Chủ Nhật, 29 tháng 1, 2023

How Emotions Are Made - GIỚI THIỆU

 

GIỚI THIỆU

Giả Định Hai Nghìn Năm Tuổi

Ngày 14 tháng 12 năm 2012, vụ xả súng ở trường học chết chóc nhất trong lịch sử nước Mỹ xảy ra ở Tiểu học Sandy Hook, Newtown, Connecticut. Hai mươi sáu người trong trường, gồm 20 trẻ nhỏ, bị tàn sát bởi một kẻ dùng súng. Vài tuần sau vụ án kinh hoàng này, tôi xem tivi và thấy thống đốc bang Connecticut, Dannel Malloy, diễn thuyết định kỳ hàng năm về “Tình trạng của bang”. Ông nói bằng một giọng mạnh mẽ và sôi nổi trong ba phút đầu tiên của bài diễn thuyết, cảm ơn nhiều người vì sự cống hiến của họ. Và sau đó ông bắt đầu nói tới bi kịch ở Newtown:

Chúng ta đã cùng nhau bước đi trên một con đường rất dài và rất tối. Chúng ta không bao giờ nghĩ rằng những điều đã xảy ra ở Newtown có thể xảy ra ở bất kỳ thành phố hay thị trấn xinh đẹp nào ở Connectinut. Vậy mà, trong những ngày tồi tệ nhất trong lịch sử, chúng ta vẫn nhìn thấy những điều tốt đẹp nhất trong bang của chúng ta. Các giáo viên và một nhà trị liệu đã hy sinh mạng sống của mình để bảo vệ các học sinh.

Khi thống đốc nói tới những từ cuối cùng, “bảo vệ các học sinh”, giọng của ông hơi nghẹn lại trong cổ họng. Nếu bạn không chú ý kỹ, bạn sẽ bỏ qua chi tiết này. Nhưng sự dao động nhỏ bé đó đã tàn phá tôi. Dạ dày của tôi lập tức thắt lại. Mắt tôi ngập nước. Khi camera quay về phía đám đông, tôi thấy nhiều người cũng bắt đầu khóc nức nở. Còn Thống đốc Malloy, ông ngừng nói và nhìn xuống phía dưới.

Những cảm xúc mà tôi và Thống đốc Malloy cảm nhận mang tính nguyên thủy – được gắn chặt vào bên trong chúng ta, xảy ra như phản xạ và có thể tìm thấy ở mọi đồng loại con người của chúng ta. Khi bị kích thích, chúng tự giải phóng bản thân trong mỗi chúng ta theo một cách về cơ bản là giống nhau. Nỗi buồn của tôi cũng giống với nỗi buồng của Thống đốc Malloy và cũng giống với nỗi buồn của đám đông.

Loài người đã thấu hiểu nỗi buồn và những cảm xúc khác theo cách này hơn hai nghìn năm. Nhưng đồng thời, nếu có một thứ mà loài người học được từ lịch sử khám phá khoa học kéo dài hàng trăm năm, thì đó là những cảm xúc này không phải luôn như vẻ ngoài của chúng.

Câu chuyện vinh danh thời gian của cảm xúc trông như thế này: Chúng ta đều có những cảm xúc cài sẵn từ khi mới sinh ra. Chúng là những hiện tượng khác biệt, có thể nhận dạng bên trong chúng ta. Khi có điều gì đó xảy ra trên thế giới, dù cho đó là một tiếng súng hay một cái liếc mắt đưa tình, những cảm xúc của chúng ta bật dậy một cách nhanh chóng và tự động, như thể có ai đó vừa bật một cái nút. Chúng ta phát tán cảm xúc của mình qua gương mặt như mỉm cười, chau mày, cau có và những biểu hiện đặc trưng khác mà bất kỳ ai cũng có thể dễ dàng nhận ra. Giọng nói của chúng ta cũng tiết lộ cảm xúc thông qua tiếng cười, tiếng la hét hay khóc lóc. Tư thế của cơ thể chúng ta cũng phản bội các cảm xúc thông qua các cử chỉ và sự lừ đừ uể oải.

Khoa học hiện đại có một góc nhìn phù hợp với câu chuyện này, tôi gọi nó là quan điểm cổ điển về cảm xúc. Dựa theo góc nhìn này, sự dao động trong giọng nói của Thống đốc Malloy đã kích hoạt một chuỗi phản ứng trong não bộ của tôi. Một tập hợp các neuron cụ thể - được gọi là “mạch thần kinh của nỗi buồn” – đã bị kích hoạt và khiến cho gương mặt và cơ thể của tôi phản xạ theo một cách cụ thể nhất định. Chân mày của tôi nhíu lại, tôi cau mày, vai của tôi chùn xuống, và tôi khóc. Điều này cho thấy mạch thần kinh cũng kích thích các thay đổi về thể chất bên trong cơ thể của tôi, tăng nhịp tim và nhịp thở của tôi lên, kích hoạt các tuyến mồ hôi của tôi, và các mạch máu của tôi co lại. Tập hợp những thay đổi bên trong và bên ngoài cơ thể của tôi được xem như là “dấu vân tay” đặc biệt để xác nhận danh tính cho nỗi buồn, giống như dấu vân tay riêng biệt của bạn xác nhận danh tính của bạn.

Quan điểm cổ điển về cảm xúc cho rằng, chúng ta có nhiều mạch thần kinh cảm xúc như vậy trong não bộ, và mỗi mạch thần kinh tạo ra một tập hợp các thay đổi khác nhau, “một dấu vân tay” khác nhau. Một người đồng nghiệp phiền phức có thể kích thích “neuron giận dữ” trong bạn, vì thế huyết áp của bạn tăng cao; bạn cau có, la hét và cảm thấy sức nóng của cơn giận dữ. Hay một bảng tin đáng báo động có thể kích thích “neuron sợ hãi” bên trong bạn, do đó nhịp tim của bạn tăng lên; bạn lạnh run người và cảm thấy bị đe dọa. Qua đó mà chúng ta cảm nhận được sự giận dữ, hạnh phúc, ngạc nhiên và những cảm xúc khác một cách rõ ràng và cụ thể, nghe có vẻ hợp lý khi giả định rằng mỗi một cảm xúc đều có một nền tảng rõ ràng trong não bộ và cơ thể chúng ta.

Các cảm xúc, theo như quan điểm cổ điển này, là hiện vật của quá trình tiến hóa, vốn có lợi cho sự sống còn, và hiện tại đã trở thành một phần cố định trong bản chất sinh học của chúng ta. Như vậy, chúng mang tính phổ quát: ở tất cả các độ tuổi, tất cả các nền văn hóa, ở mọi nơi trên thế giới, con người đều trải nghiệm nỗi buồn tương đương như bạn – và tương đương như tổ tiên loài người, những người đã lang thang khắp các đồng cỏ châu Phi hàng triệu năm về trước. Tôi nói “tương đương” bởi vì chẳng ai cho rằng các phản ứng trên gương mặt, cơ thể và não bộ sẽ y hệt nhau mỗi khi ai đó cảm thấy buồn. Nhịp tim và nhịp thở và huyết áp của bạn không phải lúc nào cũng thay đổi cùng một mức độ. Chân mày của bạn có thể ít chau hơn do tự nhiên hay do bạn điều chỉnh.

Vì thế, các cảm xúc được cho là một dạng của các phản xạ thô sơ, thường xuyên đi ngược với lý trí của chúng ta. Phần não bộ nguyên thủy muốn bạn gọi sếp của mình là đồ ngu, nhưng phần tinh tế hơn trong bạn biết rằng làm vậy thì bạn sẽ bị đuổi việc, vì vậy bạn tự kềm chế chính mình. Loại trận chiến nội bộ giữa cảm xúc và lý trí này là một trong những câu chuyện tuyệt vời của văn minh phương Tây. Nó khiến bạn trở thành con người. Nếu không có lý trí, bạn chỉ là một con quái vật đầy xúc cảm.

Quan điểm về cảm xúc này đã tồn tại hàng nghìn năm trong những dạng thức khác nhau. Plato tin một phiên bản của nó. Hippocrates, Aristotle, Đức Phật, René Descartes, Sigmund Freud và Charles Darwin cũng vậy. Ngày nay, các nhà tư tưởng lỗi lạc như Steven Pinker, Paul Ekman, và Dalai Lama cũng đưa ra những mô tả về cảm xúc bắt nguồn từ quan điểm cổ điển. Chúng ta có thể tìm thấy quan điểm này ở trong hầu hết mọi sách giáo khoa đại học nhập môn về tâm lý học, trong hầu hết các tạp chí và bài báo bàn về cảm xúc. Các trường mầm non trên khắp nước Mỹ treo những tấm áp phích thể hiện nụ cười, cái nhíu mày và cái bĩu môi, và chúng được cho là ngôn ngữ chung của khuôn mặt để nhận biết cảm xúc. Facebook thậm chí còn tạo một bộ biểu tượng cảm xúc lấy cảm hứng từ các nghiên cứu của Darwin.

Quan điểm cổ điển cũng ăn sâu vào văn hóa của chúng ta. Các chương trình truyền hình như Lie to Me (hãy nói dối tôi) Daredevil được tạo ra dựa trên giả định rằng cảm xúc sâu thẳm của bạn được bộc lộ bởi nhịp tim hoặc chuyển động trên khuôn mặt của bạn. Sesame Street dạy cho trẻ con rằng cảm xúc là những thứ khác nhau bên trong chúng ta đang tìm cách biểu hiện ra gương mặt và cơ thể chúng ta, như bộ phim hoạt hình Inside Out của Pixar. Các công ty như Affectiva và Realeyes được tạo ra để giúp các doanh nghiệp tìm hiểu cám xúc của khác hàng thông qua “phân tích cảm xúc”. Trong bản dự thảo NBA, Milwaukee Bucks đã đánh giá “các vấn đề về tâm lý, tính cách và tính nết” của một cầu thủ và nhận định “mối quan hệ đồng đội” thông qua các biểu hiện trên mặt họ. Và trong vài thập kỷ, các khóa đào tạo đặc vụ cao cấp của Cục Điều tra Liên bang Hoa Kỳ (FBI) đã được xây dựng dựa trên quan điểm cổ điển này.

Quan trọng nhất là, quan điểm cổ điển về cảm xúc đã ăn sâu vào các học viện xã hội của chúng ta. Hệ thống pháp luật Hoa Kỳ giả định rằng các cảm xúc là một phần không thể tách rời trong bản chất động vật và khiến chúng ta hành động ngu ngốc và thậm chí là bạo lực trừ phi chúng ta kiểm soát chúng bằng suy nghĩ lý trí của mình. Trong y học, các nhà nghiên cứu đã nghiên cứu các ảnh hưởng lên sức khỏe của cơn giận dữ, giả định rằng có một mẫu chung cho những sự thay đổi trong cơ thể đi kèm với cảm xúc này. Những người mắc các căn bệnh thần kinh khác nhau, bao gồm trẻ em và người lớn được chẩn đoán mắc rối loạn phổ tự kỷ, được dạy cách nhận biết cấu hình khuôn mặt cho những cảm xúc cụ thể, với cớ là để giúp họ giao tiếp và liên hệ với người khác.

Tuy nhiên… bất chấp các phả hệ tri thức khác nhau của quan điểm cổ điển về cảm xúc này, bất chấp sức ảnh hưởng to lớn của nó lên văn hóa và xã hội của chúng ta, có vô số bằng chứng khoa học cho thấy rằng quan điểm này không hề đúng. Thậm chí là sau khi cố gắng suốt cả thế kỷ, các nghiên cứu khoa học vẫn không thể phát hiện ra bằng chứng cho cái dấu vân tay nhất quán và cụ thể cho ngay cả một cảm xúc đơn lẻ. Khi các nhà khoa học gắn điện cực lên gương mặt một người và đo xem các cơ mặt thực sự chuyển động như thế nào khi người đó trải nghiệm một cảm xúc, họ phát hiện ra vô số dữ liệu đa dạng và không đồng nhất. Họ cũng tìm thấy sự đa dạng này – hoàn toàn không có cái gọi là dấu vân tay – khi nghiên cứu về cơ thể và não bộ. Bạn có thể cảm thấy giận dữ mà huyết áp không tăng lên. Bạn có thể cảm thấy sợ hãi mà không cần hạch hạnh nhân (amygdala), khu vực trong não bộ vốn được gắn bảng là ngôi nhà của nỗi sợ hãi.

Để chắn chắn, hàng trăm thí nghiệm đã được thực hiện để cung cấp một số bằng chứng cho quan điểm cổ điển. Nhưng hàng trăm thí nghiệm khác cũng đã cung cấp loại bằng chứng ngược lại và khiến quan điểm cổ điển bị nghi ngờ về tính chính xác. Kết luận khoa học hợp lý duy nhất, theo ý tôi, là các cảm xúc không phải thứ mà chúng ta thường nghĩ.

Vậy thì, chúng thực sự là gì? Khi các nhà khoa học đặt quan điểm cổ điển qua một bên và chỉ nghiên cứu các dữ liệu, một lời giải thích khác biệt dần dần cho cảm xúc bắt đầu xuất hiện. Nói ngắn gọn là, chúng ta phát hiện ra rằng các cảm xúc không phải là thứ được cài sẵn mà chúng được tạo nên từ một số phần cơ bản. Chúng không phổ quát, các nền văn hóa khác nhau sẽ có những cảm xúc khác nhau. Chúng không bị kích thích; mà chính bạn tạo ra chúng. Chúng xuất hiện như một sự kết hợp của các đặc tính vật lý của cơ thể bạn, một bộ não linh hoạt tự kết nối chính nó với môi trường xung quanh, nền văn hóa và sự dạy dỗ mà bạn nhận được – những yếu tố tạo nên môi trường đó. Cảm xúc là có thật, nhưng không phải theo nghĩa khách quan rằng các phân tử hoặc tế bào thần kinh là có thật. Chúng có thật theo nghĩa giống như tiền là có thật - nghĩa là nó không phải một loại ảo giác, mà nó là sản phẩm đến từ sự thỏa thuận của con người.

Quan điển này, tôi gọi nó là lý thuyết về sự hình thành cảm xúc, đã cung cấp lý giải cho các sự kiện trong bài diễn thuyết của Thống Đốc Malloy. Khi giọng của Malloy nghẹn trong cổ họng của ông, nó không kích thích mạch thần kinh buồn bã bên trong tôi, cũng không tạo ra một tập hợp các thay đổi cơ thể riêng biệt nào cả. Thay vào đó, tôi cảm thấy buồn vào khoảnh khắc đó là bởi vì, tôi được sinh ra và lớn lên trong một nền văn hóa nhất định, tôi đã học được rằng “nỗi buồn” là một thứ xuất hiện khi một số cảm xúc cơ thể nhất định trùng lặp với sự mất mát khủng khiếp. Thông qua việc sử dụng các mẫu kinh nghiệm trong quá khứ, như kiến thức của tôi về các vụ xả súng và những nỗi buồn trước đây của tôi trước những sự kiện này, não của tôi nhanh chóng dự đoán xem cơ thể của tôi nên làm gì để phù hợp với bi kịch này. Những dự đoán của nó khiếm tim tôi đập nhanh hơn, mặt tôi đỏ hơn, và bao tử của tôi thắt lại. Chúng khiến tôi khó, một hành động giúp làm dịu hệ thống thần kinh của tôi. Và kết quả là chúng giải nghĩa các cảm nhận, ví dụ như trường hợp của nỗi buồn.

Theo lý giải này, não của tôi đã kiến tạo trải nghiệm của tôi về cảm xúc. Những chuyển động và cảm nhận cụ thể của tôi không phải là một dấu vân tay của nỗi buồn. Với những dự đoán khác, làn da tôi sẽ trở nên mát hơn hay vì đỏ lên, và bao tử của tôi cũng không thắt lại, nhưng não của tôi vẫn sẽ tạo ra một cảm nhận về nỗi buồn. Không chỉ vậy, mà những thay đổi của tôi như tim đập mạnh, mặt đỏ lên, bao tử thắt lại, và nước mắt có thể mang một ý nghĩa khác, ví dụ như cơn giận dữ hay sự sợ hãi, thay vì là nỗi buồn. Hoặc trong một tình huống rất khác, như trong đám cưới, những cảm nhận này cũng có thể là niềm vui hoặc sự biết ơn.

Nếu lời giải thích này không hoàn toàn hợp lý hay thậm chí là nghe có vẻ hơi phi lý, thì, hãy tin tôi, tôi sẽ đi cùng bạn. Sau bài diễn thuyết của Thống Đốc Malloy, khi tôi trở lại là chính mình, lau nước mắt, tôi được gợi nhớ ra rằng dù tôi có biết gì về các cảm xúc với tư cách là một nhà khoa học, tôi vẫn trải nghiệm chúng giống như quan điểm cổ điển đã nhận định về chúng. Nỗi buồn của tôi giống như một cơn sóng các thay đổi về cơ thể và cảm xúc mà tôi có thể nhận ra ngay tức thì, và nó chiếm lĩnh lấy tôi như một cách phản ứng với bi kịch và mất mát. Nếu tôi không phải một nhà khoa học dùng thí nghiệm để phát hiện ra rằng cảm xúc thực ra chỉ được tạo ra, chứ không phải do bị kích thích mà ra, tôi cũng sẽ tin vào trải nghiệm tức thời của mình.

Quan điểm cổ điển về cảm xúc vẫn rất hấp dẫn, bất chấp các bằng chứng chống lại nó, chính xác là vì nó hợp lý. Quan điểm cổ điển cũng cung cấp các câu trả lời đảm bảo cho những câu hỏi cơ bản và sâu sắc như: Bạn đến từ đâu, theo cách nói tiến hóa? Bạn có phải chịu trách nhiệm cho hành động của mình khi bạn xúc động hay không? Trải nghiệm của bạn có tiết lột một cách chính xác về thế giới xung quanh bạn hay không?

Lý thuyết về kiến tạo cảm xúc trả lời các câu hỏi này theo một cách khác biệt. Nó là một lý thuyết khác về bản chất loài người giúp bạn nhìn nhận bản thân mình và người khác dưới ánh sáng khoa học và mới mẻ hơn. Lý thuyết về kiến tạo cảm xúc có thể không phù hợp với cái cách mà bạn hay trải nghiệm các cảm xúc, và, trên thực tế, nó có thể động chạm vào niềm tin sâu sắc nhất của bạn về cách hoạt động của lý trí, về nơi xuất phát của con người, và lý do tại sao chúng ta hành động và cảm nhận như vậy. Nhưng lý thuyết này đã dự đoán và giải thích một cách nhất quán các bằng chứng khoa học về cảm xúc, bằng rất nhiều các bằng chứng mà nếu dùng quan điểm cổ điển, chúng ta không thể giải thích được.

Tại sao bạn phải quan tâm xem loại lý thuyết cảm xúc nào là đúng? Bởi vì việc tin tưởng quan điểm cổ điển đã ảnh hưởng đến cuộc đời bạn theo những cách mà bạn không nhận ra. Hãy nghĩ về lần cuối mà bạn đi ngang qua cổng an ninh sân bay, khi các đặc vụ ngầm của Cục Quản lý An ninh Vận tải (TSA) chụp X-quang giày của bạn và đánh giá rằng có khả năng bạn là một mối đe dọa khủng bố. Cách đây không lâu, một chương trình đào tạo có tên SPOT (Sàng lọc hành khách bằng kỹ thuật quan sát) đã dạy các đặc vụ TSA cách phát hiện sự lừa dối và cách đánh giá rủi ro dựa trên các chuyển động trên khuôn mặt và cơ thể, dựa trên lý thuyết rằng những chuyển động đó tiết lộ cảm xúc sâu thẳm nhất của bạn. Nó không hiệu quả, và chương trình này đã ngốn hết $900 triệu tiền thuế. Chúng ta cần phải hiểu về cảm xúc một cách khoa học để các nhân viên chính phủ không giam giữ người ta – và bỏ qua những người thực sự đe dọa – dựa trên cái nhìn không chính xác về cảm xúc.

Bây giờ, hãy tưởng tượng rằng bạn đang ở trong văn phòng của một bác sĩ, phàn nàn về những cơn đau ở ngực và khó thở, những điều có thể là triệu chứng của chứng đau tim. Nếu bạn là phụ nữ, thường bạn sẽ được chẩn đoán rằng bạn bị căng thẳng và ra về, còn nếu bạn là đàn ông, bạn sẽ được chẩn đoán rằng bạn bị bệnh tim và người ra sẽ cho bạn những liệu thuốc dự phòng để cứu mạng. Kết quả là, những người phụ nữ hơn 65 tuổi thường chết vì bệnh tim nhiều hơn đàn ông. Nhận định của các bác sĩ, y tá và bản thân các bệnh nhân nữ bị đóng khung trong quan điểm cổ điển rằng họ có thể có nhiều các cảm xúc như căng thẳng, và phụ nữ thì thường dễ xúc động hơn đàn ông… điều này có thể tạo ra hậu quả chết người.

Quan điểm cổ điển cũng có thể dẫn đến chiến tranh. Cuộc chiến Gulf ở Iraq xảy ra một phần là bởi vì anh cùng cha khác mẹ của Saddam Hussein nghĩ rằng ông ta có thể đọc hiểu những cảm xúc của các đàm phán viên người mỹ và thông báo với Saddam rằng nước Mỹ không nghiêm túc trong việc tấn công. Và cuộc chiến sau đó đã khiến 175,000 người Iraq và hàng trăm người từ các lực lượng liên minh thiệt mạng.

Tôi tin rằng, chúng ta đã ở giữa cuộc cách mạng của hiểu biết về các xúc cảm, lý trí, và não bộ - một cuộc cách mạng có thể buộc chúng ta phải suy nghĩ lại một cách triệt để về những nguyên lý trung tâm của xã hội như phương pháp điều trị bệnh tâm thần và thể chất, sự hiểu biết của chúng ta về các mối quan hệ cá nhân, cách tiếp cận nuôi dạy con cái và cuối cùng là quan điểm của chúng ta về bản thân. Các ngành khoa học khác đã từng gặp một cuộc cách mạng như vậy, và mỗi cuộc tạo nên một sự thay đổi đáng kể trong suy nghĩ thông thường vốn đã kéo dài hàng thế kỷ trước đó. Vật lý đã chuyển từ những ý tưởng trực quan của Isaac Newton về thời gian và không gian sang những ý tưởng tương đối hơn của Albert Einstein, và cuối cùng là cơ học lượng tử. Trong sinh học, các nhà khoa học đã xây dựng thế giới tự nhiên thành các loài cố định, mỗi loài có một hình dạng lý tưởng, cho đến khi Charles Darwin đưa ra khái niệm chọn lọc tự nhiên.

Các cuộc cách mạng khoa học có xu hướng xuất hiện từ việc đặt những câu hỏi tốt hơn, chứ không phải từ những khám phá bất chợt. Cảm xúc được tạo ra như thế nào, nếu chúng không đơn giản chỉ là những phản ứng bị kích thích? Tại rao chúng khác nhau nhiều như vậy, và tại sao chúng ta lâu nay đã tin rằng chúng có những dấu vân tay khác biệt? Những câu hỏi này, tự nó có thể rất thú vị để suy ngẫm. Nhưng tận hưởng niềm vui khám phá những điều chưa biết không chỉ là đam mê khoa học. Đó là một phần của tinh thần phiêu lưu tạo nên con người chúng ta.

Trong những trang tiếp theo, tôi mời bạn cùng chia sẻ cuộc phiêu lưu này với tôi. Chương 1-3 giới thiệu nền tảng khoa học mới cho cảm xúc: tâm lý học, khoa học thần kinh, và những ngành liên quan đã chuyển mình khỏi việc tìm kiếm dấu vân tay cho cảm xúc và thay vào đó đã đặc các câu hỏi xem các cảm xúc hình thành như thế nào. Chương 4-7 giải thích cho việc các cảm xúc chính xác là đã được tạo ra như thế nào. Và chương 8-12 khám phá các ứng dụng của lý thuyết mới về cảm xúc này trong thế giới thực tế: sức khỏe, trí tuệ cảm xúc, cách nuôi dạy con cái, các mối quan hệ cá nhân, hệ thống luật lệ, và thậm chí cả bản chất con người. Để kết thúc cuốn sách, chương 13 tiết lộ cách khoa học về cảm xúc làm sáng tỏ bí ẩn lâu đời về cách bộ não con người tạo ra tâm trí con người.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét