Chủ Nhật, 29 tháng 1, 2023

How Emotions Are Made - Chương 1

 

CHƯƠNG 1

CÔNG CUỘC TÌM KIẾM “DẤU VÂN TAY” CỦA CẢM XÚC

Ngày xửa ngày xưa, vào những năm 1980, tôi đã nghĩ rằng tôi sẽ trở thành một bác sĩ trị liệu tâm lý. Tôi tham gia vào chương trình tiến sĩ của Đại học Waterloo, mong muốn học được những kỹ năng của một nhà trị liệu tâm lý và một ngày nào đó, tôi sẽ có thể trị liệu cho các bệnh nhân trong một văn phòng vừa phong cách vừa trang nhã. Tôi sẽ là người tiêu thụ khoa học, chứ không phải nhà sản xuất khoa học. Tôi khá chắc là mình không có ý định tham gia và cuộc cách mạng để thay đổi các niềm tin về lý trí vốn đã tồn tại từ thời của Plato. Nhưng đôi khi, cuộc đời lại tung ra những bất ngờ nho nhỏ cho hướng đi của bạn.

Ngôi trường mà tôi học tiến sĩ là nơi mà tôi trải nghiệm sự nghi ngờ đối với quan điểm cổ điển về cảm xúc lần đầu tiên. Vào lúc đó, tôi đang nghiên cứu gốc rễ của việc thiếu tự tin và ảnh hưởng của điều này đối với chứng căng thẳng và trầm cảm. Có rất nhiều thí nghiệm đã chỉ ra rằng khi người ta không thể sống cuộc sống lý tưởng của mình, họ sẽ cảm thấy trầm cảm, còn khi họ không thể sống theo tiêu chuẩn được người khác đặt ra, họ sẽ cảm thấy căng thẳng. Thí nghiệm đầu tiên của tôi ở trường tiến sĩ đơn giản là một thí nghiệm tái tạo lại hiện tượng nổi tiếng này, trước khi dùng nó để xây dựng những giả thuyết khác của tôi. Trong quá trình thực hiện thí nghiệm, tôi đã hỏi số lượng lớn tình nguyện viên về việc họ cảm thấy căng thẳng hay trầm cảm, thông qua một bảng liệt kê các triệu chứng đã được thiết lập trước.

Tôi đã hoàn thành nhiều thí nghiệm phức tạp hơn khi còn lại sinh viên, nên thí nghiệm này đối với tôi dễ như ăn một miếng bánh. Nhưng mà, nó sụp đổ, và toang. Những tình nguyện viên trong thí nghiệm của tôi không hề báo cáo về cảm giác căng thẳng hay trầm cảm theo như các mẫu dự đoán trước. Do đó, tôi thử tái tạo lại một thí nghiệm khác vốn đã được thực hiện trước đây, và nó cũng toang. Tôi thử lại lần nữa, hết lần này đến lần khác, mỗi một thí nghiệm đều mất mấy tháng trời. Sau ba năm, tất cả những gì mà tôi gặt hái được là một sự thất bại tương tự như nhau trong tám lần liên tục. Trong khoa học, các thí nghiệm thường không được tái tạo lại, nhưng tám thất bại liên tục là một kỷ lục khá ấn tượng. Nhà bên bình bên trong tôi chế giễu tôi rằng: không phải ai cũng có thể trở thành một nhà khoa học.

Tuy nhiên, khi tôi nhìn kỹ hơn vào tất cả các chứng cứ mà tôi đã thu thập được, tôi nhận thấy có một điều kỳ lạ cứ xuất hiện liên tục trong suốt tám thí nghiệm này. Rất nhiều tình nguyện viên trong thí nghiệm tỏ ra không sẵn sàng, hoặc không thể, phân biệt được hai loại cảm xúc căng thẳng và trầm cảm. Thay vào đó, họ thường tỏ ra là họ cảm thấy cả hai hoặc chẳng cảm thấy gì cả; ít có tình nguyện viện nào báo cáo rằng họ chỉ cảm thấy một trong hai cảm xúc này. Điều này thật vô lý. Mọi người đều biết rằng, “căng thẳng” và “trầm cảm” vô cùng khác nhau khi được đo lường với tiêu chuẩn của cảm xúc. Khi bạn căng thẳng, bạn sẽ cảm thấy mệt mỏi, bồn chồn, như thể bạn đang lo lắng là có điều gì đó tồi tệ sắp xảy ra. Khi bạn trầm cảm, bạn sẽ cảm thấy thê thảm và uể oải, mọi thứ đều kinh khủng và cuộc đời này y như một cuộc chiến. Những cảm xúc này sẽ đẩy cơ thể bạn vào hai trạng thái thể chất trái ngược nhau, do đó, người ta nên cảm nhận chúng khác nhau, và bất kỳ người khỏe mạnh nào cũng sẽ có thể dễ dàng phân biệt chúng chứ. Tuy nhiên, các dữ liệu đã chỉ ra rằng những tình nguyện viên trong thí nghiệm hoàn toàn không như thế. Câu hỏi là, tại sao?

Hóa ra, các thí nghiệm của tôi không hề thất bại. Thí nghiệm “toang” đầu tiên của tôi thực sự đã tiết lộ một khám phá mới mẻ thực sự - rằng người ta thường không phân biệt được giữa cảm giác căng thẳng và cảm giác trầm cảm. Bảy thí nghiệm tiếp theo của tôi cũng không hề thất bại; chúng đã tái tạo lại thí nghiệm đầu tiên. Tôi cũng bắt đầu chú ý một hiệu quả tương tự ẩn trong dữ liệu của các nhà khoa học khác. Sau khi hoàn thành bằng tiến sĩ của mình và trở thành giáo sư đại học, tôi tiếp tục theo đuổi bí ẩn này. Tôi đã điều hành một phòng thí nghiệm, và yêu cầu hàng trăm tình nguyện viên theo dõi các trải nghiệm xúc cảm của họ hàng tuần và hàng tháng liền khi họ đang sinh hoạt bình thường. Các sinh viên của tôi và tôi đã hỏi về các trải nghiệm cảm xúc đa dạng hơn, chứ không chỉ là cảm xúc căng thẳng và trầm cảm, để xem liệu chúng tôi có thể khái quát hóa khám phá này hay không.

Những thí nghiệm mới mẻ này đã tiết lộ một điều chưa từng được ghi nhận trước đó: tất cả mọi người mà chúng tôi thí nghiệm đều dùng những từ ngữ thể hiện cảm xúc như “giận dữ”, “buồn bã”, và “sợ hãi” để mô tả cảm xúc của họ, nhưng không nhất định là họ thực sự cảm thấy như vậy. Một số đối tượng thí nghiệm phân biệt khá rõ cách dùng các từ ngữ: ví dụ, họ trải nghiệm nỗi buồn và sự sợ hãi một cách thực sự khác nhau. Tuy nhiên, các đối tượng thí nghiệm khác, lại gộp chung những từ ngữ như “buồn bã”, và “sợ hãi” và “căng thẳng” và “trầm cảm” để mô tả thứ cảm xúc “tôi thấy như cứt” (hoặc, nói một cách khoa học hơn, “tôi thấy không hề vui vẻ”). Các cảm xúc tích cực như hạnh phúc, thanh thản, tự hào cũng có kết quả tương tự. Sau khi thí nghiệm trên bảy trăm tình nguyện viên người Mỹ, chúng tôi phát hiện ra rằng cách người ta phân biệt cảm xúc của họ vô cùng khác nhau.

Một nhà thiết kế nội thất chuyên nghiệp có thể nhìn vào năm sắc thái của màu xanh và phân biệt chúng: màu xanh hoàng hôn, màu xanh coban, màu xanh biển, màu xanh hoàng gia, và màu xanh lơ. Trong khi chồng tôi sẽ gọi tất cả chúng là màu xanh. Các sinh viên của tôi và tôi đã khám phá ra một hiện tượng tương tự khi nói về các cảm xúc, tôi gọi chúng là mô tả chi tiết xúc cảm.

Và đây cũng là khi chúng ta bắt đầu phải xét tới quan điểm cổ điển về cảm xúc. Mô tả chi tiết xúc cảm, nói theo quan điểm này, nghĩa là mọi người nên phân biệt rõ ràng trạng thái cảm xúc bên trong họ. Những người có thể dùng từ vựng để phân biệt các cảm xúc như “vui vẻ”, “buồn bã”, “sợ hãi”, “ghê tởm”, “hưng phấn”, và “tê dại” (awe) sẽ phải phát hiện ra các dấu hiệu và phản ứng của cơ thể cho mỗi một cảm xúc và phiên dịch chúng một cách chính xác. Còn với một người thể hiện mức mô tả chi tiết xúc cảm thấp hơn - người dùng từ “căng thẳng” và “trầm cảm” như nhau, thì sẽ không thể phát hiện ra các dấu hiệu này.

Tôi bắt đầu tự hỏi rằng liệu tôi có thể dạy người ta cách để cải thiện mô tả chi tiết cảm xúc bằng cách hướng dẫn họ nhận diện các trạng thái cảm xúc một cách chính xác hay không. Từ khóa ở đây là “chính xác”. Bằng cách nào mà một nhà khoa học có thể chỉ ra rằng khi người nào đó nói rằng họ đang “hạnh phúc” hay đang “căng thẳng”, thì đúng là họ đang cảm thấy như vậy? Rõ ràng, tôi cần một cách để đo lường một cảm xúc một cách khách quan và so sánh chúng với điều mà người ta báo cáo. Nếu một người nói rằng anh ta cảm thấy căng thẳng, và các tiêu chuẩn khách quan cũng chỉ ra rằng anh ta đang căng thẳng, vậy thì anh đã mô tả cảm xúc của mình một cách chính xác. Mặt khác, nếu các tiêu chuẩn khách quan chỉ ra rằng anh ta đang trầm cảm hoặc giận dữ hoặc đang hưng phấn, thì anh ta đã không chính xác. Khi có sẵn một bảng tiêu chuẩn khách quan, thì mọi thứ sẽ trở nên đơn giản hơn. Tôi có thể hỏi ai đó rằng họ đang cảm thấy thế nào, sau đó so sánh câu trả lời của họ với trạng thái cảm xúc “thực” của họ. Tôi sẽ chỉnh sửa các lỗi rành rành của họ bằng cách dạy cho họ cách để nhận biết các dấu hiệu và phân biệt loại cảm xúc này với loại cảm xúc khác, và qua đó giúp họ cải thiện mô tả chi tiết xúc cảm của mình.

Giống như hầu hết các sinh viên của ngành tâm lý học, tôi đã đọc được rằng mỗi một cảm xúc sẽ tạo ra một tập hợp các thay đổi thể chất khác nhau, giống như một dấu vân tay vậy. Mỗi lần bạn vặn tay nắm cửa, những dấu vân tay mà bạn để lại trên đó sẽ khác nhau dựa trên việc bạn nắm tay vặn chặt như thế nào, bề mặt tay vặn đó trơn như thế nào, hay làn da của bạn đang ấm nóng và mềm như thế nào vào lúc đó. Tuy nhiên, dấu vân tay của bạn trong các trường hợp đều đủ giống nhau để định danh bạn một cách riêng biệt. “Dấu vân tay” của một cảm xúc cũng tương tự, người ta giả định rằng nó phải đủ giống nhau trong các khoảnh khắc khác nhau, và trong mỗi người khác nhau, bất kể độ tuổi, giới tính, tính cách hay văn hóa. Trong phòng thí nghiệm, các nhà khoa học phải xác định được rằng một người đang buồn bã hay đang hạnh phúc hay đang căng thẳng bằng cách dùng các biện pháp đo lường thể chất, để xem xét gương mặt, cơ thể và não bộ của họ.

Tôi đã từng cảm thấy rất tự tin rằng những dấu vân tay cảm xúc sẽ cung cấp cho tôi một bảng tiêu chuẩn khách quan để đo lường cảm xúc. Nếu các tài liệu khoa học là chính xác, thì việc đánh giá cảm xúc của ai đó sẽ nhẹ nhàng như một cơn gió. Nhưng hóa ra, mọi thứ không hề như tôi đã tưởng tượng.

Theo quan điểm cổ điển về cảm xúc, gương mặt của chúng ta nắm giữ chiếc chìa khóa để đánh giá cảm xúc một cách khách quan và chính xác. Nguồn cảm hứng nguyên thủy cho ý tưởng này đến từ cuốn sách The Expression of the Emotions in Man and Animals (Thể hiện của cảm xúc ở người và động vật) của Charles Darwin, trong đây ông tuyên bố rằng các cảm xúc và sự thể hiện cảm xúc là một phần nguyên thủy phổ quát trong bản chất loài người. Ông nói rằng tất cả mọi người, ở khắp nơi trên thế giới, đều thể hiện và nhận diện các biểu hiện của cảm xúc trên gương mặt mà hoàn toàn không cần được đào tạo.

Do đó, tôi đã nghĩ rằng phòng thí nghiệm của mình sẽ có thể đo lường các chuyển động trên mặt, đánh giá trạng thái cảm xúc thực của các đối tượng thí nghiệm và so sánh chúng với báo cáo của họ về cảm xúc của họ, và tính toán độ chính xác của báo cáo này. Ví dụ như, nếu đối tượng thí nghiệm bĩu môi trong phòng thí nghiệm, nhưng không nói rằng họ đang buồn, thì chúng tôi sẽ hướng dẫn họ để họ nhận ra nỗi buồn mà họ đang cảm thấy. Vậy là xong.

Mặt người có bốn mươi hai cơ nhỏ ở mỗi bên. Những chuyển động trên khuôn mặt mà chúng ta nhìn thấy hàng ngày ở trên gương mặt của nhau – như chớp mắt và nháy mắt, mỉm cười hay nhăn nhó, nhướng mày hay chau mày – đều xuất hiện khi các tập hợp những cơ mặt này co lại và giãn ra, làm cho các mô liên kết và làn da chuyển động theo. Ngay cả khi gương mặt của bạn hoàn toàn tĩnh lặng khi nhìn bằng mắt thường, thì các cơ của bạn vẫn đang co lại và giãn ra.



Theo quan điểm cổ điển, mỗi một cảm xúc đều được thể hiện trên gương mặt bởi một mẫu chung cụ thể các chuyển động – một “nét mặt”. Khi bạn vui sướng, bạn sẽ mỉm cười. Khi bạn giận dữ, bạn sẽ chau mày. Những chuyển động này được cho là một phần của dấu vân tay của các cảm xúc tương ứng.

Vào những năm 1960, nhà tâm lý học Silvan S.Tomkins và và những người bảo trợ của ông là Carroll E. Izard và Paul Ekman đã quyết định thử nghiệm điều này trong phòng thí nghiệm. Họ đã tạo ra những bộ ảnh chụp tỉ mỉ, như trong hình 1-2, để đại diện cho sáu cảm xúc cơ bản mà họ tin rằng có dấu vân tay sinh học: tức giận, sợ hãi, ghê tởm, ngạc nhiên, buồn bã và hạnh phúc. Những bức ảnh này, thứ dùng để huẩn luyện các diễn viên, được cho là những ví dụ rõ ràng nhất về nét mặt cần có của những cảm xúc này. (Chúng trông hơi phóng đại hoặc nhìn có vẻ giả tạo một chút, nhưng người ta cố ý tạo ra chúng như vậy, vì Tomkins tin rằng chúng cung cấp những dấu hiệu mạnh mẽ và rõ ràng nhất cho cảm xúc.)



Thông qua những bức ảnh chụp này, Tomkins và đồng sự đã ứng dụng một kỹ thuật thí nghiệm để nghiên cứu về khả năng “nhận diện” cảm xúc, hoặc, chính xác hơn là, khả năng nhận diện sự chuyển động của cơ mặt để thể hiện cảm xúc. Hàng trăm các thí nghiệm đã được xuất bản đã sử dụng phương pháp này, và ngày nay nó vẫn đang được xem như một tiêu chuẩn vàng. Người ta đưa cho đối tượng thí nghiệm một bức tranh và một tập hợp những từ ngữ chỉ cảm xúc, như hình 1-3.


Sau đó, đối tượng thí nghiệm sẽ chọn từ ngữ phù hợp nhất với gương mặt. Trong trường hợp này, từ ngữ nhắm đến là “ngạc nhiên”. Hoặc, thông qua một thiết lập hơi khác, người ta đưa cho đối tượng thí nghiệm hai bức ảnh và một câu chuyện ngắn, như hình 1-4, và sau đó yêu cầu họ chọn bức ảnh nào phù hợp với câu chuyện nhất. Trong trường hợp này, gương mặt được nhắm đến là gương mặt bên phải.


Kỹ thuật nghiên cứu này – hãy gọi nó là phương pháp cảm xúc cơ bản - đã cách mạng hóa nghiên cứu khoa học về cái mà nhóm của Tomkins gọi là “nhận biết cảm xúc”. Thông qua phương pháp này, các nhà khoa học đã chỉ ra rằng mọi người ở khắp nơi trên thế giới đều có thể kết hợp những từ ngữ chỉ cảm xúc (được dịch ra ngôn ngữ địa phương) với những gương mặt trên ảnh. Trong một nghiên cứu nổi tiếng, Ekman và đồng sự của ông đã đến Papua New Guinea và thí nghiệm trên dân địa phương, người dân tộc Fore, những người có rất ít liên hệ với văn minh phương Tây. Ngay cả bộ lạc xa xôi này cũng có thể kết hợp những gương mặt này với những từ ngữ và câu chuyện đúng như dự đoán. Về sau, các nhà khoa học cũng thí nghiệm ở nhiều nước khác như Nhật Bản và Hàn Quốc. Trong mỗi lần thí nghiệm, các đối tượng đều dễ dàng kết hợp những bức ảnh về nụ cười, bĩu môi, chau mày, v.v với những từ ngữ và câu chuyện về cảm xúc cho trước.

Qua bằng chứng này, các nhà khoa học đã kết luận rằng nhận diện cảm xúc mang tính phổ quát: dù cho bạn sinh ra và lớn lên ở đâu, bạn đều có thể nhận diện các biểu cảm trên một gương mặt kiểu phương Tây như trong các bức hình. Lý do cho việc người ta có thể nhận diện các nét mặt một cách phổ quát như vậy là vì các nét mặt được tạo ra một cách phổ quát: do đó, nét mặt chính là những dấu vân tay cảm xúc đáng tin cậy và có thể chẩn đoán được.

Tuy nhiên, các nhà khoa học khác lo ngại rằng thông qua phương pháp cảm xúc cơ bản để tiết lộ các dấu vân tay cảm xúc là quá gián tiếp và quá chủ quan, bởi vì nó bao gồm sự phán xét của con người. Một kỹ thuật khách quan hơn, được gọi là điện cơ trên khuôn mặt (EMG), loại bỏ hoàn toàn các nhận thức chủ quan của con người. EMG mặt là kỹ thuật đặt các điện cực trên bề mặt da để phát hiện các tín hiệu điện làm cho cơ mặt chuyển động. Nó nhận diện một cách chính xác những phần mặt chuyển động, cường độ, và tần suất. Trong một nghiên cứu điển hình, các đối tượng thí nghiệm được gắn các điện cực lên chân mày, trán, má và hàm khi họ xem phim hay xem các bức ảnh, hay khi họ nhớ về một tình huống nào đó, hoặc tưởng tượng một tình huống này đó, để kích hoạt các cảm xúc đa dạng. Các nhà khoa học đã ghi nhận sự thay đổi điện ở hoạt động cơ và tính toán mức độ chuyển động của mỗi cơ trong từng cảm xúc. Nếu con người thực sự chuyển động cơ mặt của họ theo các khuôn mẫu giống nhau mỗi khi họ trải nghiệm một cảm xúc nhất định – như cau có khi giận dữ, mỉm cười khi vui vẻ, bĩu môi khi buồn rầu, v.v – và những chuyển động này chỉ xuất hiện khi họ trải nghiệm loại cảm xúc đó, thì các chuyển động này có thể là một dấu vân tay.

Kết quả là, EMG mặt đã tạo ra một thử thách nghiêm trọng cho quan điểm cổ điển về cảm xúc. Từ nghiên cứu này đến nghiên cứu khác, sự chuyển động của các cơ không hề đáng tin cậy trong việc chỉ ra rằng ai đó đang giận dữ, đang buồn hay đang sợ hãi; chúng không tạo ra các dấu tay giúp dự đoán cho các cảm xúc. Điều tốt nhất mà EMG có thể làm là phát hiện ra rằng các chuyển động này đã phân biệt những cảm xúc tiêu cực và tích cực. Điều đáng nguyền rủa hơn là, những chuyển động cơ mặt mà nghiên cứu này đã ghi lại hoàn toàn không khớp với những bức ảnh đã được chụp trong phương pháp cảm xúc cơ bản.



Hãy dành chút thời gian để xem xét ứng dụng từ những nghiên cứu này. Hàng trăm thí nghiệm đã chỉ ra rằng mọi người ở khắp nơi trên thế giới đều có thể chọn từ ngữ chỉ cảm xúc khớp với thứ gọi là biểu hiện của cảm xúc, được chụp lại bởi những diễn viên – và lúc chụp thì họ không thực sự cảm nhận được loại cảm xúc đó. Tuy nhiên, người ta không thể phát hiện ra những biểu hiện này một cách nhất quán và riêng biệt bằng các thước đo khách quan dành cho chuyển động cơ mặt khi người thí nghiệm thực sự cảm nhận cảm xúc. Tất nhiên là chúng ta luôn chuyển động cơ mặt, và khi chúng ta nhìn nhau, chúng ta không mất tí công sức nào trong việc nhận ra các cảm xúc dựa trên các chuyển động này. Tuy nhiên, ở một góc độ hoàn toàn khách quan, khi các nhà khoa học đo đạc chỉ riêng những chuyển động cơ, thì những chuyển động này không hề phù hợp với các bức ảnh chụp.

Cũng có thể cho rằng EMG mặt quá hạn chế trong việc bắt được tất cả những chuyển động ý nghĩa của một trải nghiệm cảm xúc. Một nhà khoa học có thể gắn sáu điện cực lên mỗi bên gương mặt của người được thí nghiệm trước khi làm họ cảm thấy khó chịu, số lượng này là quá ít để có thể nắm bắt một cách ý nghĩa chuyển động của tất cả 42 cơ mặt. Vì thế, các nhà khoa học cũng đã dùng một kỹ thuật thay thế khác gọi là mã hóa hành động trên khuôn mặt (FACS), trong đó họ đào tạo ra những người quan sát, và những người này sẽ phân loại một cách tỉ mỉ các chuyển động trên khuôn mặt của đối tượng thí nghiệm khi chúng xuất hiện. Nó ít khách quan hơn EMG, vì nó dựa trên cảm nhận của con người, nhưng có thể khách quan hơn việc chọn chữ khớp với hình chụp theo phương pháp cảm xúc cơ bản. Tuy nhiên, các chuyển động quan sát được trong quá trình mã hóa hành động trên khuôn mặt cũng không khớp một cách nhất quán với các bức ảnh chụp kia.

Sự không nhất quán này cũng xuất hiện ở trẻ sơ sinh. Nếu nét mặt là phổ quát, thì các em bé sẽ biểu hiện sự giận dữ bằng cách cau có và nỗi buồn bằng cách bĩu môi – và các bé còn biểu hiện chúng nhiều hơn so với người lớn, vì các em quá nhỏ và chưa học được các quy tắc xã hội. Nhưng khi các nhà khoa học quan sát trẻ sơ sinh trong những tình huống kích thích cảm xúc, trẻ không tạo ra các biểu hiện như dự đoán. Ví dụ như, các nhà tâm lý học phát triển Linda A Camras và Harriet Oster và đồng nghiệp đã ghi hình các em bé từ nhiều nền văn hóa khác nhau, dùng một con gorilla đồ chơi gầm gừ để làm chúng giật mình (để gây sợ hãi) hoặc nắm chặt cánh tay của chúng (để gây tức giận). Camras và Oster thông qua FACS đã phát hiện ra rằng họ không thể phân biệt được các chuyển động cơ mặt của các em bé trong hai tình huống này. Tuy nhiên, khi người lớn xem các đoạn videos này, bằng cách nào đó họ đã phát hiện ra trẻ sơ sinh trong video có gorilla đang sợ hãi còn trẻ sơ sinh trong video bị nắm tay đang giận dữ, thậm chí là khi Camras và Oster đã dùng kỹ thuật điện tử để che đi gương mặt của trẻ! Những người lớn này đã phân biệt sự sợ hãi và sự tức giận dựa trên bối cảnh, mà không cần phải nhìn và chuyển động cơ mặt.

Đừng hiểu lầm ý tôi: trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ chuyển động mặt của chúng một cách có ý nghĩa. Chúng tạo ra các chuyển động cơ mặt trong những tình huống làm chúng cảm thấy thú vị hay khó hiểu, hay khi chúng cảm thấy bứt rứt vì đau đớn hoặc chán ghét khi ngửi và nếm những thứ gây khó chịu. Nhưng trẻ sơ sinh không thể hiện những biểu cảm khác biệt, giống như những người lớn trong các bức ảnh chụp từ phương pháp cảm xúc cơ bản.

Những nhà khoa học khác, cũng như Camras và Oster, đã mô tả rằng bạn đã thu thập một lượng lớn thông tin từ bối cảnh xung quanh. Khi họ ghép các bức ảnh khuôn mặt với các cơ thể vốn không thuộc về nhau, chẳng hạn như khuôn mặt cau có giận dữ gắn liền với cơ thể đang cầm một chiếc tã bẩn, đối tượng thí nghiệm của họ gần như luôn xác định cảm xúc khớp với cơ thể chứ không phải với khuôn mặt — trong trường hợp này, cảm xúc ở đây là “ghê tởm” chứ không phải là “tức giận”. Các khuôn mặt luôn chuyển động, và não của bạn dựa trên cùng lúc nhiều yếu tố khác nhau – dáng người, giọng nói, tình huống chung, các kinh nghiệm sống của bạn – để tìm ra xem chuyển động nào mới mang ý nghĩa và chúng có nghĩa là gì.

Khi nói về cảm xúc thì chỉ nói về khuôn mặt là hoàn toàn không đủ. Thật ra, trong phương pháp cảm xúc cơ bản, những bức ảnh chụp không xuất phát từ việc quan sát những khuôn mặt trong thế giới thực, mà chính các nhà khoa học đã quy định những kiểu mặt như thế - lấy nguồn từ cuốn sách của Darwin, rồi yêu cầu các diễn viên diễn tả chúng. Và hiện nay, những gương mặt này được cho là biểu hiện cảm xúc phổ quát của loài người.

Nhưng chúng không hề phổ quát. Để đi sâu hơn vào vấn đề này, phòng thí nghiệm của tôi đã tiến hành một nghiên cứu, trong đó, chúng tôi dùng những bức ảnh từ một nhóm các chuyên gia cảm xúc – những diễn viên xuất sắc. Những bức ảnh này đến từ cuốn sách In Character: Actors Acting (Bên Trong Nhân Vật: Diễn viên diễn xuất), trong đó các diễn viên diễn đạt cảm xúc bằng cách chụp gương mặt của họ khớp với từng cảnh phim. Chúng tôi chia các đối tượng thí nghiệm người Mỹ ra làm ba nhóm.Nhóm đầu tiên chỉ đọc kịch bản của cảnh phim, ví dụ: “Anh ấy vừa chứng kiến một vụ nổ súng trong khu nhà yên tĩnh rợp bóng cây của anh ấy ở Brooklyn.” Nhóm thứ hai chỉ nhìn thấy các cấu hình khuôn mặt, như bức ảnh của Martin Landau trong cảnh nổ súng (hình 1-6, hình giữa). Nhóm thứ ba nhìn thấy cả kịch bản lẫn gương mặt. Trong mỗi trường hợp, chúng tôi đưa cho đối tượng thí nghiệm một danh sách ngắn những từ ngữ chỉ cảm xúc để họ phân loại thứ cảm xúc mà họ nhìn thấy.

Đối với cảnh phim nổ súng mà tôi vừa nhắc tới, 66% các đối tượng được đọc kịch bản hoặc vừa đọc vừa nhìn thấy gương mặt của Landau đã đánh giá đây là một tình huống gây sợ hãi. Nhưng với những đối tượng chỉ nhìn thấy gương mặt của Landau (mà không đọc kịch bản), họ không biết đến bối cảnh và chỉ có 38% đánh giá đây là một biểu cảm sợ hãi và 56% thì xem đây là biểu cảm ngạc nhiên. (Hình 1-6, sự “ngạc nhiên” và “sợ hãi” trên cấu hình gương mặt của Landau khi so sánh với phương pháp cảm xúc cơ bản. Liệu Landau đang sợ hãi hay ngạc nhiên? Hay cả hai?


Những bức ảnh chụp nét mặt sợ hãi của các diễn viên khác rất khác so với Landau. Trong một trường hợp, diễn viên Melissa Leo đã diễn đạt nỗi sợ hãi cho phân cảnh: “Cô ấy cố gắng quyết định xem liệu có nên nói với chồng cô về tin đồn cô là người đồng tính trước khi anh ấy nghe điều này từ bất kỳ ai đó khác hay không.” Miệng cô mím chặt và trễ xuống, chân mày của cô hơi thắt lại. Gần 3/4 trong số đối tượng thí nghiệm đã đánh giá đây là biểu cảm buồn bã – khi họ chỉ nhìn thấy mỗi bức ảnh của cô ấy, nhưng khi họ đọc được bối cảnh trong kịch bản, 70% đánh giá rằng đây là biểu cảm sợ hãi.

Sự khác biệt này đúng đối với mọi loại cảm xúc trong nghiên cứu của chúng tôi. Một cảm xúc như “sợ hãi” không có biểu cảm riêng lẻ, thay vào đó nó có một số lượng đa dạng các chuyển động trên khuôn mặt thay đổi tùy theo tình huống. (Hãy nghĩ về điều này: Lần cuối mà một diễn viên nào đó đoạt giải thưởng hàn lâm cho việc bĩu môi để diễn tả nỗi buồn là lúc nào?)

Điều này trở nên rõ ràng hơn khi bạn dừng lại một lúc để suy xét về trải nghiệm cảm xúc của chính bạn. Khi bạn cảm thấy sợ hãi, bạn có vô số cách thức chuyển động khuôn mặt. Khi co mình trên ghế để xem phim kinh dị, có thể bạn sẽ nhắm tịt mắt hoặc dùng tay che mắt lại. Nếu bạn không chắc về việc liệu cái người đối diện mình có gây hại cho mình không, bạn sẽ nheo mắt lại để nhìn kỹ gương mặt của người đó hơn. Nếu có một mối nguy hiểm nào đó đang rình rập ở góc phố, bạn sẽ mở to mắt để tăng tầm nhìn ngoại vi. Không có dạng thức cơ thể đơn lẻ nào cho “sợ hãi”. Đa dạng mới là điều bình thường. Tương tự, niềm vui, nỗi buồn, sự giận dữ, và mọi cảm xúc khác mà bạn biết đều có một danh mục đa dạng, trải dài khắp các chuyển động cơ mặt.

Nếu các chuyển động cơ mặt quá đa dạng trong mỗi danh mục như “nỗi sợ hãi”, bạn có thể sẽ tự hỏi rằng, tại sao chúng ta lại tin chắc rằng một gương mặt với đôi mắt mở to là biểu hiện phổ quát cho nỗi sợ hãi. Câu trả lời chính là vì nó đã bị khuôn mẫu hóa (sterotype), nó là một biểu tượng phù hợp với chủ đề nổi tiếng về “sợ hãi” trong văn hóa của chúng ta. Các trường mẫu giáo đã dạy những khuôn mẫu này trẻ em: “Người ta thường cau có khi giận dữ. Người ta thường bĩu môi khi buồn bã.” Chúng là tập quán hoặc là phép tốc ký cho văn hóa. Bạn nhìn thấy chúng trong phim hoạt hình, trong quảng cáo, trên mặt búp bê, trong emoji - trong một loạt hình ảnh và biểu tượng dài vô tận. Những cuốn sách giáo khoa đã dạy về các khuôn mẫu này cho các sinh viên tâm lý học. Các nhà trị liệu dạy chúng cho các bệnh nhân. Các phương tiện truyền thông phổ biến chúng rộng rãi khắp các xã hội phương Tây. “Chờ chút đã…” – bạn có thể đang nghĩ – “Bà này đang nói là văn hóa của chúng ta đã tạo ra những biểu cảm này, và chúng ta đều đã học được chúng sao?” À,… đúng. Và quan điểm cổ điển đã duy trì những khuôn mẫu này như thể chúng là dấu vân tay đích thực của cảm xúc.

Chắc chắn rằng gương mặt là công cụ trong giao tiếp xã hội. Một số chuyển động trên gương mặt hẳn là có ý nghĩa, nhưng số khác thì không, và giờ đây, việc chúng ta biết chút ít thông tin quý giá về việc người ta sẽ phân biệt cái nào có ý nghĩa, cái nào thì không, thay vì chỉ dựa trên bối cảnh, là một chuyện rất quan trọng (ngôn ngữ cơ thể, tình huống xã hội, kỳ vọng văn hóa, vv.) Khi các chuyển động trên khuôn mặt truyền tải một thông điệp tâm lý — chẳng hạn như nhướng mày — chúng ta không biết liệu thông điệp đó có phải lúc nào cũng là cảm xúc hay không, và thậm chí, liệu rằng ý nghĩa của nó trong mỗi lần đều giống nhau hay không. Nếu chúng ta gộp các bằng chứng khoa học lại vời nhau, thì chúng ta vẫn không thể tuyên bố chắc chắn rằng mỗi cảm xúc đều có thể được chẩn đoán ra bằng một biểu cảm gương mặt đi kèm.

Trong nghiên cứu của tôi về các dấu vân tay độc đáo của cảm xúc, rõ ràng là tôi cần một nguồn đáng tin cậy hơn khuôn mặt của con người, vì thế, tôi đã nghiên cứu cơ thể của con người. Có lẽ một số phần nói về thay đổi nhịp tim, huyết áp và các chức năng cơ thể khác sẽ cung cấp các dấu vân tay cảm xúc để có thể dạy người ta cách nhận biết cảm xúc của họ chính xác hơn chăng.

Một trong những thí nghiệm ủng hộ mạnh mẽ nhất cho dấu vân tay cơ thể đến từ nghiên cứu nổi tiếng của Paul Ekman, nhà tâm lý học Robert W. Levenson, và đồng nghiệp của họ Wallace V.Friesen, được xuất bản trên tờ Science năm 1983. Họ gắn máy móc vào người các đối tượng thí nghiệm để đo lường các thay đổi trong hệ thống thần kinh tự động: sự thay đổi về nhịp tim, nhiệt độ và độ dẫn điện của da (thước đo lượng mồ hôi). Họ cũng đo các biến thể về độ căng của cánh tay, bắt nguồn từ hệ thần kinh vận động cơ xương. Sau đó, họ sử dụng kỹ thuật thí nghiệm để gợi lên sự tức giận, buồn bã, sợ hãi, ghê tởm, ngạc nhiên và hạnh phúc, đồng thời quan sát những thay đổi thể chất trong mỗi cảm xúc. Sau khi phân tích dữ liệu, Ekman và các đồng nghiệp của ông kết luận rằng họ đã đo lường những thay đổi rõ ràng và nhất quán trong những phản ứng cơ thể này, liên hệ chúng với những cảm xúc cụ thể. Nghiên cứu này có vẻ đã được thiết lập được các dấu vân tay sinh học cơ thể khách quan cho các cảm xúc trong nghiên cứu, và ngày nay nó vẫn là một tài liệu khoa học điển hình.

Nghiên cứu nổi tiếng năm 1983 này đã đã khơi gợi cảm xúc theo cách tò mò - bằng cách để các đối tượng thí nghiệm tạo một biểu cảm gương mặt từ phương pháp cảm xúc cơ bản và giữ biểu cảm gương mặt đó. Ví dụ như, để khơi gợi nỗi buồn, người ta yêu cầu đối tượng thí nghiệm nhăn nhó trong 10 giây. Để khơi gợi sự tức giận, đối tượng thí nghiệm phải cau có. Khi tạo ra biểu cảm gương mặt, các đối tượng này có thể sử dụng một các gương và được hướng dẫn bởi chính Ekman để chuyển động các cơ mặt cụ thể.

Ý tưởng cho rằng một nét mặt - được gọi là biểu cảm trên khuôn mặt, có thể kích hoạt trạng thái cảm xúc, được gọi là giả thuyết phản hồi trên khuôn mặt. Theo cáo buộc, việc biến khuôn mặt của bạn theo một hình dạng cụ thể sẽ gây ra những thay đổi sinh lý cụ thể liên quan đến cảm xúc đó trong cơ thể bạn. Hãy thử xem. Chau chân mày và bĩu môi trong 10 giây – bạn có cảm thấy buồn bã không? Cười lớn. Bạn có thấy vui hơn không? Có rất nhiều tranh cãi vễ giả thuyết về phản hồi khuôn mặt, và có rất nhiều người không đồng ý về việc cảm xúc thực sự có thể bị kích hoạt theo cách này.

Thực tế, thí nghiệm năm 1983 này đã quan sát thấy các thay đổi trên cơ thể khi người ta tạo ra các cấu hình khuôn mặt như chỉ định. Đây là một nghiên cứu đáng chú ý: chỉ cần tạo ra một cấu hình khuôn mặt cụ thể thì đã thay đổi hoạt động của hệ thống thần kinh ngoại vi của đối tượng thí nghiệm, ngay cả khi họ hoàn toàn ngồi yên trên ghế. Các đầu ngón tay của họ ấm hơn khi họ cau có (giận dữ). Nhịp tim của họ nhanh hơn khi họ chau mày và mở to mắt nhìn trừng trừng (sợ hãi), và khi bĩu môi (buồn bã), so với khi họ tạo các cấu hình gương mặt thể hiện vui sướng, ngạc nhiên, và ghê tởm. Hai biện pháp còn lại, độ dẫn của da (mồ hôi) và độ căng của cánh tay, không khác nhau mấy khi họ tạo ra các nét mặt khác nhau này.

Ngay cả như vậy thì bạn cũng phải nghiên cứu thêm nữa trước khi có thể tuyên bố rằng bạn đã phát hiện ra dấu vân tay cơ thể cho một cảm xúc. Một là, bạn phải chỉ ra rằng những phản hồi cảm xúc – như giận dữ, thì phải khác biệt với những cảm xúc khác – từ đó mới nói rằng đây là những phản ứng của riêng cảm xúc giận dữ. Còn ở đây, nghiên cứu năm 1983 này đã gặp phải nhiều khó khăn. Nó chỉ ra một số đặc điểm cho sự giận dữ như không chỉ đặc điểm cho cảm xúc khác trong thí nghiệm. Điều này có nghĩa là cơ thể đã phản hồi quá giống nhau đối với những cảm xúc khác nhau, nên những phản hồi này không được xem là các dấu vân tay khác biệt được.

Thêm vào đó, bạn phải chỉ ra rằng không có bất kỳ lời giải thích nào khác cho các kết quả này. Khi đó, và chỉ khi đó, bạn mới có thể tuyên bố rằng bạn đã tìm ra các dấu vân tay riêng cho sự giận dữ, nỗi buồn, và những cảm xúc khác. Theo lý do này, có một lời giải thích khác cho kết quả trong nghiên cứu năm 1983: đó là vì những đối tượng thí nghiệm được hướng dẫn để tạo ra các biểu cảm trên mặt. Những đối tượng người phương Tây này có thể xác định được hầu hết các cảm xúc mà họ phải tạo ra từ những hướng dẫn này, vì thế họ có thể thực sự tạo ra sự thay đổi trong nhịp tim và các phần cơ thể khác mà Ekman và đồng nghiệp đã quan sát thấy, và các nhà nghiên cứu đã không biết điều này khi họ tiến hành thí nghiệm. Cách giải thích này được đưa ra bởi thí nghiệm sau đó của họ với một bộ tộc châu Phi - Minangkabau ở Tây Sumatra. Những đối tượng thí nghiệm này có ít hiểu biết về cảm xúc của phương Tây hơn và họ không có nhiều thay đổi về thể chất giống như các đối tượng thí nghiệm người phương Tây; họ cũng cho biết rằng họ ít khi cảm nhận những cảm xúc này - ít thường xuyên hơn nhiều so với các đối tượng thí nghiệm người phương Tây.

Một nghiên cứu sau đó đã khơi gợi cảm xúc thông qua nhiều phương pháp đa dạng khác, nhưng chưa từng tái tạo được những khác biệt thể chất như trong nghiên cứu năm 1983 đó. Khá nhiều nghiên cứu sử dụng phim kinh dị, những bộ phim đầy nước mắt và tài liệu gợi cảm khác để mang lại những cảm xúc cụ thể, trong khi các nhà khoa học đo nhịp tim, hô hấp và các chức năng cơ thể khác của đối tượng. Những nghiên cứu này đã tìm ra một lượng lớn những thay đổi thể chất đa dạng, nghĩa là, không có bất kỳ khuôn mẫu thay đổi thể chất nào có thể phân biệt các cảm xúc. Trong những nghiên cứu khác, các nhà khoa học thực sự có tìm thấy những khuôn mẫu khác nhau, nhưng mỗi nghiên cứu khác nhau lại tìm thấy những khuôn mẫu khác nhau, thậm chí là khi họ sử dụng cùng một đoạn clip giống nhau. Nói cách khác, khi các nghiên cứu cố gắng phân biệt sự giận dữ, nỗi buồn, và sự sợ hãi, kết quả không lặp lại, ngụ ý rằng – những nỗi buồn, sự giận dữ, và sự sợ hãi trong nghiên cứu này khác với những cảm xúc này trong nghiên cứu khác.

Khi đối mặt với số lượng lớn các thí nghiệm khác nhau như thế này, thật khó để chiết xuất ra một câu chuyện nhất quán. May mắn là, các nhà khoa có một kỹ thuật để phân tích dữ liệu chung với nhau và đã đạt tới một kết luận thống nhất. Nó gọi là “phân tích tổng hợp.” (meta-analysis) Các nhà khoa học chải chuốt các con sống trong các thí nghiệm được tạo ra bởi nhiều nhà nghiên cứu khác nhau, kết hợp kết quả của họ theo thống kê. Ví dụ đơn giản là, nếu bạn muốn kiểm tra xem có phải nhịp tim tăng lên là dấu hiệu cho hạnh phúc hay không. Thay vì tự tiến hành thí nghiệm của mình, bạn có thể phân tích tổng hợp các thí nghiệm khác – những thí nghiệm đo đạc nhịp tim trong khi người ta vui vẻ, thậm chí trong các thí nghiệm trùng hợp khác (ví dụ: bạn có thể tìm trong một nghiên cứu về mối quan hệ giữa tình dục và các cơn đau tim – không liên quan gì đến cảm xúc). Bạn có thể tìm thấy mọi nghiên cứu khoa học liên quan, thu thập các thống kê liên quan, sau đó phân tích chúng hàng loạt (en masse) để kiểm tra giả thuyết của mình.

Có bốn phân tích tổng hợp quan trọng đã được thực hiện trong hai thập kỷ qua liên quan đến cảm xúc và hệ thống thần kinh tự động, phân tích lớn nhất bao gồm hơn 220 nghiên cứu sinh lý học và gần 22.000 đối tượng thí nghiệm. Cả bốn nghiên cứu tổng hợp này đều không tìm thấy bất kỳ dấu vân tay cảm xúc cụ thể và nhất quán nào trong cơ thể người. Thay vào đó, dàn giao hưởng các cơ quan nội tại bên trong cơ thể có thể chơi nhiều bản giao hưởng khác nhau khi người ta hạnh phúc, sợ hãi, và những cảm xúc khác.

Bạn có thể nhìn thấy sự đa dạng này một cách dễ dàng trong một quy trình thử nghiệm được các phòng thí nghiệm trên khắp thế giới sử dụng, khi các đối tượng thí nghiệm phải thực hiện những nhiệm vụ khó khăn như đếm ngược thật nhanh từ số mười ba trở lại, hay khi họ phải nói về một chủ đề gây tranh cãi dữ dội như phá thai, hay tôn giáo, trong khi bị chế nhạo. Khi họ vật lộn với nhiệm vụ, nhà thí nghiệm sẽ mắng họ vì hiệu suất kém, và đưa ra những lời chỉ trích và thậm chí là xúc phạm họ. Tất cả các đối tượng kiểm tra có nổi giận không? Không, không hề. Quan trọng hơn, những người cảm thấy tức giận sẽ có các kiểu thay đổi cơ thể khác nhau. Một số người thở phì phò khi tức giận, số khác thì bật khóc. Một số người trở nên im lặng và khéo léo. Số khác chỉ đơn giản là rút lui. Mỗi hành động (thở phì phò, khóc, lên kế hoạch, rút lui) đều được tạo ra kèm với những khuôn mẫu sinh lý của cơ thể, một điều vốn đã được biết đến từ lâu bởi các nhà sinh lý học, những người nghiên cứu cơ thể vì chính nó. Ngay cả những thay đổi nhỏ trong tư thế cơ thể, chẳng hạn như ngả người về phía sau so với cúi người về phía trước và khoanh tay, có thể làm thay đổi hoàn toàn phản ứng sinh lý của một người đang tức giận.

Khi tôi nói về phân tích tổng hợp này ở hội thảo với nhiều thính giả, một số người tỏ ra nghi ngờ: “Bà đang nói rằng trong một tình huống bị chế nhạo và tức giận, không phải ai cũng tức giận đến nỗi sôi máu, lòng bàn tay đổ mồ hôi và má đỏ bừng sao?" Câu trả lời của tôi là đúng, đó chính xác là điều tôi đang nói. Thật ra, lúc tôi mới bắt đầu sự nghiệp của mình, khi tôi giảng những bài đầu tiên về những ý tưởng này, bạn có thể nhìn thấy rất nhiều biểu cảm giận dữ đa dạng đến từ những thính giả không thực sự thích các bằng chứng này. Thi thoảng họ loay hoay trên ghế ngồi của mình. Thi thoảng họ lắc đầu cho một chữ “không” im lặng. Có lần một đồng nghiệp đã hét vào mặt tôi đến nỗi mặt của anh ấy đỏ lên và anh ấy chỉ tay lên trời. Một đồng nghiệp khác đã hỏi tôi, bằng một tông giọng rất thông cảm, là liệu tôi có bao giờ cảm thấy thực sự sợ hãi chưa, bởi vì nếu tôi đã từng bị tổn hại nghiêm trọng, tôi sẽ không bao giờ đề xuất một ý tưởng phi lý như vậy. Và một đồng nghiệp khác nói rằng anh ấy sẽ nói với em rể của tôi (một nhà xã hội học – đồng nghiệp của anh ấy) rằng tôi đang phá hủy nền tảng khoa học của cảm xúc. Ví dụ ưa thích nhất của tôi đến từ một người đồng nghiệp lớn tuổi hơn tôi rất nhiều, trông như một hậu vệ biên bóng bầu dục và cao hơn tôi 1 foot, người đã nắm chặt tay và đề nghị đấm vào mặt tôi để chứng minh sự tức giận thực sự trông như thế nào. (Tôi đã mỉm cười và cảm ơn ông ta vì lời đề nghị tử tế này.) Trong những ví dụ này, các đồng nghiệp của tôi đã mô tả sự đa dạng của cơn tức giận dữ dội hơn nhiều so với bài thuyết trình của tôi.

Vậy, bốn nghiên cứu tổng hợp, tóm lượt hàng trăm thí nghiệm nhưng không tạo ra bất kỳ mẫu vân tay cụ thể và nhất quán nào trong hệ thống thần kinh tự động dành cho các cảm xúc khác nhau, thì có ý nghĩa gì? Nó không có nghĩa là các cảm xúc chỉ là ảo tưởng, hoặc rằng các phản hồi của cơ thể là ngẫu nhiên. Nó có nghĩa là, trong những tình huống khác nhau, trong những bối cảnh khác nhau, trong những nghiên cứu khác nhau, trong cùng một người hoặc giữa những người khác nhau, những cảm xúc giống nhau sẽ tạo ra những phản hồi cơ thể khác nhau. Sự đa dạng, chứ không phải đồng dạng, mới là điều bình thường. Những kết quả này nhất quán với điều mà những gì các nhà sinh lý học đã biết trong hơn năm mươi năm: các hành vi khác nhau có các kiểu nhịp tim, nhịp thở, v.v. khác nhau để hỗ trợ các chuyển động của riêng chúng.

Dù cho có đầu tư nhiều thời gian và công sức như thế nào, các nghiên cứu vẫn không thể tiết lộ một mẫu vân tay cơ thể nhất quán cho ngay cả duy nhất một loại cảm xúc.

Hai nỗ lực đầu tiên của tôi trong việc tìm kiếm dấu vân tay cho cảm xúc – trên mặt và cơ thể - đã sập cửa vào mặt tôi. Nhưng, như người ta vẫn nó, khi một cánh cửa đóng lại, đôi khi có một cái cửa sổ sẽ mở ra. Cái cửa sổ của tôi chính là việc nhận ra – một cách không dự đoán trước được – rằng cảm xúc không phải là một thứ mà là một danh mục các trạng thái, và bất kỳ danh mục cảm xúc nào cũng vô cùng đa dạng. Ví dụ như, sự giận dữ, đa dạng hơn nhiều so với những gì mà quan điểm cảm xúc cổ điển có thể đoán được và giải thích được. Khi bạn giận ai đó, bạn có la hét và chửi thề hay là bạn sẽ giận sôi lên trong im lặng? Bạn có chọc tức lại người đó để trả đũa không? Mắt bạn ở to ra sao và chân mày của bạn sẽ nhướng lên như thế nào? Trong lúc này, huyết áp của bạn có thể tăng lên hoặc hạ xuống hoặc giữ nguyên mức độ. Bạn có thể thấy tim đập mạnh trong lồng ngực, hoặc không. Bàn tay của bạn có thể nhớp nháp (vì mồ hôi), hoặc chúng vẫn khô ráo… bất kỳ trạng thái nào khiến cơ thể bạn được chuẩn bị một cách tốt nhất để hành động trong tình huống đó.

Não của bạn đã tạo ra và theo dõi tất cả những cơn giận đa dạng này như thế nào? Làm sao mà nó biết rằng loại này phù hợp nhất với tình huống hiện có? Nếu tôi hỏi bạn rằng bạn cảm thấy thế nào trong mỗi tình huống, liệu bạn sẽ trả lời một cách chi tiết là “trầm trọng”, “cáu kỉnh”, “phẫn nộ” hay “hận thù” một cách tự động mà không cần phải cố gắng? Thậm chí, bằng cách nào mà bạn có thể biết được câu trả lời là gì? Đây là những bí ẩn mà quan điểm cổ điển về cảm xúc không thể trả lời được.

Lúc đó, tôi đã không biết về nó, nhưng khi tôi xem xét tất cả các danh mục cảm xúc phong phú đó, tôi đã vô tình áp dụng một cách tư duy tiêu chuẩn trong sinh học - gọi là tư duy quần thể, được đề xuất bởi Darwin. Một danh mục, ví dụ như một loài động vật, là một quần thể bao gồm các thành viên riêng biệt – chúng rất khác với các loài khác, và không có dấu vân tay nào trong cốt lõi của chúng cả. Danh mục chỉ có thể được mô tả ở cấp độ nhóm bằng các thuật ngữ thống kê, trừu tượng. Cũng như không có gia đình Mỹ nào gồm 3,13 người, không có phân mục tức giận nào phải bao gồm khuôn mẫu giận dữ bình quân (nếu chúng ta có thể xác định được khuôn mẫu này). Cũng không có trường hợp nào nhất thiết phải giống với dấu vân tay mà chúng ta khó nắm bắt được của sự tức giận. Cái mà chúng ta vẫn gọi là dấu vân tay có thể chỉ là một định kiến.

Một khi tôi đã thiết lập cho mình được lối suy nghĩ theo kiểu tư duy quần thể, toàn bộ góc nhìn của tôi đều thay đổi – nói theo kiểu khoa học. Tôi bắt đầu không xem các biến thể cảm xúc này là lỗi nữa, mà là xem chúng là một hiện tượng bình thường và thậm chí là hiện tượng đáng mong đợi. Tôi tiếp tục thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm một phương thức khách quan để phân biệt cảm xúc này với cảm xúc khác, nhưng nó không còn là kiểu truy tìm cũ nữa. Với sự hoài nghi ngày càng tăng, tôi chỉ còn một chỗ để tìm dấu vân tay. Đã đến lúc chuyển sang bộ não.

Các nhà khoa học từ lâu đã nghiên cứu những người bị tổn thương não (tổn thương não) để cố gắng xác định vị trí của các loại cảm xúc trong các khu vực cụ thể của não. Nếu ai đó bị tổn thương ở một vùng não cụ thể gặp khó khăn trong việc trải nghiệm và nhận biết một loại cảm xúc cụ thể, và chỉ duy nhất loại cảm xúc đó mà thôi, thì đây có thể được xem như một bằng chứng rằng loại cảm xúc này phụ thuộc vào các neuron thần kinh trong khu vực não đó. Nó hơi giống với việc tìm xem cầu dao nào trong nhà của bạn kiểm soát phần hệ thống điện nào. Ban đầu, tất cả các cầu dao đều mở và ngôi nhà của bạn bình thường. Khi bạn ngắt một cầu dao (tạo ra một dạng tổn thương cho hệ thống điện nhà bạn) và quan sát thấy rằng đèn nhà bếp đã tắt ngúm, bạn sẽ khám phá ra rằng chiếc cầu dao này có mục đích là gì.

Một ví dụ điển hình là người ta đã tìm thấy vị trí của nỗi sợ hãi trong não bộ, và trong nhiều năm, các nhà khoa học đã coi đây là một trường hợp đáng đưa vào sách giáo khoa về việc định vị cảm xúc vào một vùng não duy nhất — cụ thể là hạch hạnh nhân (amygdala), một nhóm nhân được tìm thấy sâu trong thùy thái dương của não (temporal lobe). Lần đầu tiên người ta liên kết nỗi sợ hãi với hạch hạnh nhân (amygdala) là vào năm 1930 khi hai nhà khoa học, Heinrich Klüver và Paul C. Bucy, đã cắt bỏ thùy thái dương của khỉ rhesus (khỉ vàng). Thiếu mất hạch hạnh nhân (amygdala), những con khỉ này sẵn sàng đến gần những thứ và những con vật khác mà trước đây chúng sợ hãi, như rắn, những con khỉ không quen thuộc, và những thứ khác mà chúng trốn tránh trước khi được phẫu thuật. Klüver và Bucy đã tin rằng sự khiếm khuyết này là vì “không sợ hãi”.

Sau đó không lâu, các nhà khoa học khác bắt đầu nghiên cứu những người bị tổn thương hạch hạnh nhân (amygdala) để xem liệu những bệnh nhân này còn có thể trải nghiệm và cảm nhận nỗi sợ hãi hay không. Trường hợp được nghiên cứu kỹ lưỡng nhất là một phụ nữ được gọi là "SM", mắc một căn bệnh di truyền - hạch hạnh nhân của cô dần dần bị xóa bỏ trong quá trình từ thời thơ ấu đến tuổi vị thành niên, được gọi là bệnh Urbach-Wiethe. Nhìn chung, SM đã (và vẫn) khỏe mạnh về mặt tinh thần và cô có trí thông minh bình thường, nhưng trong các cuộc kiểm tra trong phòng thí nghiệm, người ta phát hiện rằng mối quan hệ của cô ấy với nỗi sợ hãi dường như khá bất thường. Các nhà khoa học cho cô ấy xem các bộ phim kinh dị như The Shining The Silence of the Lambs, đưa cho cô những con rắn và nhện còn sống, và thậm chí, họ đưa cô đến một ngôi nhà ma, nhưng cô nói rằng bản thân không hề cảm thấy sợ hãi. Khi người ta đưa cho SM những tấm hình với cấu hình gương mặt có đôi mắt mở to trong bộ hình ảnh của phương pháp cảm xúc cơ bản, cô ấy khó mà phân biệt tấm nào là sợ hãi. SM vẫn có trải nghiệm và cảm nhận những cảm xúc khác một cách bình thường.

Các nhà khoa học đã thất bại trong việc hướng dẫn SM cảm thấy sợ hãi khi họ sử dụng một quy trình thông dụng có tên là học cách sợ. Họ cho cô xem một bức tranh, rồi ngay lập tức thổi một tiếng kèn lớn 100 decibel để làm cô giật mình. Âm thanh này vốn sẽ kích thích phản xạ sợ hãi trong SM nếu cô ấy có loại phản xạ này. Trong lúc đó, họ cũng đo đạc độ dẫn điện trên da của SM, thứ mà nhiều nhà khoa học tin rằng là thước đo mức độ sợ hãi và có liên quan đến hoạt động của hạch hạnh nhân. Sau nhiều lần cho cô xem bức ảnh và nghe tiếng kèn, họ chỉ đưa cho SM bức ảnh rồi đo phản ứng của cô ấy. Những người có hạch hạnh nhân còn nguyên vẹn sẽ học cách liên kết hình ảnh với âm thanh khiến họ giật mình, vì vậy nếu chỉ cần cho họ xem hình ảnh, não của họ sẽ dự đoán tiếng kèn và độ dẫn điện trên da của họ sẽ tăng lên. Nhưng dù các nhà khoa học đã liên kết bức tranh với tiếng kèn bao nhiêu lần, độ dẫn điện trên da của SM vẫn không tăng lên khi cô chỉ nhìn thấy bức ảnh. Các nhà thí nghiệm đã kết luận rằng SM không thể nào học được cách sợ hãi những thứ mới mẻ.

Nói chung, SM không hề sợ hãi bất kỳ thứ gì, và lý do có lẽ là nằm ở hạch hạnh nhân bị tổn thương của cô. Từ việc này và những bằng chứng tương tự, các nhà khoa học đã kết luận rằng một hạch hạnh nhân hoạt động bình thường chính là trung tâm của não bộ dành cho sự sợ hãi.

Nhưng sau đó, có một điều buồn cười đã xảy ra. Các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng SM có thể nhìn thấy nỗi sợ hãi trong tư thế cơ thể và nghe ra được nỗi sợ hãi từ giọng nói. Họ thấy chí có thể tìm ra một cách khiến SM cảm thấy kinh hoảng, bằng cách yêu cầu cô hít loại không khí có nhiều CO2. Khi không còn giữ được mức độ oxy bình thường, SM hoảng loạn. (Đừng lo, cô ấy không gặp nguy hiểm.) Do đó, SM hoàn toàn có thể cảm thấy và cảm nhận được nỗi sợ hãi trong một số tình huống, mà không cần đến hạch hạnh nhân của cô ấy.

Khi người ta tiếp tục tiến hành các thí nghiệm với những người bị tổn thương não, họ tìm ra và thí nghiệm trên những người bị tổn thương hạch hạnh nhân, và mối liên hệ giữa nỗi sợ hãi và hạch hạnh nhân bị xóa bỏ. Có lẽ phản chứng quan trọng nhất đến từ một cặp sinh đôi giống hệt nhau bị mất hạch hạnh nhân - bộ phận được cho là có liên quan đến chứng sợ hãi, vì bệnh Urbach-Wiethe. Cả hai đều mắc bệnh này từ 12 tuổi, họ có trí thông mình bình thường, và học đến trung học. Mặc dù có DNA giống hệt nhau, có mức độ tổn thương não như nhau, và sống trong một môi trường giống nhau từ nhỏ đến lớn, cặp song sinh này có phản ứng rất khác nhau đối với nỗi sợ hãi. Một người – BG – khá giống với SM: cô bị thiếu hụt sự sợ hãi nhưng vẫn có thể trải nghiệm nỗi sợ khi hít loại không khí dư CO2. Người còn lại – AM, thì có phản ứng bình thường khi sợ hãi: những mạng lưới khác trong não bộ đã thay thế cho hạch hạnh nhân của cô ấy. Vì thế, chúng ta có một cặp song sinh, DNA giống hệt nhau, cùng chịu một tổn thương não giống hệt nhau, sống trong một môi trường rất giống nhau, nhưng một người thì có một số thiếu hụt sợ hãi và người còn lại thì không.

Những phát hiện này làm suy yếu ý kiến cho rằng hạch hạnh nhân chứa mạch thần kinh sợ hãi. Thay vào đó, chúng chỉ ra rằng não bộ phải có nhiều cách để tạo ra nỗi sợ hãi, và vì thế, danh mục cảm xúc “sợ hãi” không nhất thiết chỉ giới hạn trong một khu vực cụ thể. Ngoài nỗi sợ hãi, các nhà khoa học đã nghiên cứu các danh mục cảm xúc khác ở những bệnh nhân bị tổn thương, và các kết quả của đa dạng như vậy. Các khu vực trong não bộ như hạch hạnh nhân thông thường sẽ rất quan trọng đối với cảm xúc, nhưng chúng không cần thiết mà cũng không đủ cho cảm xúc.

Đây là một trong số những điều ngạc nhiên nhất mà tôi đã học được khi tôi bắt đầu nghiên cứu khoa học thần kinh: một sự kiện tâm lý, như sợ hãi, không được tạo ra bởi duy nhất một bộ neuron cụ thể. Thay vào đó, sự kết hợp của nhiều neuron khác nhau có thể tạo ra nhiều phân mục sợ hãi. Các nhà khoa học thần kinh gọi nguyên tắc này là sự thoái hóa (degeneracy). Sự thoái hóa có nghĩa là “nhiều thành một”: nhiều sự kết hợp từ các neuron có thể tạo ra một kết quả giống nhau. Trong nhiệm vụ lập bản đồ dấu vân tay cảm xúc trong não, sự thoái hóa là một bài kiểm tra thực tại đáng xấu hổ.

Phòng nghiên cứu của tôi đã quan sát sự thoái hóa khi quét não những tình nguyên viên. Chúng tôi đã đưa cho họ những bức ảnh gợi liên tưởng, với chủ đề như nhảy dù và những xác chết đẫm máu, và hỏi họ cảm thấy cơ thể bị kích thích như thế nào. Cả đàn ông và phụ nữ đều báo cáo một mức độ kích thích giống nhau, và não bộ của họ đều gia tăng hoạt động ở hai vùng: thùy chẩm (anterior insula) và vỏ não thị giác sớm (early visual cortex). Tuy nhiên, cảm giác kích thích của phụ nữ thì liên kết chặt chẽ hơn với vùng thùy chẩm, trong khi não của đàn ông thì kết nối mạnh hơn với vỏ não thị giác. Đây là bằng chứng cho thấy cùng một trải nghiệm - cảm giác kích thích – sẽ liên quan đến các mô hình hoạt động thần kinh khác nhau, một ví dụ về sự thoái hóa.

Một thứ đáng ngạc nhiên khác cùng với sự thoái hóa mà tôi học được khi được huấn luyện trở thành một nhà khoa học thần kinh, là có nhiều phần trong não bộ phục vụ cho nhiều hơn một mục tiêu duy nhất. Não bộ bao gồm nhiều hệ thống cốt lõi tham gia vào quá trị tạo ra các trạng thái tâm lý đa dạng. Một hệ thống cốt lõi đơn lẻ có thể đóng vai trò quan trọng trong suy nghĩ, ghi nhớ, quyết định, nhìn, nghe, và trải nghiệm và nhận biết nhiều cảm xúc khác nhau. Một hệ thống cốt lõi là “một thành nhiều”: một vùng não đơn lẽ, hoặc một mạng lưới não bộ đơn lẽ tham gia vào nhiều trạng thái tâm lý. Ngược lại, quan điểm cổ điển về cảm xúc cho rằng mỗi phần não cụ thể sẽ có một chức năng tâm lý cụ thể, “một thành một”. Do đó, các hệ thống cốt lõi là phản đề của dấu vân tay thần kinh.

Nói rõ hơn, tôi không nói rằng mọi neuron trong não đều có cùng một chức năng, và tôi cũng không nói rằng mọi neuron đều có thể thay thể cho nhau. (Quan điểm này được gọi là thế năng tương đương (equipotentiality), và nó đã bị bác bỏ từ lâu.) Tôi đang nói rằng, hầu hết các neuron đều đa chức năng, đóng nhiều hơn một vai trò, cũng giống như trứng và bột mì trong bếp của bạn có thể tham gia vào nhiều công thức nấu ăn khác nhau.

Sự tồn tại của các hệ thống cốt lõi được thiết lập thông qua mọi phương pháp thí nghiệm trong khoa học thần kinh, nhưng các kỹ thuật hình ảnh não quan sát bộ não hoạt động là nơi có thể dễ dàng nhận thấy chúng nhất. Phương pháp phổ biến nhất được gọi là chụp cộng hưởng từ chức năng (fMRI), có thể quét mà không gây hại đến não người sống, khi họ đang trải nghiệm hoặc nhận biết các cảm xúc của nhau, nó ghi lại những thay đổi trong tín hiệu từ tính liên quan đến việc kích hoạt các tế bào thần kinh.

Các nhà khoa học dùng fMRI để tìm kiếm dấu vân tay cảm xúc trong não bộ. Các nhà nghiên cứu lý luận rằng nếu một đốm màu cụ thể của mạch não cho thấy mạch não này bị kích hoạt trong một cảm xúc cụ thể, thì đó sẽ là bằng chứng cho thấy đốm màu đó đã đo lường cảm xúc. Ban đầu, các nhà khoa học đã tập trung máy móc vào hạch hạnh nhân và xem liệu nó có nắm giữ dấu vân tay thần kinh cho nỗi sợ hãi hay không. Một bằng chứng quan trọng đến từ các đối tượng thí nghiệm đã xem ảnh của cái gọi là nét mặt sợ hãi từ phương pháp cảm xúc cơ bản khi họ đang ở trong máy quét não. Hạch hạnh nhân của họ tăng mức độ hoạt động so với khi học xem những gương mặt có biểu cảm bình thường.

Tuy nhiên, khi tiếp tục nghiên cứu, một số điều khác thường đã xuất hiện. Đúng, hạch hạnh nhân có tăng cường hoạt động thật, nhưng chỉ trong những tình huống nhất định, như khi đôi mắt trong bức ảnh đó nhìn trực diện vào người xem. Nếu đôi mắt đó nghiêng sang một bên, các neuron trong hạch hạnh nhân hầu như không thay đổi mức độ hoạt động của nó. Tương tự, nếu đối tượng thí nghiệm xem bức ảnh khuôn mẫu sợ hãi hết lần này đến lần khác, thì hoạt động của hạch hạnh nhân giảm dần đi. Nếu hạnh hạch nhân thực sự là nơi ở của mạch thần kinh sợ hãi, thì sự thích nghi này sẽ không xảy ra – mạch thần kinh này nên luôn bị cưỡng chế kích hoạt bất kỳ khi nào nó gặp phải một thứ gây “sợ hãi”. Từ những kết quả mâu thuẫn này, tôi cảm thấy rõ ràng – và các nhà khoa học khác cũng cảm thấy như vậy – là hạch hạnh nhân không phải là ngôi nhà của nỗi sợ hãi trong não bộ.

Năm 2008, phòng nghiên cứu của tôi cùng với nhà thần kinh học Chris Wright đã chứng minh tại sao hạch hạnh nhân lại tăng hoạt động để phản ứng với những bức ảnh biểu hiện sợ hãi của cảm xúc cơ bản. Nó tăng cường hoạt động để phản ứng với bất kỳ gương mặt nào – dù là sợ hãi hay bình thường – miễn đó là một gương mặt mới (nghĩa là gương mặt mà người tham gia thí nghiệm chưa nhìn thấy bao giờ). Bởi vì cấu hình khuông mặt sợ hãi với đôi mắt mở to trong phương pháp cảm xúc cơ bản hiếm khi xuất hiện trong đời thường, chúng mới mẻ đối với các đối tượng thí nghiệm khi họ nhìn thấy chúng trong các thí nghiệm quét hình ảnh não bộ. Những phát hiện này, và nhiều phát hiện tương tự, đã cung cấp một lời giải thích khác cho những thí nghiệm ban đầu, mà không cần xem hạch hạnh nhân là vùng não của sự sợ hãi.

Hơn hai thập kỷ trước, với quỹ đạo tiến tới rồi rút lui, cùng với các bằng chứng và phản chứng nối tiếp nhau, đã xảy ra trong nghiên cứu trên mọi vùng não vốn đã từng được xác định là dấu vân tay thần kinh của một cảm xúc. Vì thế, phòng thí nghiệm của tôi đã tiến hành nghiên cứu để tìm giải đáp cho câu hỏi rằng liệu có bất kỳ đốm màu nào trong não thực sự là dấu vân tay cảm xúc hay không. Chúng tôi đã kiểm tra tất cả những nghiên cứu hình ảnh thần kinh về sự giận dữ, sự ghê tởm, niềm vui, sự sợ hãi và nỗi buồn, và kết hợp tất cả những thứ có thể sử dụng được về mặt thống kê trong phân tích tổng hợp. Gộp chung lại, chúng ta có gần 100 nghiên cứu đã được công bố liên quan đến gần 1.300 đối tượng thử nghiệm trong gần 20 năm.

Để hiểu được lượng dữ liệu khổng lồ này, chúng tôi đã chia não người ra thành từng khối nhỏ gọi là voxel – pixel dạng 3-D. Sau đó, chúng tôi kiểm tra tất cả các voxel của não bộ trong tất cả các thí nghiệm về tất cả các cảm xúc, chúng tôi ghi nhận xem liệu rằng có voxel nào bị kích hoạt trong thí nghiệm hay không. Bây giờ chúng tôi có thể tính toán xác suất mà mỗi voxel sẽ gia tăng hoạt động khi người ta trải nghiệm hoặc nhận thức mỗi một cảm xúc. Khi xác suất này cao hơn mức ngẫu nhiên, chúng tôi sẽ kết luận rằng nó có ý nghĩa về mặt thống kê.


Phân tích tổng hợp toàn diện của chúng tôi không tìm thấy bằng chứng nào giúp củng cố quan điểm cổ điển về cảm xúc. Ví dụ, hạch hạnh nhân đã cho thấy sự gia tăng hoạt động nhất quán đối với các nghiên cứu về nỗi sợ hãi, nhiều hơn mức ngẫu nhiên mà bạn có thể dự đoán, nhưng điều này chỉ xảy ra trong một phần tư các nghiên cứu về trải nghiệm sự sợ hãi và khoảng 40% các nghiên cứu về nhận thức sự sợ hãi. Những con số này không đủ để tạo ra một dấu vân tay thần kinh như trông đợi. Không chỉ như vậy, mà hạch hạnh nhân còn cho thấy rằng nó tăng hoạt động một cách nhất quán trong các nghiên cứu về sợ hãi, ghê tởm, buồn bã, và niềm vui, chỉ ra rằng dù hạch hạnh nhân có vai trò gì đối với một số phân mục của sự sợ hãi, thì nó cũng có vai trò tương tự với những phân mục cảm xúc khác.

Điều thú vị hơn là, hoạt động trong hạch hạnh nhân cũng tăng lên như vậy trong những sự kiện không được xem là liên quan đến cảm xúc, ví dụ như khi bạn cảm thấy đau đớn, khi bạn học thứ gì đó mới, gặp những người mới, hay khi bạn quyết định. Có thể nó cũng đang gia tăng hoạt động khi bạn đọc những chữ này. Thực tế, mỗi một vùng được cho là tạo ra cảm xúc trong não bộ cũng có thể liên quan tới việc tạo ra những sự kiện phi cảm xúc, như suy nghĩ hay nhận thức.

Nói chung, chúng tôi đã phát hiện ra rằng không có vùng não bộ nào chứa dấu vân tay cho bất kỳ cảm xúc nào. Các dấu vân tay cũng biến mất khi bạn xét đến nhiều vùng liên kết tức thời (mạng lưới não bộ), hoặc khi dùng điện để kích thích các neuron riêng lẻ. Kết quả tương tự cũng diễn ra trong các thí nghiệm với các loài động vật được cho là có mạch thần kinh cảm xúc, chẳng hạn như khỉ và chuột. Cảm xúc nảy sinh từ việc kích hoạt các neuron, nhưng không có neuron nào là độc quyền riêng riêng cho duy nhất một cảm xúc. Đối với tôi, những phát hiện này là chiếc đinh cuối cùng và chắc chắn để đóng nắp quan tài cho việc xác định vị trí của cảm xúc trong các bộ phận riêng lẻ của não bộ.

Cho đến nay, tôi hy vọng bạn đã nhận ra rằng người ta đã có một quan điểm sai lầm đối với cảm xúc trong một thời gian dài. Có nhiều nghiên cứu tuyên bố rằng đã xác định được dấu vân tay thể chất giúp phân biệt được một cảm xúc từ những cảm xúc khác. Tuy nhiên, nhưng nghiên cứu ủng hộ này chỉ chiếm số ít so với một số lượng lớn hơn rất nhiều những nghiên cứu không ủng hộ quan điểm cổ điển.

Một vài nhà khoa học có lẽ sẽ nói rằng những nghiên cứu chống lại quan điểm này đều sai; nói cho cùng, có thể rất khó khăn khi tiến hành thí nghiệm trên cảm xúc. Một số khu vực trong não bộ rất khó quan sát. Nhịp tim bị ảnh hưởng bởi tất cả những yếu tố không liên quan gì đến cảm xúc – như việc đối tượng thí nghiệm đêm hôm trước ngủ có ngon không, sáng nay họ có uống cà phê không, và khi thí nghiệm thì họ đang đứng, ngồi hay nằm. Việc làm cho các đối tượng thí nghiệm trải nghiệm cảm xúc theo chủ đề cũng là một thách thức. Cố gắng khơi gợi nỗi kinh hoàng hoặc sự tức giận sôi sục trong não là phạm quy: tất cả các trường đại học đều có Hội đồng Xét duyệt Thể chế để ngăn những người như tôi gây ra quá nhiều đau đớn về mặt tinh thần cho những tình nguyện viên vô tội.

Nhưng thậm chí khi xem xét tất cả những điều lưu ý này, thì vẫn có quá nhiều thí nghiệm khiến quan điểm cổ điển trở nên đáng nghi ngờ, nhiều hơn mức mà chúng ta có thể trông đợi dù là ngẫu nhiên, hoặc thậm chí do các thí nghiệm không đủ chất lượng. Các thí nghiệm EMG khuôn mặt đã mô tả rằng người ta chuyển động các cơ mặt chuyển động theo nhiều cách khác nhau, chứ không phải một cách nhất quán, khi họ cảm nhận một phân mục trong danh mục cảm xúc giống nhau. Phân tích tổng hợp rộng đã kết luận rằng một danh mục cảm xúc đơn lẻ bao gồm nhiều phản xạ cơ thể khác nhau, chứ không phải một phản xạ đơn lẻ và nhất quán. Các mạch thần kinh não bộ hoạt động theo nguyên tắc nhiều-thành-một của sự thoái hóa: các phân mục trong một danh mục cảm xúc đơn lẻ, như sợ hãi, được quản lý bởi các vùng não bộ khác nhau ở các thời điểm khác nhau và trong những người khác nhau. Ngược lại, các neuron giống nhau có thể tham gia tạo ra nhiều trạng thái tâm lý khác nhau (một-thành-nhiều).

Tôi hy vọng là bạn đã nắm bắt được khuôn mẫu ở đây: đa dạng mới là điều bình thường. Dấu vân tay cho cảm xúc chỉ là một huyền thoại.

Nếu chúng ta thực sự muốn hiểu được cảm xúc, chúng ta phải nghiêm túc xem xét đến sự đa dạng đó. Chúng ta phải nhận định rằng một từ ngữ chỉ cảm xúc, như “giận dữ”, không liên quan đến một phản xạ cụ thể với một dấu vân tay thể chất riêng biệt, mà nó liên quan tới một nhóm các phân mục phong phú được buộc chặt vào những tình huống cụ thể. Những gì chúng ta thường gọi là cảm xúc, chẳng hạn như tức giận, sợ hãi và hạnh phúc, tốt hơn nên được coi là các danh mục cảm xúc, bởi vì mỗi loại là một tập hợp các phân mục đa dạng. Cũng giống như việc các phân mục trong danh mục “Cocker Spaniel” rất đa dạng về thuộc tính vật lý (chiều dài đuôi, chiều dài mũi, độ dày lớp lông, tốc độ chạy, v.v.) nhiều hơn mức mà gene có thể tạo ra, do đó, các phân mục của “sự giận dữ” có thể rất phong phúc trong biểu hiện thể chất (chuyển động cơ mặt, nhịp tim, hormones, âm thanh, hoạt động thần kinh, v.v.) và sự biến đổi này có thể liên quan đến môi trường hoặc ngữ cảnh.

Khi bạn đã nắm bắt được cách suy nghĩ của sự đa dạng và tư duy quần thể, bạn sẽ tìm ra lời giải thích phù hợp hơn cho cái gọi là dấu vân tay cảm xúc. Đây là một ví dụ về ý tôi muốn nói. Một số nhà khoa học bằng các kỹ thuật từ trí thông minh nhân tạo, có thể đào tạo một chương trình phần mềm để nhận diện rất nhiều bản quét não của những người trải qua các cảm xúc khác nhau (ví dụ như tức giận và sợ hãi). Các chương trình này sẽ tính toán một khuôn mẫu thống kê tóm tắt mỗi danh mục cảm xúc và sau đó – đây là phần hay đây – có thể thực sự phân tích các mẫu quét mới và xác định liệu chúng gần giống với mẫu tóm tắt về sự giận dữ hay về nỗi sợ hãi hơn. Kỹ thuật này, hãy gọi nó là phân loại khuôn mẫu, hoạt động tốt đến nỗi đôi khi nó được gọi là “máy đọc suy nghĩ.”

Một vài người trong số các nhà khoa học này tuyên bố rằng các tóm tắt mang tính thống kê đã mô tả các dấu vân tay thần kinh cho sự giận dữ và nỗi sợ hãi. Nhưng đây là một lỗi lô-gic lớn. Khuôn mẫu thống kê cho sự sợ hãi không phải là một trạng thái não bộ thực sự, mà nó chỉ là một bảng tóm tắt tổng quát cho nhiều phân mục của nỗi sợ hãi. Những nhà khoa học đang nhầm lẫn con số trung bình mang tính toán học với nguyên tắc chung.

Tôi và các đồng nghiệp đã ứng dụng phân loại khuôn mẫu này trong việc phân tích tổng quát các nghiên cứu quét não liên quan đến cảm xúc. Một chương trình máy tính học cách phân loại các hình quét từ khoảng 150 nghiên cứu khác nhau. Chúng tôi đã phát hiện ra các khuôn mẫu trong não bộ có thể dự đoán tốt hơn mức ngẫu nhiên, cho dù đối tượng thí nghiệm đang trải nghiệm cảm giác giận dữ, ghê tởm, sợ hãi, vui vẻ hay buồn bã. Tuy nhiên, những khuôn mẫu này không phải là dấu vân tay cảm xúc. Ví dụ, những khuôn mẫu cho giận dữ, bao gồm một tập hợp các voxel xuyên suốt não bộ, nhưng khuôn mẫu này không nhất thiết sẽ xuất hiện trong hình ảnh quét não của một cá nhân riêng lẻ khi họ giận dữ. Khuôn mẫu này chỉ là một tóm tắt tổng quát. Thật ra, không có bất kỳ một voxel riêng lẻ nào xuất hiện trong tất cả những hình quét não trong phân mục giận dữ.

Khi được ứng dụng một cách đúng đắn, phân loại khuôn mẫu là một ví dụ của tư duy quần thể. Như bạn có thể nhớ lại rằng một giống loài là một tập hợp nhiều cá nhân khác nhau, vì thế chỉ có thể tóm tắt nó bằng những thuật ngữ thống kê. Bản tóm tắt là một phần trừu tượng không tồn tại trong tự nhiên — nó không mô tả bất kỳ thành viên riêng lẻ nào của loài. Khi nói về cảm xúc, trong những tình huống khác nhau và trong những người khác nhau, những sự kết hợp neuron khác nhau có thể tại ra nhiều phân mục của một danh mục cảm xúc như giận dữ. Thậm chí là khi bạn cảm thấy hai trải nghiệm giận dữ là giống nhau, chúng có thể có những khuôn mẫu khác nhau thông qua sự thoái hóa. Nhưng chúng ta vẫn có thể tóm lược nhiều phân mục giận dữ khác nhau để - theo thuật ngữ trừu tượng - tạo ra cách giúp chúng ta có thể phân biệt chúng với những phân mục khác nhau của nỗi sợ hãi. (Tương tự: không có hai chó giống Labrador Retrievers nào giống hệt nhau, nhưng chúng ta đều có thể phân biệt được chúng với giống chó Golden Retrievers.)

Quá trình tìm kiếm dấu vân tay trên khuôn mặt, cơ thể và não bộ đã đưa tôi đến một nhận thức mà tôi không ngờ tới - rằng chúng ta cần một lý thuyết mới về việc cảm xúc là gì và chúng đến từ đâu. Trong các chương tiếp theo, tôi sẽ giới thiệu với bạn lý thuyết mới này, lý thuyết này sẽ giải thích cho tất cả những phát hiện của quan điểm cổ điển cũng như tất cả những điểm mâu thuẫn mà bạn vừa thấy. Bằng cách vượt lên trên khái niệm về dấu vân tay và theo dõi các bằng chứng, chúng ta sẽ tìm những hiểu biết hơn và hợp lý hơn về mặt khoa học, không chỉ về cảm xúc mà còn về bản thân chúng ta.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét