực. Tất cả những lý giải này đều giả định rằng
lý trí kiểm soát cảm xúc – ý tưởng cũ kỹ về “bộ não ba ngôi”. Logic ở đây là:
hãy thay đổi suy nghĩ và điều chỉnh tốt cảm xúc, thì chứng trầm cảm sẽ biến mất.
Câu thần chú là: “Đừng lo lắng, hãy vui vẻ lên; và nếu cách đó không hiệu quả,
hãy thử dùng thuốc chống trầm cảm.”
27 triệu người Mỹ đang
dùng thuốc chống trầm cảm hàng ngày, nhưng hơn 70% vẫn tiếp tục gặp các triệu
chứng trầm cảm, và liệu pháp tâm lý cũng không có hiệu quả đối với tất cả mọi
người. Thông thường, các triệu chứng này khởi phát từ tuổi vị thành niên và người
trẻ, sau đó kéo dài suốt đời. Tổ chức Y tế Thế giới dự đoán rằng đến năm 2030,
trầm cảm sẽ gây ra nhiều ca tử vong sớm và thời gian tàn tật nhiều hơn ung thư,
đột quỵ, bệnh tim mạch, chiến tranh hay tai nạn. Đó là những kết quả khá khủng
khiếp khi nói về một căn bệnh “trí óc”.
Có rất nhiều nghiên cứu
tìm kiếm một gene hay một tinh chất thần kinh phổ quát của căn bệnh trầm cảm.
Nhưng, hầu như là, trầm cảm không chỉ là một thứ đơn lẻ. Trầm cảm, như bạn có
thể đoán ra, là một khái niệm. Nó là một quần thể các phân mục đa dạng, vì vậy
có nhiều con đường mang tính thoái hóa dẫn đến trầm cảm, nhiều con đường trong
số đó bắt đầu từ việc ngân sách cơ thể bị mất cân bằng. Nếu trầm cảm lại là một
chứng rối loạn cảm tính, và cảm tính là một bản tóm tắt tổng hợp về việc ngân
sách cơ thể của bạn đang hoạt động như thế nào (câu trả lời: khá kém), thì trầm
cảm thực sự có thể là một rối loạn về dự đoán và lập ngân sách sai lầm.
Chúng ta đều biết rằng bộ
não liên tục dự đoán nhu cầu năng lượng mà cơ thể cần dựa trên các trải nghiệm
quá khứ. Trong tình huống thông thường, bộ não cũng sẽ chỉnh sửa dự đoán của nó
dựa trên thông tin cảm giác thực tế đến từ cơ thể. Những chuyện gì sẽ xảy ra nếu
sự chỉnh sửa này không được thực hiện một cách đúng đắn? Các trải nghiệm hiện tại
của bạn được kiến tạo từ quá khứ như không
được chỉnh sửa bởi hiện tại. Nói chung, tôi nghĩ đó chính là những gì đang
xảy ra trong bệnh trầm cảm. Bộ não của bạn liên tục dự đoán sai về nhu cầu trao
đổi chất. Do đó, cơ thể và bộ não của bạn hành động như thể bạn đang chiến đấu
chống lại sự nhiễm trùng hay đang phục hồi từ một vết thương, trong khi thực sự
không có vết thương nào tồn tại cả, cũng giống như trong trường hợp của stress
kinh niên và đau kinh niên. Kết quả là, cảm tính của bạn cạn kiệt: bạn trải
nghiệm một sự đau khổ suy nhược, mệt mỏi, hay các triệu chứng khác của trầm cảm.
Đồng thời, cơ thể bạn đang nhanh chóng chuyển hóa lượng glucose không cần thiết
để đáp ứng nhu cầu năng lượng cao vốn không tồn tại đó, dẫn đến các vấn đề về
cân nặng và khiến bạn có nguy cơ mắc các bệnh liên quan đến chuyển hóa khác, những
chứng bệnh xảy ra đồng thời với trầm cảm, bao gồm tiểu đường, bệnh tim và ung
thư.
Quan điểm truyền thống về
trầm cảm xem trầm cảm là những suy nghĩ tiêu cực tạo ra những cảm xúc tiêu cực.
Tôi đề nghị chúng ta hãy nghĩ theo cách khác. Các cảm xúc hiện tại của bạn đang
dẫn dắt suy nghĩ cũng như nhận thức tiếp theo của bạn như những dự đoán. Từ đó
bộ não bị trầm cảm không ngừng rút trích từ ngân sách, dựa trên những dự đoán của
nó về những lần rút trích tương tự trong quá khứ. Điều này cũng giống như việc
liên tục hồi tưởng lại những sự kiện khó chịu và khó khăn trong quá khứ. Bạn
rơi vào một vòng xoáy lặp đi lặp lại của việc mất cân bằng ngân sách, mà lỗi dự
đoán không thể dừng nó lại được bởi vì bộ não đã phớt lờ lỗi dự đoán, hoặc lỗi
dự đoán không đến được với bộ não. Trên thực tế, bạn đang bị nhốt vào một chu kỳ
của những dự đoán chưa được điều chỉnh, bị mắc kẹt trong một quá khứ tai hại
khi nhu cầu trao đổi chất của bạn cao.
Một bộ não bị trầm cảm thường
bị nhốt trong đau khổ. Nó cũng giống như một bộ não bị đau kinh niên, phớt lờ
các lỗi dự đoán, nhưng nó xảy ra ở mức độ lớn hơn nhiều – mức độ có thể khiến bạn
kiệt quệ. Nó đẩy ngân sách cơ thể của bạn vào tình trạng nợ nần, do đó não của
bạn phải cố gắng cắt giảm chi tiêu. Cách hiệu quả nhất để làm điều này là gì?
Ngưng vận động và không chú ý đến thế giới bên ngoài nữa (lỗi dự đoán). Đó là
tình trạng mệt mỏi liên tục của chứng trầm cảm.
Nếu trầm cảm là một chứng
rối loạn đến từ việc lập ngân sách sai lầm kinh niên, thì nói cho chính xác, nó
không hoàn toàn là một căn bệnh tâm lý. Nó là một căn bệnh thần kinh, bệnh về
trao đổi chất và bệnh về miễn dịch. Trầm cảm là sự mất cân bằng của nhiều bộ phận
của hệ thần kinh đan xen vào nhau, mà chúng ta chỉ có thể hiểu được bằng cách
điều trị toàn bộ con người, chứ không phải bằng cách điều trị một hệ thống
riêng lẻ giống như các bộ phận của một cỗ máy. Thời điểm chuyển sang giai đoạn
trầm cảm chính có thể đến từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Bạn có thể bị căng thẳng
kéo dài hoặc bị lạm dụng, đặc biệt là trong thời thơ ấu, khiến bạn phải sống với
một mô hình thế giới được dựng lên từ những trải nghiệm độc hại trong quá khứ. Bạn
có thể mắc các tình trạng thể chất như bệnh tim kinh niên hoặc chứng mất ngủ -
và điều này dẫn tới các dự đoán cảm thụ nội tại sai lầm. Gene của bạn có thể
khiến bạn trở nên nhạy cảm với môi trường và với mỗi một vấn đề nhỏ. Tương tự,
nếu bạn là một phụ nữ ở độ tuổi sinh nở, sự kết nối trong mạng lưới cảm thụ nội
tại của bạn thay đổi trong suốt cả tháng, khiến bạn dễ bị tổn thương hơn, tại một
số thời điểm nhất định trong chu kỳ, tạo ra các cảm tính khó chịu, suy nghĩ
thái quá và thậm chí có thể là tăng nguy cơ các chứng rối loạn tâm trạng (mood
disorders) như trầm cảm hay rối loạn căng thẳng hậu chấn thương. “Hãy nghĩ những
suy nghĩ tích cực” hoặc uống thuốc chống trầm cảm có thể không đủ để khiến ngân
sách cơ thể bạn cân bằng trở lại: bạn có thể sẽ cần thay đổi lối sống hoặc một
số điều chỉnh hệ thống khác.
Lý thuyết kiến tạo cảm xúc
cho rằng chún ta cần phải điều trị trầm cảm thông qua việc phá vỡ vòng lặp của
việc lập ngân sách sai lầm, có nghĩa là, thông cảm việc thay đổi các dự đoán cảm
thụ nội tại để phù hợp hơn với những gì đang xảy ra xung quanh bạn. Các nhà
khoa học đã tìm ra bằng chứng để chứng minh điều này. Khi những cách điều trị
như dùng thuốc chống trầm cảm và các liệu pháp nhận thức hành vi bắt đầu có tác
dụng và bạn cảm thấy đỡ trầm cảm hơn, các hoạt động của bạn trong những vùng lập
ngân sách cơ thể chính trở về trạng thái bình thường, và sự liên kết trong mạng
lưới cảm thụ nội tại của bạn được phục hồi. Những thay đổi này nhất quán với ý
tưởng về việc giảm thiểu các dự đoán quá mức. Chúng ta cũng có thể điều trị trầm
cảm bằng cách để nhiều lỗi dự đoán xảy ra hơn, ví dụ như, yêu cầu người bệnh viết
nhật ký về những trải nghiệm tích cực, điều này có thể giảm bớt sự tiêu hao
ngân sách cơ thể. Tất nhiên, vấn đề là không có một cách điều trị này phù hợp với
tất cả mọi người, và có một số người mà đối với họ, không có biện pháp điều trị
nào là có hiệu quả.
Một trong những cách điều
trị hứa hẹn nhất mà tôi từng thấy là công trình đột phá của nhà thần kinh học
Helen S. Mayberg (chương 4), người kích thích điện não của những bệnh nhân bị
trầm cảm không thuyên giảm. Kỹ thuật của cô ấy ngay lập tức làm giảm cơn đau của
chứng trầm cảm, miễn là khi dòng điện đang được bật, não của bệnh nhân chuyển
toàn bộ sự tập trung nội tại sang thế giới bên ngoài, từ đó nó có thể dự đoán
và xử lý lỗi dự đoán một cách bình thường. Hãy cùng hy vọng rằng những kết quả
ban đầu và đáng khích lệ này cuối cùng sẽ dẫn dắt các nhà khoa học đến một
phương pháp điều trị trầm cảm lâu dài hơn. Ít nhất, những kết quả này sẽ giúp
lan truyền thông tin rằng trầm cảm là một căn bệnh của bộ não chứ không chỉ là
sự thiếu hụt những suy nghĩ vui vẻ.
Căng thẳng (anxiety) là một
tình trạng rất khác với cơn đau kinh niên và trầm cảm. Khi bạn căng thẳng, bạn
cảm thấy lo lắng và kiệt quệ, giống như bạn không biết phải làm gì với chính
mình, và nói chung là cảm thấy khổ sở. Điều này hoàn toàn trái ngược với chứng
trầm cảm – chứng bệnh mà bạn cảm thấy uể oải, như thể bạn không thể tiếp tục cuộc
sống, và nhìn chung cũng rất đau khổ, và nó cũng không giống với những cơn đau
kinh niên – chúng rất, ừ thì, đau đớn.
Cho đến nay, chúng ta đã học
được rằng cảm xúc, cơn đau kinh niên, stress kinh niên và trầm cảm đều liên
quan đến mạng lưới kiểm soát và mạng lưới cảm thụ nội tại. Những mạng lưới này
cũng rất quan trọng đối với chứng căng thẳng. Chứng căng thẳng vẫn còn là một
câu đó chưa được giải đáp, nhưng có một điều chắc chắn: nó là một dạng rối loạn
khác của việc dự đoán và lỗi dự đoán xuyên suốt hai mạng lưới này. Trong chứng
căng thẳng, những con đường thần kinh cũng giống với những con đường trong cảm
xúc, đau đớn, stress và trầm cảm.
Nghiên cứu truyền thống về
các rối loạn căng thẳng thường dựa trên mô hình “bộ não ba ngôi” cũ kỹ, rằng ý
thức kiểm soát cảm xúc. Họ nói rằng, thứ được cho là hạch hạnh nhân kiểm soát của
bạn hoạt động quá mức, và thứ gọi là vỏ não trước trán lý trí của bạn không thể
điều chỉnh nó. Cách giải thích này hiện nay vẫn có tầm ảnh hưởng rộng, mặc dù hạch
hạnh nhân không phải là ngôi nhà cho bất kỳ cảm xúc nào, và vỏ não trước trán
cũng không phải là chứa đựng bất kỳ ý thức nào, và cảm xúc và ý thức đều là những
kiến tạo của toàn bộ bộ não, chúng không điều chỉnh lẫn nhau. Vậy thì, chứng
căng thẳng được tạo ra bằng cách nào? Chúng ta chưa biết đáp án chi tiết, nhưng
chúng ta có một số bằng chứng có tính khiêu khích.
Tôi suy đoán rằng một bộ
não bị căng thẳng, nói theo một cách nào đó, là trái ngược với một bộ não bị trầm
cảm. Trong chứng trầm cảm, các dự đoán tăng lên trong khi các lỗi dự đoán bị giảm
xuống, do đó bạn bị nhốt trong quá khứ. Trong chứng căng thẳng, vòng quay dự
đoán này bị kẹt khi cho phép quá nhiều lỗi dự đoán từ thế giới bên ngoài, và có
quá nhiều dự đoán không thành hiện thực. Khi dự đoán không đầy đủ, bạn không biết
chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo, và cuộc sống sẽ chứa đựng quá nhiều sự nghi ngờ.
Đấy chính là điển hình của chứng căng thẳng.
Những người mắc chứng căng
thẳng, dù với lý do gì đi chăng nữa, đều làm suy yếu đi mối liên kết giữa một số
trung tâm chính trong mạng lưới cảm thụ nội tại, bao gồm hạch hạnh nhân. Một số
trung tâm này cũng vô tình thuộc về mạng lưới kiểm soát. Mối liên kết bị suy yếu
thường chuyển thành một bộ não căng thẳng, nó vụng về trong việc tạo ra các dự
đoán phù hợp với tình huống hiện tại, và nó cũng không thể học hỏi các trải
nghiệm một cách hiệu quả. Bạn có thể dự đoán các mối đe dọa một cách không cần
thiết, hoặc tạo ra sự bất định thông qua việc dự đoán sai lầm hoặc không dự
đoán gì cả. Thêm vào đó, các thông tin cảm thụ nội tại đầu vào trở nên ồn ào
hơn bình thường khi ngân sách cơ thể của bạn báo động đỏ trong thời gian dài; kết
quả là, bộ não của bạn phớt lờ chúng. Những tình huống này sẽ khiến bạn dễ gặp
phải nhiều bất định và nhiều lỗi dự đoán mà bạn không thể giải quyết được. Và sự
bất định này thậm chí còn gây khó chịu và kích động hơn so với những thứ đã chắc
chắn là gây hại cho bạn, bởi vì nếu tương lai là điều bí ẩn, bạn không thể chuẩn
bị để đối phó với nó. Ví dụ, khi người ta bị bệnh nặng nhưng có cơ hội để phục
hồi, họ sẽ ít hài lòng với cuộc sống hơn so với những người biết rằng bệnh của
mình là mãn tính.
Dựa trên các bằng chứng,
chứng căng thẳng – cũng giống như chứng trầm cảm, là một danh mục được kiến tạo
theo cái cách giống với stress, cảm xúc và các cơn đau. Sự khổ sở mà bạn cảm nhận
được khi bị căng thẳng và trầm cảm chứng minh rằng có gì đó rất sai trái đang xảy
ra với ngân sách cơ thể bạn. Hoặc là não bộ của bạn đang cố gắng bảo đảm một
khoản cọc, tăng mức độ khó chịu của cảm tính, hoặc nó đang cố gắng giảm thiểu
nhu cầu khoản cọc này này bằng cách duy trì trạng thái bất động, dẫn đến sự mệt
mỏi. Bộ não của bạn có thể phân loại các cảm giác này là căng thẳng, trầm cảm,
hoặc, đau đớn hoặc stress hoặc một cảm xúc.
Nói một cách rõ ràng, ý
tôi là phần lớn rối loạn trầm cảm và rối loạn căng thẳng là giống nhau. Điều
tôi đang nói là mỗi một danh mục bệnh tâm lý đều là một quần thể đa dạng các
phân mục, và các tập hợp các triệu chứng nhất định có thể được phân loại một
cách hợp lý tương đương nhau thành rối loạn căng thẳng hoặc rối loạn trầm cảm. goài
ra còn có vấn đề về mức độ nghiêm trọng — một số bệnh nhân trầm cảm nghiêm trọng
của Helen Mayberg, chẳng hạn như những người gần như mắc chứng rối loạn thần
kinh trung ương, chắc chắn là sẽ không được chẩn đoán là mắc chứng rối loạn lo
âu. Tuy nhiên, một số bệnh nhân khác của cô ấy, những người đang bị đau đớn, có
thể được chẩn đoán một cách hợp lý là bị mắc chứng căng thẳng, stress kinh niên
hoặc thậm chí là chứng đau kinh niên. Nói chung, trầm cảm và lo lắng ở mức độ vừa
phải có thể có các cấu hình triệu chứng chồng chéo với nhau, và với chứng căng
thẳng kinh niên và đau kinh niên, và cả hội chứng mệt mỏi kinh niên.
Những quan sát này cung cấp
lời giải cho bí ẩn ở chương 1: tại sao các đối tượng thí nghiệm trong các thí
nghiệm ở trường đại học của tôi dường như không thể phân biệt giữa cảm giác
căng thẳng và trầm cảm? Một lý do mà chúng tôi đã trình bày là khả năng nhận định
chi tiết cảm xúc: một số đối tượng thí nghiệm có thể kiến tạo những cảm xúc sắc
nét hơn những đối tượng khác. Nhưng bây giờ, chúng ta có một lý do thứ hai cho
điều này: rằng “căng thẳng” và “trầm cảm” là các khái niệm dùng để phân loại những
cảm giác giống nhau.
Khi các đối tượng thí nghiệm
của tôi cảm thấy khó chịu, tôi cho họ đánh giá thang điểm để báo cáo về cảm xúc
của họ, nhưng chỉ dùng thuật ngữ căng thẳng và trầm cảm. Người ta sẽ dùng bất kỳ
đơn vị đo lường nào mà bạn cung cấp cho họ để mô tả cảm xúc của họ. Nếu ai đó cảm
thấy tệ hại và bạn chỉ đưa cho cô ấy một thang điểm căng thẳng, cô ấy sẽ nói về
cảm xúc của mình bằng cách dùng những từ ngữ chỉ sự căng thẳng. Thậm chí cô ấy
có thể bắt đầu cảm thấy căng thẳng khi những từ ngữ này dẫn dắt cô ấy mô phỏng
một phân mục của “căng thẳng”. Thay vào đó, nếu bạn đưa cho cô ấy một thang điểm
trầm cảm, cô ấy sẽ nói về cảm xúc của mình bằng cách sử dụng như từ ngữ chỉ sự
“trầm cảm” và cuối cùng cô ấy sẽ cảm thấy trầm cảm theo cách tương tự. Điều này
giúp giải thích các kết quả thí nghiệm bí ẩn của tôi. Các khái niệm như “căng
thẳng” và “trầm cảm” rất đa dạng và dễ thay đổi. Các từ ngữ trong bảng câu hỏi
có thể tác động đến sự phân loại của người ta, cũng như phương pháp cảm xúc cơ
bản đã tác động đến các nhận thức thông qua bảng danh sách các từ chỉ cảm xúc.
Cách đây không lâu, tôi đã
gặp một chuyện tương tự trong văn phòng của một bác sĩ. Tôi cảm thấy mệt mỏi
trong một thời gian dài và có hơi tăng cân một chút, và khi bác sĩ hỏi, "Bạn
có bị trầm cảm không?" Tôi trả lời, "Chà, tôi không có cảm giác buồn,
nhưng tôi thực sự cảm thấy rất mệt mỏi." Anh ấy phản bác lại rằng,
"Có thể bạn đang trầm cảm mà bạn không biết." Bác sĩ của tôi không nhận
ra rằng cảm tính khó chịu có thể đến từ nguyên nhân thể chất, mà trong trường hợp
của tôi thì có lẽ là do thiếu ngủ vì phải điều hành một phòng thí nghiệm có
hàng trăm người, thức khuya để viết cuốn sách này và làm mẹ của một đứa con gái
tuổi dậy thì, cộng thêm một thứ gọi là mãn kinh. (Tôi đã giải thích về cảm thụ
nội tại và ngân sách cơ thể cho anh ấy.) Nhưng vấn đề ở đây là: Nếu anh ấy chỉ
đơn giản là chẩn đoán tôi bị trầm cảm, anh ấy có thể đã thực sự gieo trồng cảm
giác trầm cảm cho tôi vào thời điểm đó. Chắc chắn, tôi đã rất mệt mỏi, và có lẽ
tôi đã mắc phải một số chứng viêm từ việc stress kinh niên. Nếu tôi không từ chối
thì tôi đã có thể phải mua thuốc chống trầm cảm và có thể tôi đã tin rằng có điều
gì đó không ổn với cuộc sống của tôi, hoặc có điều gì đó mà bản thân không thể
đối phó. Niềm tin này có thể đã làm suy yếu ngân sách cơ thể vốn đã bị điều chỉnh
lệch lạc của tôi, nếu tôi bắt đầu đi tìm các vấn đề trong cuộc sống của mình. .
. và bạn luôn có thể tìm thấy thứ gì đó nếu bạn cố ý tìm kiếm chúng. Thay vào
đó, bác sĩ của tôi và tôi đã phát hiện ra một vấn đề về ngân sách cơ thể và tìm
cách sửa chữa nó. Bác sĩ của tôi không nhận ra điều này, nhưng anh ấy đã đồng
kiến tạo nên trải nghiệm của tôi. Anh ấy muốn kiến tạo một thực tại xã hội, và
tôi thì kiến tạo một cái khác.
Khi lỗi dự đoán từ thế giới
bên ngoài lấn át dự đoán của bạn, bạn sẽ bị căng thẳng. Giả sử như bạn không hề
dự đoán bất kỳ điều gì. Chuyện gì sẽ
xảy ra?
Ban đầu, ngân sách cơ thể
bạn sẽ bị phá hoại bởi vì bạn không thể dự đoán được các nhu cầu trao đổi chất.
Bạn gặp khó khăn trong việc tích hợp thông tin cảm giác đầu vào từ thị giác,
thính giác, khứu giác, cảm thụ nội tại, đau cảm thụ và những hệ thống giác quan
khác thành một tổng thể gắn kết. Do đó, khả năng học hỏi thống kê của bạn trở
nên kém cỏi, bạn khó có thể học được các khái niệm cơ bản, thậm chí là không thể
nhận ra một người từ các góc độ khác nhau. Nhiều thứ sẽ lọt ra ngoài ngách cảm
tính của bạn. Nếu bạn vẫn còn là trẻ sơ sinh, bạn sẽ hầu như không hứng thú gì
với những người khác; bạn sẽ ngưng việc nhìn ngắm gương mặt của những người
chăm sóc bạn, và điều này khiến cho họ gặp khó khăn hơn trong việc điều chỉnh
ngân sách cơ thể bị sai lệch của bạn, phá vỡ mối liên kết thiết yếu. Bạn cũng gặp
vấn đề trong việc học hỏi các khái niệm thuần túy tinh thần về thực tại xã hội
bởi vì bạn phải học chúng với các từ ngữ, nhưng vì bạn không có hứng thú với
con người nên có thể bạn sẽ gặp khó khăn trong việc học ngôn ngữ. Bạn sẽ không
bao giờ có thể phát triển một hệ thống khái niệm đúng đắn.
Cuối cùng, bạn sẽ tồn tại
bên trong một dòng chảy liên tục của những thông tin cảm giác đầu vào mơ hồ mà
bạn chỉ có thể hiểu được một vài khái niệm trong đó. Bạn sẽ luôn luôn bị căng
thẳng bởi vì không thể dự đoán được các cảm giác này. Trên thực tế, bạn sẽ thất
bại hoàn toàn trong việc học các cảm giác nội tại, các khái niệm và thực tại xã
hội. Để học được chúng, các thông tin đầu vào của bạn phải rất nhất quán, thậm
chí là phải mang tính khuôn mẫu, càng ít khác biệt càng tốt. Tôi không biết bạn
cảm thấy như thế nào, nhưng với tôi, những triệu chứng này nghe hệt như chứng tự
kỷ.
Rõ ràng, tự kỹ là một căn
bệnh vô cùng phức tạp và là một lĩnh vực nghiên cứu khổng lồ, và chúng ta không
thể tóm gọn nó trong vài đoạn ngắn được. Chứng tự kỷ vô cùng đa dạng, là một
thuật ngữ áp dụng cho một phổ rộng lớn bao gồm các triệu chứng, những triệu chứng
này có thể đến từ rất nhiều nguyên nhân phức tạp khác nhau. Điều tôi muốn nói
là: có một khả năng mà chúng ta cần nghiên cứu thêm là chứng tự kỷ là một chứng
rối loạn dự đoán
Trong những người mắc chứng
tự kỷ, những người có thể mô tả trải nghiệm về căn bệnh tự kỷ của mình đã mô tả
tình trạng của họ giống với những ý tưởng trên. Temple Grandin, một trong những
người nổi tiếng và thẳng thắn nhất với chứng tự kỷ, đã viết một cách rõ ràng về
sự thiếu hụt khả năng dự đoán và việc cô ấy thường bị áp đảo bởi lỗi dự đoán.
Cô ấy đã viết trong cuốn “Một cái nhìn từ bên trong của Chứng tự kỷ” (An Inside
View of Austism) rằng: Những tiếng động lớn bất ngờ thường làm tai tôi đau như
thể có một mũi khoan của nha sĩ đang đụng vào dây thần kinh”. Grandin mô tả một
cách thuyết phục về việc cô ấy đã phải vật lộn như thế nào để hình thành các
khái niệm: “Khi tôi còn nhỏ, tôi phân loại chó và mèo thông qua kích thước của
chúng. Tất cả những con chó trong khu vực của tôi thường có kích thước lớn, cho
đến khi hàng xóm của tôi nuôi một con Dachshund. Tôi nhớ rằng mình đã nhìn con
chó nhỏ xíu đó và cố gắng tìm hiểu xem tại sao nó không phải là một con mèo.”
Naoki Higashida, một bé trai 13 tuổi mắc chứng tự kỷ đã viết cuốn Lý do mà tôi nhảy (The reason I Jump),
viết về nỗ lực của cậu trong việc phân loại: “Đầu tiên, tôi quét qua trí nhớ của
mình để tìm ra một trải nghiệm gần nhất với điều đang xảy ra. Khi tôi tìm được
một thứ gần giống nhất, bước tiếp theo là cố gắng nhớ xem lần trước tôi đã nói
gì. Nếu đủ may mắn, tôi sẽ tìm được một trải nghiệm có thể dùng được và mọi thứ
sẽ tốt đẹp.” Nói cách khác, thiếu hụt một hệ thống khái niệm hoạt động tốt,
Higashida phải nỗ lực để làm những thứ mà những bộ não bình thường khác có thể
làm một cách tự động.
Các nhà nghiên cứu khác hiện
nay cũng suy đoán rằng tự kỷ xuất phát từ thất bại trong dự đoán. Một số người
tin rằng chứng tự kỷ chủ yếu là do rối loạn chức năng của mạng lưới kiểm soát,
tạo ra một mô hình thế giới quá cụ thể cho từng tình huống. Những
người khác xem vấn đề là sự thiếu hụt chất hóa học thần kinh được gọi là
oxytocin, dẫn đến các vấn đề trong mạng lưới cảm thụ nội tại. Tôi nghi ngờ rằng
không chỉ có một mạng lưới gặp vấn đề trong chứng tự kỷ, mà là một danh sách
các khả năng khác nhau liên quan đến sự thoái hóa. Trên thực tế, chứng tự kỷ được
đặc trưng như một chứng rối loạn phát triển thần kinh, và chứng này cực kỳ đa dạng
về di truyền, sinh học thần kinh và các triệu chứng của nó. Tôi suy đoán rằng
các vấn đề bắt đầu từ hệ thống mạch thần kinh quản lý ngân sách cơ thể bởi vì
chứng bệnh này xuất hiện từ khi trẻ mở được sinh ra, và việc học thống kê thì bắt
nguồn từ sự điều chỉnh ngân sách cơ thể (chương 4 và 5). Những thay đổi trong hệ
thống mạch thần kinh sẽ dẫn đến thay đổi quỹ đạo phát triển của não bộ. Nếu
không có một bộ não dự đoán được phát triển đầy đủ, bạn sẽ phụ thuộc vào môi
trường của bạn. Bạn sẽ có một bộ não được dẫn dắt bởi kích thích và phản hồi,
khi hệ thống thần kính được tối ưu hóa để tổ chức một bộ não trao đổi chất hiệu
quả hơn. Điều này có thể giúp giải thích những trải nghiệm mà những người mắc
chứng tự kỷ gặp phải.
Bây giờ, bạn đã thấy rằng
một số chứng rối loại nghiêm trọng đáng lưu ý có thể đều liên quan đến hệ thống
miễn dịch của bạn, hệ thống này liên kết với sức khỏe thể chất và tinh thần của
bạn trong bộ não dự đoán. Khi những dự đoán sai không bị kiểm tra, chúng có thể
dẫn tới sự mất cân bằng kinh niên trong ngân sách cơ thể bạn, điều này sẽ góp
phần tạo ra chứng viêm nhiễm trong bộ não của bạn và phá hoại các dự đoán cảm
thụ nội tại, thậm chí chúng có thể tạo ra một vòng lặp nguy hiểm. Theo cách
này, những hệ thống đã tạo ra cảm xúc cũng có thể góp phần tạo ra bệnh tật.
Ý tôi không phải là món nợ
ngân sách cơ thể là nguyên nhân duy nhất dẫn đến tất cả các loại bệnh tâm lý.
Tôi cũng không có ý nói rằng tái cân bằng ngân sách là một liều thuốc vàng. Tôi
chỉ muốn nói là, nhờ vào quan điểm mới về bản chất loài người của chúng ta,
chúng ta có thể hiểu rằng ngân sách cơ thể là một yếu tố quan trọng đối với bệnh
tật, thay vì là một yếu tố tách rời như trong quan điểm truyền thống.
Khi bạn có quá nhiều dự
đoán và không đủ lỗi dự đoán, bạn cảm thấy tồi tệ, và tồi tệ theo kiểu này thì
thường tùy thuộc vào việc bạn dùng khái niệm nào. Tồi tệ ít, bạn có thể cảm thấy
giận dữ hoặc xấu hổ. Tồi tệ nhiều, bạn có thể bị đau kinh niên hoặc trầm cảm.
Ngược lại, quá nhiều thông tin cảm giác đầu vào và dự đoán không hiệu quả sẽ dẫn
tới sự căng thẳng, và khi tình trạng này nghiêm trọng hơn, bạn có thể mắc chứng
rối loạn căng thẳng. Nếu không có dự đoán, thì bạn sẽ gặp phải tình trạng tương
tự như chứng tự kỷ.
Tất cả những chứng rối loạn
này đều có vẻ bắt nguồn từ việc điều tiết ngân sách cơ thể sai. Bây giờ, hãy tưởng
tượng một chút về vô số cách mà những người trẻ có thể phát triển một ngân sách
thường xuyên bị thấu chi. Tất nhiên, nguyên nhân có thể đến từ việc bị lạm dụng
hoặc bị bỏ rơi nghiêm trọng, nhưng nguyên nhân cũng có thể đến từ những sự kiện
nhỏ hơn xảy ra hàng loạt. Các hành vi bạo lực mà họ thường xuyên chứng kiến
trên TV, phim ảnh, video và các trò chơi điện tử. Thứ ngôn ngữ hèn hạ mà họ
nghe thấy trong các bản nhạc nổi tiếng và tình cờ bắt chước khi chào hỏi những
người bạn đồng trang lứa bằng "Ê, đ~." (Hey, bitch) (Đó là một lời
chào thân thiện, một lời xúc phạm hay một lời đe dọa?) Sự bắt nạt gia tăng
thông qua hình thức đùa cợt, bởi vì trên tivi, họ thường nói với nhau những điều
khủng khiếp dưới dạng gây cười. Thêm vào đó là việc bị xã hội từ chối thường
xuyên đến từ các hình thức giao tiếp mà mạng xã hội và tin nhắn (seen), kết hợp
với việc ngủ không đủ giấc và không tập thể dục, cộng thêm các thực phẩm rởm có
chất lượng dinh dưỡng đáng ngờ, và bạn sẽ có một công thức truyền thống cho một
thế hệ người lớn với mức ngân sách bị điều chỉnh sai một cách kinh niên.
Liệu sự khốn khổ từ việc lập
ngân sách sai kinh niên có thể là một lý do cho việc Mỹ đang ở cao trào của khủng
hoảng các chất gây nghiện opiate? Các chất gây nghiện tự nhiên opioid trong bộ
não giúp giảm đau bởi vì chúng điều chỉnh cảm tính (chứ không phải cơn đau cảm
thụ), và các thuốc gây nghiện opiate bắt chước những hiệu ứng này – điều này có
thể giải thích cho việc chúng bị lạm dụng rộng rãi. Từ năm 1997 đến 2011, số
người lớn ở Mỹ bị nghiện các loại thuốc kê đơn đã tăng lên 900%. Nhiều người đã
sử dụng heroin, methamphetamine và các loại ma túy đường phố khác để giảm bớt sự
trầm cảm. Chúng ta cũng biết rằng một phần đáng kể dân số không ngủ đủ, không
ăn uống đầy đủ và không tập thể dục thường xuyên. Có thể người ta dùng thuốc
phiện để tự điều trị cho chúng mình khỏi sự khó chịu đến từ ngân sách cơ thể mất
cân bằng kinh niên của họ. Họ có thể bắt đầu dùng thuốc gây nghiện opiate với
nhiều lý do, nhưng tôi nghi ngờ việc họ tiếp tục dùng chúng và thậm chí là lạm
dụng chúng là bởi vì họ đang cố tự điều chỉnh cảm tính kiệt quệ của mình và
giúp bản thân cảm thấy ổn hơn. Ngân sách cơ thể họ đã quá hỗn loạn đến nỗi các
chất opioid tự nhiên trong não họ không thể chữa được nữa.
Thức ăn có thể giúp tạm thời
giảm bớt cảm giác tồi tệ đến từ việc lập ngân sách sai kinh niên, bởi vì chúng
kích một số thụ thể trong não – những thụ thể này cũng phản ứng với các thuốc
gây nghiện opiate. Trong các thí nghiệm trên chuột, sự kích thích này khiến cho
chuột cuồng ăn các loại thức ăn có lượng carbonhydrate cao, ngay cả khi chúng
không đói. Đối với con người, ăn đường có thể kích thích sản sinh lượng opioid
trong não. Vì thế, việc ăn các thực phẩm rác hoặc ăn bánh mì trắng có thể khiến
người ta thực sự cảm thấy tốt hơn. Chẳng trách, tôi rất yêu thích món bánh mì
Pháp giòn rụm. Và đường thực sự có tác dụng như một loại thuốc giảm đau cường độ
nhẹ. Do đó, khi người ta nói rằng xã hội đang bị nghiện đường, họ không nói sai
đâu. Tôi sẽ không ngạc nhiên nếu người ta dùng thức ăn có lượng carbonhydate
cao như một loại thuốc phiện để kiểm soát cảm tính và cảm thấy tốt hơn. Xin
chào, đại dịch béo phì!
Những nhóm cư dân có ngân
sách cơ thể bị mất cân bằng không chỉ tiêu tốn hàng tỉ đô la cho việc chăm sóc
sức khỏe. Mà nó còn gây tổn thất đối với sự hạnh phúc của họ, các mối quan hệ
và thậm chí là cuộc đời của họ. Những người đang nghiên cứu về các căn bệnh này
đang bắt đầu đặt chủ nghĩa bản chất sang một bên – thứ vốn đã tạo ra các danh mục
như “căng thẳng” và “trầm cảm” và “đau kinh niên”, thay vào đó họ bắt đầu tìm
kiếm những yếu tố tiềm ẩn phổ biến. Nếu chúng ta có thể thêm vào danh sách các
yếu tố tiềm ẩn này các khái niệm về cảm thụ nội tại, cân bằng ngân sách cơ thể,
và cảm xúc, tôi cho là chúng ta sẽ đạt được nhiều tiến bộ hơn trong việc chống
lại những rối loạn suy nhược này. Đồng thời, kiến thức của riêng bạn về những yếu
tố phổ biến này có thể giúp bạn tránh bệnh tật và giao tiếp hiệu quả hơn với
bác sĩ của mình.
Tất cả chúng ta đều đang
bước đi trên sợi dây nối giữa thế giới và tâm trí, giữa tự nhiên và xã hội. Có
nhiều hiện tượng đã từng được xem là chỉ mang tính chất tinh thần – như trầm cảm,
căng thẳng, stress và đau kinh niên, những hiện tượng này, trên thực tế, cũng
có thể được giải thích bằng các thuật ngữ sinh học. Những hiện tượng vốn được
cho là thuần túy về thể chất, như đau đớn, cũng là các khái niệm về tinh thần.
Để là một kiến trúc sư thành thạo trong việc kiến tạo trải nghiệm, bạn cần phải
phân biết giữa thực tại vật lý và thực tại xã hội, và không bao giờ nhầm lẫn
chúng với nhau, trong khi vẫn phải hiểu rằng hai thực tại này luôn luôn gắn kết
chặt chẽ với nhau.
0 nhận xét:
Đăng nhận xét