Chương 8
Một Quan Điểm Mới Về Bản Chất Con Người
Lý thuyết kiến tạo cảm xúc
không chỉ là một lời lý giải hiện đại cho cách thức tạo thành cảm xúc. Nó cũng
là đại sức cho một quan điểm hoàn toàn khác về ý nghĩa của việc là một con người.
Quan điểm này nhất quán với nghiên cứu gần đây của khoa học thần kinh. Nó cũng
cho phép bạn kiểm soát cảm xúc và hành vi của mình nhiều hơn so với quan điểm cổ
điển, và nó có ý nghĩa sâu sắc đối với cách sống của bạn. Bạn không phải là một
loài động vật chỉ biết phản xạ, được thiết lập để phản ứng với những sự kiện xảy
ra ở thế giới ngoài. Khi nói về trải nghiệm và nhận thức, bạn nắm quyền kiểm
soát nhiều hơn bạn nghĩ. Bạn dự đoán, kiến tạo, và hành động. Bạn là kiến trúc
sư của trải nghiệm của chính bạn.
Một quan điểm thuyết phục
khác về bản chất con người đến từ quan điểm cổ điển về cảm xúc. Nó đã tồn tại
hàng nghìn năm và hiện nay vẫn còn là nền tảng trong luật pháp, chữa trị, và
các yếu tố quan trọng trong xã hội. Hai quan điểm này trên thực tế đã gây chiến
với nhau xuyên suốt bề dày lịch sử. Trong những trận chiến trước đây, quan điểm
cổ điển về bản chất con người đã luôn được ưu tiên với những lý do mà chúng ta
sắp nói tới. Nhưng hiện nay, khi chúng ta đang ở giữa công cuộc tiến hóa của
trí óc và bộ não, khoa học thần kinh hiện đại đã cung cấp cho chúng ta các công
cụ để giải quyết mâu thuẫn này, và dựa trên những bằng chứng thuyết phục, quan
điểm cổ điển đã thua cuộc.
Trong chương này, tôi sẽ
đưa ra những quan điểm mới về bản chất loài người được biểu thị bởi lý thuyết
kiến tạo cảm xúc và so sánh nó với các ý tưởng truyền thống liên quan với quan
điểm cổ điển. Tôi cũng sẽ giới thiệu với bạn một thủ phạm mờ ám đã khiến cho
quan điểm cổ điển nổi bật trong một thời gian dài, cố thủ trong khoa học và văn
hóa, bất chấp một loạt các bằng chứng trái ngược.
Hầu hết chúng ta đều nghĩ
về thế giới bên ngoài như những thực thể tách rời với chúng ta. Các sự kiện xảy
ra “bên ngoài” thế giới, và bạn phản xạ với chúng “bên trong” não bộ.
Tuy nhiên, trong lý thuyết
kiến tạo cảm xúc, đường chia cắt giữa não bộ và thế giới bên ngoài là rất mờ ảo,
thậm chí là không tồn tại. Các hệ thống cốt lõi trong não của bạn kết hợp với
nhau theo nhiều cách khác nhau để kiến tạo nên các nhận thức, ký ức, suy nghĩ,
cảm xúc, và các trạng thái tâm lý khác. Bạn đã trải nghiệm điều này với bức ảnh
con ong từ những đốm màu, khi bạn nhìn thấy các hình dạng không thực sự tồn tại,
điều này đã chứng mình rằng bộ não của bạn đã định hình thế giới thông qua việc
mô phỏng. Bộ não của bạn đã tạo ra một cơn bão gồm những dự đoán, mô phỏng các
kết quả của những dự đoán này như thế chúng thực sự tồn tại, và kiểm tra và chỉnh
sửa các dự đoán này dựa trên thông tin cảm giác đầu vào thực sự. Trong quá
trình này, các dự đoán cảm thụ nội tại của bạn tạo ra cảm xúc cảm tính, tác động
đến mọi hành động mà bạn thực hiện, và xác định xem bạn đang quan tâm đến phần
nào trong thế giới bên ngoài (ngách cảm tính của bạn). Không có cảm thụ nội tại,
bạn sẽ không chú ý đến hoặc quan tâm tới môi trường vật chất xung quanh hay bất
kỳ thứ gì khác, và bạn sẽ không thể sống sót lâu dài. Cảm thụ nội tại cho phép
não bạn kiến tạo môi trường mà bạn sống.
Trong khi não bộ của bạn định
hình thế giới, thế giới bên ngoài cũng đang giúp bạn thiết lập não bộ. Khi bạn
còn là trẻ sơ sinh, ngập chìm trong thông tin cảm giác đầu vào, thế giới bên
ngoài đã gieo vào đầu bạn những khái niệm đầu tiên, khi não của bạn cài đặt các
thực tại từ thế giới vật chất xung quanh bạn vào chính nó. Đó là cách mà bộ não
của các em bé được thiết lập để nhận ra khuôn mặt con người. Khi não bộ phát
triển và bạn bắt đầu học các từ ngữ, não bộ của bạn lại tự thiết lập thế giới
xã hội vào chính nó, và bạn bắt đầu tạo ra những khái niệm thuần tinh thần như
“những thứ có thể bảo vệ bạn không bị côn trùng cắn” hay “nỗi buồn”. Những khái
niệm từ văn hóa của bạn trông có vẻ như chỉ tồn tại ở thế giới bên ngoài, nhưng
thực ra, chúng được kiến tạo từ hệ thống khái niệm của bạn.
Trong quan điểm này, văn
hóa không phải mà thứ sương mờ không định hình vây quanh bạn. Nó giúp bạn thiết
lập bộ não, và bạn cư xử theo những cách nhất định giúp thiết lập bộ não của thế
hệ tiếp theo. Ví dụ như, nếu một nền văn hóa quy định rằng những người có màu
da nhất định ít đáng giá hơn, thì thực tại xã hội này sẽ ảnh hưởng về mặt thể
chất đối với nhóm người này: họ có mức lương thấp hơn và con cái của họ có điều
kiện sống và dinh dưỡng kém hơn. Những yếu tố này thay đổi cấu trúc não bộ của
con cái họ và tệ hơn, khiến việc đến trường trở nên khó khăn hơn, và từ đó khiến
trẻ em kiếm được ít tiền hơn trong tương lai.
Các kiến tạo của bạn không
phải là tùy ý – não bộ của bạn (và trí óc mà nó tạo ra) phải liên kết với các mẩu
thông tin thực tại chịu trách nghiệm để giữ bạn sống còn và khỏe mạnh. Sự kiến
tạo không thể làm một bức tường cứng trở nên không cứng nữa (trừ phi bạn có
năng lực siêu nhiên), nhưng bạn có thể vẽ lại bản đồ thế giới, định nghĩa lại
hôn nhân, và quyết định xem ai đáng giá và ai thì không. Gene của bạn cho bạn một
bộ não có thể tự thiết lập chính nó vào môi trường xã hội và môi trường vật lý,
và những thành viên khác trong văn hóa của bạn kiến tạo môi trường này cùng với
bạn. Cần hơn một bộ não để tạo thành một trí óc.
Lý thuyết kiến tạo cảm xúc
cũng dẫn đường cho một lối suy nghĩ mới về trách nhiệm cá nhân. Giả sử bạn đang
nổi giận với sếp bạn và nổi giận một cách bốc đồng, dộng tay của bạn lên bàn và
mắng ông ta là “đồ ngu”. Quan điểm cổ điển có thể đổ lỗi cho mạch thần kinh giận
dữ giả định, giúp bạn phần nào giảm bớt trách nhiệm của mình, thì lý thuyết kiến
tạo sẽ nối dài phạm vi trách nhiệm vượt ra khỏi khoảnh khắc gây tổn hại. Não bộ
của bạn có tính dự đoán, chứ không phải tính phản xạ. Các hệ thống cốt lõi của
nó luôn luôn giúp bạn đoán trước điều sắp xảy ra, từ đó giúp bạn sống sót.
Do đó, các hành động của bạn,
và những dự đoán khởi phát những hành động đó, được định hình bằng các trải
nghiệm quá khứ của bạn (các khái niệm) dẫn tới khoảnh khắc đó. Bạn dộng tay lên
bàn bởi vì bộ não đã dự đoán về một phân mục giận dữ, thông qua khái niệm “giận
dữ”, và các trải nghiệm quá khứ của bạn (dù là trải nghiệm trực tiếp, từ phim
hay từ sách, v.v.) có một hành động là dộng tay lên bàn trong tình huống tương
tự.
Như bạn có thể nhớ rằng, mạng
lưới kiểm soát của bạn liên tục định hình các dự đoán và lỗi dự đoán của bạn để
chọn lựa giữa nhiều hành động, dù là bạn đang cảm thấy mình có nắm quyền kiểm
soát hay không. Mạng lưới này chỉ có thể hoạt động với các khái niệm mà bạn có.
Vì thế, câu hỏi về trách nhiệm sẽ trở thành: bạn có chịu trách nhiệm cho các
khái niệm của mình không? Tất nhiên là không phải toàn bộ. Khi còn nhỏ, bạn
không thể lựa chọn các khái niệm mà người ta đặt vào đầu bạn. Nhưng khi trưởng
thành, bạn hoàn toàn có thể lựa chọn những thứ xung quanh mình và do đó, lựa chọn
thứ mà bạn học hỏi – thứ tạo ra các khái niệm sẽ dẫn dắt hành động của bạn, dù
là có cố ý hay không. Vì thế, “trách nhiệm” nghĩa là lựa chọn một cách cẩn thận
để thay đổi khái niệm của bạn.
Như một ví dụ thực tế, hãy
chọn bất kỳ cuộc xung đột kéo dài nào trên thế giới: người Israel đấu với người
Palestine, người Hutus với người Tutsis, người Bosnia với người Serb, người
Sunni đấu với người Shia. Trước hết, tôi muốn nói rằng không có bất kỳ một
thành viên nào của những nhóm này có lỗi vì sự giận dữ mà họ dành cho nhau, bởi
vì những mâu thuẫn này đã tồn tại từ nhiều thế hệ trước. Nhưng ngày nay, mỗi một
cá nhân đều phải chịu một phần trách nhiệm nào đó cho việc tiếp diễn những mâu
thuẫn này, bởi vì mỗi phần đều có thể
thay đổi các khái niệm của họ, từ đó thay đổi hành vi của họ. Không có một mâu
thuẫn cụ thể nào được tạo ra bởi quá trình tiến hóa. Các mâu thuẫn kéo dài là
do các hoàn cảnh xã hội đã thiết lập bộ não của những cá nhân tham gia vào mâu
thuẫn. Ai đó phải chịu trách nhiệm
thay đổi những hoàn cảnh và khái niệm này. Vậy ai sẽ làm điều đó, nếu không phải
là chính bản thân họ?
Để làm rõ điều này, một
nghiên cứu khoa học cung cấp một số hy vọng sơ bộ. Các nhà nghiên cứu đã huấn
luyện một nhóm người Israel nghĩ về những sự kiện tiêu cực, như việc người
Palestine phóng tên lửa và bắt cóc binh lính Israel, và sau đó tái phân loại những
sự kiện này ít tiêu cực hơn. Những người được huấn luyện sau đó không những đã
trở nên ít giận dữ hơn mà họ còn thể hiện sự ủng hộ lớn hơn cho các chính sách
hòa bình và giải pháp hòa giải, như cung cấp y tế cho người Palestine, và học
cũng ít ủng hộ những chiến thuật gây hấn với những người Palestine sống ở dãy
Gaza. Xung quanh nỗ lực gần đây của người Palestine để trở thành thành viên của
Liên hợp quốc, khóa đào tạo về phân loại lại này khiến người tả ủng hộ việc từ
bỏ quyền kiểm soát an ninh đối với các khu vực lân cận ở Đông Jerusalem để đổi
lấy hòa bình hoàn toàn và ít ủng hộ các chính sách hạn chế như cấm người
Palestine sử dụng hệ thống y học của người Israel. Những thay đổi sau này vẫn tồn
tại trong vòng năm tháng sau khi huấn luyện.
Nếu bạn lớn lên trong một
xã hội đầy ắp sự thù ghét, thì không thể đổ lỗi cho bạn trong việc có những
khái niệm thù ghét liên quan, nhưng là một người trưởng thành, bạn có thể chọn
lựa phương pháp giáo dục chính mình và học hỏi thêm những khái niệm bổ sung.
Đây chắc chắn không phải là một công việc dễ dàng, nhưng chúng ta có thể làm được.
Đây là một cơ sở khác cho tuyên bố của tôi: “Bạn là kiến trúc sư cho trải nghiệm
của chính mình.” Bạn thực sự phải chịu trách nhiệm phần nào cho hành động của
chính mình, thậm chí là cho những thứ được gọi là phản xạ cảm xúc mà bạn trải
nghiệm ngoài tầm kiểm soát. Bạn có trách nhiệm phải học hỏi những khái niệm –
thông qua dự đoán - khiến bạn tránh khỏi những hành động gây hại. Bạn cũng phải
chịu trách nhiệm cho người khác, vì các hành động của bạn đã định hình các cảm
xúc và hành vi của người khác, tạo ra một môi trường tác động đến gene và thiết
lập bộ não, bao gồm bộ não của thế hệ tiếp theo. Thực tại xã hội chỉ ra rằng
chúng ta đều có trách nhiệm phần nào đối với hành vi của người khác, không phải
theo kiểu lông bông, đổ lỗi cho xã hội mà là theo cách rất thật liên quan đến
thiết lập bộ não.
Khi tôi là một nhà trị liệu,
tôi đã làm việc với một cô gái ở độ tuổi đang học đại học, khi còn nhỏ, cô ấy
đã bị chính bố mẹ của mình lạm dụng. Tôi thường giúp các khách hàng của mình hiểu
rằng họ đã bị nạn nhân hóa tới hai lần: một lần ở thời điểm bị hại, và một lần
những khi họ phải tự giải quyết những tổn thương tinh thần của mình. Bởi vì tổn
thương của họ, bộ não của họ tiếp tục định hình một thế giới thù địch, ngay cả
khi họ đã trốn chạy để đến một thế giới tốt đẹp hơn. Đó không phải là lỗi của họ
khi bộ não của họ được thiết lập để tạo ra một môi trường độc hại đặc biệt.
Nhưng mỗi người phụ nữ đều là người duy nhất có thể chuyển đổi hệ thống khái niệm
của chính mình và khiến mọi thứ tốt đẹp hơn. Đó là hình thái của trách nhiệm mà
tôi đang nói đến. Đôi khi, trách nhiệm nghĩa là bạn là người duy nhất có thể
thay đổi mọi thứ.
Và bây giờ, chúng ta bàn đến
câu hỏi về nguồn gốc loài người. Chúng ta đã quen nghĩ rằng chúng ta là đích đến
cuối cùng của một hành trình tiến hóa lâu dài. Lý thuyết kiến tạo cảm xúc thì
có một quan điểm cân bằng hơn. Chọn lọc tự nhiên không nhằm mục đích hướng đến
chúng ta. Chúng ta chỉ là một giống loài khác có những khả năng thích nghi cụ
thể giúp chúng ta truyền lại bộ gene của mình cho thế hệ tiếp theo. Những động
vật khác đã tiến hóa nhiều năng lực mà chúng ta không biết, nhưng bật xa và leo
tường, đó là lý do tại sao chúng ta rất thích các siêu anh hùng như Spider-Man.
Loài người rõ ràng là loài giỏi nhất trong việc tạo ra tên lửa đi đến các hành
tinh khác, và phát minh cũng như thực thi luật pháp tồn tại trong trí óc chúng
ta và ra lệnh cho cách mà chúng ta đối xử với nhau. Có thứ gì đó trong bộ não
con người đã cho chúng ta những năng lực độc đáo này, nhưng “thứ gì đó” không
nhất thiết là những mạch thần kinh tinh vi và riêng lẻ dành riêng cho tên lửa và
việc thực thi luật pháp – hoặc, cảm xúc – và được truyền xuống từ những tổ tiên
phi nhân loại.
Một trong những khả năng
thích nghi đáng chú ý nhất là bạn không cần phải mang theo toàn bộ vật chất di
truyền để tạo ra các thiết lập trong bộ não của bạn. Điều này thực sự quá đắt đỏ,
nói về mặt sinh học. Thay vào đó, bạn có những gene cho phép bộ não của bạn
phát triển trong bối cảnh của những bộ não xung quanh bạn thông qua văn hóa.
Cũng giống như việc một bộ não đơn lẻ lấy lợi thế từ sự thoái hóa, nén thông
tin vào những điểm giống và khác nhau, nhiều bộ não cũng lấy lợi thích từ những
sự thoái hóa của nhau (rằng chúng ta ở cùng một nền văn hóa và chúng ta học hỏi
cùng những khái niệm giống nhau), và thiết lập lẫn nhau. Kết quả là, sự tiến
hóa đã cải thiện tính hiệu quả của nó thông qua văn hóa loài người, và chúng ta
truyền văn hóa cho con cháu mình bằng cách thiết lập bộ não của chúng.
Não người, từ mức độ vĩ mô
đến mức độ vi mô, được tổ chức để biến đổi và thoái hóa. Trong những mạng lưới
tương tác với nhau của bộ não, các cụm neuron chỉ độc lập một phần và chúng chứa
chung nhiều thông tin một các hiệu quả. Sự sắp xếp này cho phép các quần thể
neuron liên tục thay đổi để hình thành và giải thể trong thời gian tính bằng
mili giây, để các neuron đơn lẻ có thể tham gia vào các cấu trúc khác nhau
trong các tình huống khác nhau, mô hình hóa một thế giới biến đổi liên tục và
chỉ có thể dự đoán được phần nào. Các dấu vân tay thần kinh không có chỗ đứng
trong một môi trường năng động như vậy. Nếu loài người chỉ thừa kế được một tập
hợp các mô-đun thần kinh, thì sẽ là vô cùng thiếu hiệu quả khi chúng ta sống
trong những môi trường có tính chất địa lý và xã hội rất khác nhau. Bộ não con
người tiến hóa để tạo ra những loại trí óc khác nhau, phù hợp với các môi trường
khác nhau. Chúng ta không còn một bộ não phổ quát tạo ra một trí óc phổ quát để
tuyên bố là chúng ta là cùng một loài.
Nói chung, lý thuyết kiến
tạo cảm xúc là một lời giải thích được tạo ra từ nền tảng sinh học và mang tính
tâm lý học cho việc bạn là một con người. Nó bao gồm cả quá trình tiến hóa và
văn hóa. Bạn được sinh ra với bộ não được thiết lập và xác định bởi gene của bạn,
nhưng môi trường xung quanh bạn có thể tắt đi một số gene và bật mở một số gene
khác, cho phép não bộ của bạn tự thiết lập chính mình dựa trên các trải nghiệm
của bạn. Não bộ của bạn được định hình bởi các thực tại trong thế giới của bạn,
bao gồm thế giới xã hội được tạo nên bởi sự đồng thuận của mọi người. Trí óc của
bạn là một sự kết hợp rộng lớn mà bạn không ý thức được. Thông qua việc kiến tạo,
bạn nhận thức thế giới bên ngoài bởi chính nhu cầu, mục đích và các trải nghiệm
trước đây của bạn (giống như với bức hình con ong từ những đốm màu), chứ không
phải bởi bất kỳ một giác quan chính xác một cách khách quan nào cả. Và bạn
không phải là đỉnh cao của sự tiến hóa, bạn chỉ là một loài động vật vô cùng
thú vị có những khả năng đặc biệt.
So với quan điểm cổ điển,
lý thuyết kiến tạo cảm xúc đã cung cấp một cái nhìn rất khác về bản chất loài
người. Các ý tưởng từ quan điểm cổ điển về nguồn gốc tiến hóa của chúng ta,
trách nhiệm cá nhân của chúng ta, và mối quan hệ của chúng ta với thế giới bên
ngoài vốn đã thống trị văn hóa phương Tây từ hàng ngàn năm trước. Để hiệu được
quan điểm cũ về bản chất loài người này, và lý do tại sao nó tồn tại lâu như vậy,
chúng ta hãy bắt đầu với Charles Darwin – cũng giống như cách mà các câu chuyện
khoa học hay làm.
Vào năm 1872, Darwin xuất
bản cuốn sách Biểu hiệu Cảm xúc ở Người
và Động vật, trong cuốn sách này, ông viết rằng các cảm xúc được truyền xuống
cho chúng ta, chúng không thay đổi xuyên suốt các thế hệ, từ tổ tiên động vật của
chúng ta. Do đó, theo Darwin, các cảm xúc ở loài người hiện đại được tạo ra từ
những phần cổ đại trong hệ thống thần kinh của chúng ta, và mỗi cảm xúc đều có dấu
vân tay nhất quán và cụ thể.
Mượn một thuật ngữ từ triết
học, Darwin đã nói rằng mỗi một cảm xúc đều có một “tinh chất” (essence). Nếu các phân mục của nỗi buồn xuất hiện với
vẻ mặt phụng phịu và nhịp tim chậm, thì dấu vân tay “phụng phịu và nhịp tim chậm”
có thể là tinh chất của nỗi buồn. Ngoài ra, cốt lõi có thể là một tác nhân bên
trong khiến tất cả các phân mục của phân mục nỗi buồn trở thành cảm xúc “buồn
bã”, ví dụ như một tập các neuron. (Tôi sẽ dùng từ “cốt lõi” để nói về cả hai
khả năng này.)
Niềm tin về cốt lõi được gọi
là chủ nghĩa tinh chất (essentialism).
Nó giả định rằng một số danh mục nhất định - nỗi buồn và nỗi sợ hãi, chó và
mèo, người Mỹ gốc Phi và người Mỹ gốc Âu, đàn ông và phụ nữ, thiện và ác - mỗi
loại đều có một thực tại hoặc bản chất thực sự. Trong mỗi một danh mục, các
thành viên được cho là có chung một tính chất sâu bên trong (một tinh chất) khiến
cho chúng trở nên giống nhau, thậm chí là khi chúng có một số điểm khác biệt bề
ngoài. Có nhiều chủng loại chó với nhiều kích thước, hình dáng, màu sắc, dáng
đi, tính khí, v.v., nhưng những khác biệt này chỉ được coi là vẻ bề ngoài so với
các tinh chất có chung trong tất cả các loài chó. Một con chó sẽ không bao giờ
là một con mèo.
Tương tự, tất cả các loại
của quan điểm cổ điển đều xem những cảm xúc như nỗi buồn và sợ hãi có những tinh
chất khác nhau. Ví dụ như, nhà khoa học thần kinh Jaak Panksep đã viết rằng tinh
chất của một cảm xúc là mạch thần kinh ở những vùng trong vỏ não của bạn. Nhà
tâm lý học tiến hóa Steven Pinker viết rằng các cảm xúc cũng giống như các cơ
quan thần kinh, có chức năng riêng biệt giống như các cơ quan trọng cơ thể, và tinh
chất của một cảm xúc là một tập hợp các gene. Nhà tâm lý học tiến hóa Leda
Cosmides và nhà tâm lý học Paul Ekman giả định rằng mỗi một cảm xúc đều có một tinh
chất mang tính bẩm sinh và không nhìn thấy được, mà họ gọi là chúng là một
“chương trình” ẩn dụ. Phiên bản quan điểm cổ điển của Ekman, được gọi là lý
thuyết cảm xúc cơ bản, giả định rằng các tinh chất cho hạnh phúc, buồn bã, sợ
hãi, ngạc nhiên, giận dữ và ghê tởm được kích thích một cách tự động bởi các vật
thể và các sự kiện trong thế giới. Một phiên bản khác, được gọi là lý thuyết thẩm
định cổ điển, chèn một bước bổ sung giữa bạn và thế giới, nói rằng bộ não của bạn
trước tiên phán đoán (“đánh giá”) tình huống và quyết định xem có kích hoạt cảm
xúc hay không. Tất cả các phiên bản của quan điểm cổ điển đều đồng ý rằng mỗi
loại cảm xúc có một dấu vân tay riêng biệt; họ chỉ bất đồng về bản chất của các
tinh chất.
Chủ nghĩa tinh chất chính
là thủ phạm đã khiến cho quan điểm cổ điển trở nên vô cùng khó đánh bại. Nó đã
khuyến khích người ta tin rằng các giác quan của họ đã tiết lộ những giới hạn
khách quan trong tự nhiên. Người ta tranh luận rằng, bởi vì hạnh phúc và buồn
bã khác nhau về bề ngoài lẫn và cảm giác bên trong, vì vậy chúng phải có những tinh
chất khác nhau trong bộ não. Người ta hầu như luôn không ý thức được rằng họ
đang tinh chất hóa; họ không nhận ra rằng họ đang dùng chính bàn tay của mình để
điêu khắc nên những đường nét trong thế giới tự nhiên.
Niềm tin của Darwin về các
tinh chất cảm xúc, như đã đề cập trong cuốn sách Biểu hiệu Cảm xúc, đã giúp đưa quan điểm cổ điển hiện đại về cảm
xúc trở nên nổi bật. Thành tựu khoa học vĩ đại nhất của ông, được nhà sinh vật
học tiến hóa Ernst Mayr tóm tắt một cách độc đáo, là giải phóng sinh học khỏi
“sự kìm kẹp tê liệt của chủ nghĩa tinh chất”. Tuy nhiên, về mặt cảm xúc, Darwin
đã tạo ra một lập trường khó giải thích trong suốt mười ba năm sau đó khi viết
cuốn sách Biểu hiệu Cảm xúc, một cuốn
sách đánh đố với chủ nghĩa tinh chất. Khi làm điều này, ông ấy đã từ bỏ những đổi
mới đáng chú ý của mình và quay trở lại guồng quay tê liệt của chủ nghĩa bản chất,
ít nhất là khi có liên quan đến cảm xúc.
Bạn thấy đó, trước khi lý
thuyết của Darwin từ cuốn sách Nguồn Gốc
(Origin) trở nên nổi tiếng vào thế kỷ 19, chủ nghĩa tinh chất đã thống trị
vương quốc động vật. Mỗi giống loài đều được cho là sở hữu một hình thái lý tưởng
được tạo ra bởi Thượng Đế, với những tính chất xác định (tinh chất) giúp phân
biệt chúng với các giống loài khác (mỗi một giống loài đều có những tinh chất của
riêng chúng). Sự lệch lạc so với lý tưởng được xem là do lỗi hoặc do tình cờ.
Hãy nghĩ về điều này như một phiên bản sinh học của “cuộc thi chó” (dog show).
Một cuộc thi chó, trong trường hợp bạn chưa từng thấy qua, là một cuộc thi để
xác nhận xem đâu là chú chó “tốt nhất” trong một nhóm các đối thủ. Những chú
chó không cạnh tranh trực tiếp với nhau nhưng chúng được các giám khảo so sánh
với một chú chó lý tưởng giả định để xem chú chó nào gần giống với chú chó giả
định này nhất. Ví dụ như, khi đánh giá Golden Retriever, các giám khảo sẽ so
sánh các thí sinh với hình ảnh lý tưởng của chó Golden Retriever. Chú chó này
có chiều cao thích hợp không? Các chi có cân xứng không? Mõm có thẳng, kết hợp
nhuần nhuyễn với hộp sọ không? Bộ lông có phải là một lớp vàng dày đặc, bóng bẩy
không? Bất kỳ sự khác biệt nào so với con chó lý tưởng được coi là lỗi, và con
chó có số lỗi nhỏ nhất sẽ thắng. Tương tự, những nhà tư duy có ảnh hưởng ở thế
kỷ 19 xem thế giới như những sinh vật sống của một cuộc thi chó lớn. Nếu bạn
nhìn một con Golden Retriever và quan sát thấy sải chân của nó dài hơn mức
trung bình, thì sải chân của nó là quá
dài khi so sánh với mức lý tưởng, hoặc thậm chí là nó có một sải chân sai lệch
so với mức lý tưởng.
Và sau đó là tới Darwin,
người đã tranh luận rằng sự đa dạng trong một giống loài – ví dụ như độ dài sải
chân – không phải là lỗi. Thay vào đó, sự đa dạng này có thể dự đoán được và
liên quan một cách đầy ý nghĩa với môi trường của loài vật. Mỗi một quần thể
Golden Retriever đều có độ dài sải chân rất đa dạng, hỗ trợ cho việc chạy, leo
trèo và săn bắt. Những cá thể với sải chân phù hợp với môi trường sống của nó sẽ
sống lâu hơn và sinh nhiều con hơn. Đây là lý thuyết tiến hóa của Darwin từ cuốn
Nguồn Gốc, được biết đến với cái tên
chọn lọc tự nhiên và thỉnh thoảng cũng được gọi là “sự sống sót của người phù hợp
nhất” (survival of the fittest). Đối với Darwin, mỗi giống loài đều là một danh
mục khái niệm – một quần thể các cá thể độc đáo khác biệt với nhau và không có
bất kỳ một tinh chất nào. Không tồn tại một chú chó lý tưởng: chỉ có một bảng
tóm tắt mang tính thống kê đến từ nhiều chú chó khác nhau. Không có đặc tính
nào là cần thiết, đầy đủ, hay thậm chí là điển hình cho mỗi một cá thể trong quần
thể. Quan sát này – được biết tới với tên gọi tư duy quần thể - là trung tâm của
thuyết tiến hóa của Darwin.
Tư duy quần thể dựa trên
tính đa dạng, trong khi chủ nghĩa tinh chất dựa trên tính tương đồng. Hai ý tưởng
này về cơ bản là không hề tương thích với nhau. Do đó, Nguồn Gốc lại thành tựu vĩ đại nhất của mình bằng cách
viết cuốn Biểu hiện Cảm xúc khi nói về
cảm xúc.
Cũng không kém phần khó hiểu,
chưa kể đến việc khá là mỉa mai, khi quan điểm cổ điền về cảm xúc lại dựa trên
chính chủ nghĩa tinh chất, thứ khiến Darwin trở nên nổi tiếng khi đã đánh bại
nó trong sinh học. Quan điểm cổ điển tự dán nhãn “tiến hóa” cho chính mình và
giả định rằng các cảm xúc và biểu hiện cảm xúc đều là sản phẩm của chọn lọc tự
nhiên, nhưng trong chọn lọc tự nhiên lại hoàn toàn vắng bóng tư duy về cảm xúc
của Darwin. Bất kỳ quan điểm nào liên quan đến chủ nghĩa tinh chất tự bọc mình
trong cái áo khoát của Darwin đều cho thấy một hiểu lầm nghiêm trọng về những ý
tưởng trung tâm về tiến hóa của Darwin.
Sức mạnh thuyết phục của
thuyết bản chất đã dẫn Darwin đến một số ý tưởng đẹp đẽ một cách kỳ cục về cảm
xúc. Ông viết trong cuốn Biểu hiện Cảm
xúc rằng, “Ngay cả côn trùng cũng thể hiện sự giận dữ, khủng khoảng, ghen tị,
và tình yêu” khi chúng chà sát cơ thể vào nhau để tạo ra âm thanh. Lần tới khi
bạn đuổi theo một con ruồi trong nhà bếp của mình, hãy nghĩ về điều này. Darwin
cũng viết rằng sự mất cân bằng cảm xúc có thể gây rối tóc.
Chủ nghĩa tinh chất không
chỉ mạnh mẽ mà còn lây lan. Niềm tin khó hiểu của Darwin vào những tinh chất nhất
quán của cảm xúc vẫn tồn tại sau khi ông qua đời và làm sai lệch di sản của các
nhà khoa học nổi tiếng khác. Trong quá trình này, quan điểm cổ điển về cảm xúc
đã được tạo ra động lực. Ví dụ quan trọng nhất là của William James, người mà
nhiều người cho là cha đẻ của tâm lý học Mỹ. James có thể không phải là cái tên
quen thuộc như Darwin, nhưng ông ấy đơn giản là một người khổng lồ về trí tuệ.
Cuốn sách 1,200 trang Các nguyên tắc Tâm
lý học của ông đã bao quát hầu hết các ý tưởng quan trọng nhất của tâm lý học
phương Tây, và sau hơn một thế kỷ, nó vẫn là nền tảng cho lĩnh vực này. Tên của
ông được đặt cho giải thưởng cao quý nhất dành cho các nhà khoa học, được trao
bởi Hiệp hội Khoa học Tâm lý: Giải thưởng William James và tòa nhà tâm lý học của
Harvard được đặt tên là Tòa nhà William James.
Câu nói của James được
trích dẫn rộng rãi, rằng: mỗi một loại cảm xúc – vui vẻ, sợ hãi, v.v – đều có một
dấu vân tay riêng biệt trong cơ thể. Ý tưởng mang tính tinh chất này là tính chất
quan trọng của quan điểm cổ điển, và hàng thế hệ những nhà nghiên cứu được ảnh
hưởng bởi James đã tìm kiếm những dấu vân tay này trong các nhịp tim, hơi thở,
huyết áp, và những dấu vết cơ thể khác (và đã viết ra một vài cuốn sách bán chạy
về cảm xúc). Câu nói của James rất bắt tai, tuy nhiên: ông chưa bao giờ nói như
thế. Lời tuyên bố được tin tưởng rộng rãi này xuất phát từ một cách hiểu sai
các từ ngữ mà ông đã nói thông qua lăng kính của chủ nghĩa tinh chất trong suốt
một trăm năm.
Điều mà James thực sự đã
viết là mỗi phân mục cảm xúc, không
phải mỗi danh mục cảm xúc, đều đến từ một trạng thái cơ thể độc nhất. Đây là một
câu nói hoàn toàn khác biệt. Có nghĩa là, bạn có thể run rẩy khi sợ hãi, nhảy
lên khi sợ hãi, đông cứng khi sợ hãi, la hét khi sợ hãi, thở nhanh khi sợ hãi,
trốn khi sợ hãi, tấn công khi sợ hãi, và thậm chí là cười khi sợ hãi. Mỗi sự thể
hiện sợ hãi liên qua đến một tập hợp các thay đổi nội tại và các cảm giác khác
nhau. Sự hiểu sai cổ điển về những lời James viết đã thay đổi 180 độ ý nghĩa của
nó, như thể ông đang tuyên bố sự tồn tại của các tinh chất cảm xúc, trong khi,
mỉa mai thay, ông đang chống lại chúng. Trong câu nói của James, “sợ hãi” khi bị
ướt không giống với sợ hãi một con gấu.
Làm thế nào mà câu nói của
James đã bị hiểu lầm một cách một rộng rãi như thế? Tôi đã phát hiện ra một
trong những người cùng thời với James đã gieo rắc sự nhầm lẫn, đó là một triết
gia tên là John Dewey. Ông này đã đưa ra lý thuyết về cảm xúc của riêng mình bằng
cách ghép các quan điểm về chủ nghĩa tinh chất của Darwin từ cuốn sách Biểu hiện Cảm xúc với các ý tưởng chống
chủ nghĩa cốt yếu của James, mặc dù chúng về cơ bản không hề tương thích với
nhau. Kết quả là, Dewey đã tạo ra một con quái vật Frankenstein về lý thuyết đi
ngược ý của James bằng cách gán cho mỗi danh mục cảm xúc một tinh chất. Và để
chốt lại lý thuyết của mình, Dewey đặt tên công thức pha chế của mình theo tên
James, gọi nó là “lý thuyết James-Lange về cảm xúc.” Ngày nay, người ta đã quên
vai trò của Dewey trong mớ bòng bong này, và vô số các ấn phẩm xuất bản của ông
bị cho là liên quan đến James. Một ví dụ nổi bật là các bài viết của nhà thần
kinh học Antonio Damasio, tác giả của Lỗi
của Descartes (Descartes ’Error)
và những cuốn sách phổ biến khác về cảm xúc. Đối với Damasio, một dấu vân tay
thể chất riêng biệt của một cảm xúc – thứ mà ông gọi là điểm đánh dấu soma
(somatic marker) – là một nguồn thông tin mà bộ não sử dụng để tạo ra những quyết
định đúng đắn. Những điểm đánh dấu này giống như những mảnh trí tuệ tí nhỏ. Theo
Damasio, các trải nghiệm cảm xúc xuất hiện khi các điểm đánh dấu soma được chuyển
thề thành các cảm xúc ý thức. Giả thuyết của Damsio chính là đứa con của sự hợp
nhất James-Lange, không phải từ quan điểm thực tế của James về cảm xúc.
Sự hiểu nhầm của Dewey về
quan điểm của James là một trong những lỗi lớn trong tâm lý học hiện đại, được
tôi luyện bởi chủ nghĩa tinh chất dưới tên Darwin. Điều này thật mỉa mai – nếu
không muốn nói là bi kịch một cách phi lý, khi tên của Darwin được viện dẫn để
tạo uy tín cho các quan điểm khoa học mang tính tinh chất, khi thành tựu khoa học
lớn nhất của ông là đánh bại chủ nghĩa tinh chất trong sinh học.
Vậy thì, tại sao chủ nghĩa
tinh chất lại mạnh mẽ đến mức nó có thể vặn vẹo lời nói của các nhà khoa học vĩ
đại và định hướng sai con đường khám phá khoa học?
Lý do đơn giản nhất chính
là vì chủ nghĩa tinh chất rất trực quan. Chúng ta trải nghiệm cảm xúc của chính
mình dưới dạng phản xạ tự động, vì thế, chúng ta dễ dàng tin rằng những cảm xúc
này được sinh ra từ những phần não chuyên dụng cổ đại. Chúng ta cũng nhìn thấy
các cảm xúc trong những cái chớp mắt, trong những hàng chân mày cau lại và từ
những cơ co thắt khác, và chúng ta nghe thấy cảm xúc từ cao độ và âm thanh của
những giọt nói, mà không cần phải tốn chút công sức nào. Do đó, chúng ta dễ
dàng tin rằng tự nhiên đã thiết kế chúng ta để chúng ta có thể nhận ra các biểu
hiện cảm xúc và lập trình chúng ta để chúng ta phản ứng với nó. Tuy nhiên, đó
là một kết luận đáng ngờ. Hàng triệu người trên khắp thế giới có thể nhận ra
Kermit the Frog ngay lập tức và dễ dàng, nhưng điều đó không có nghĩa là bộ não
của con người được thiết lập để nhận dạng Muppet. Chủ nghĩa tinh chất hứa hẹn về
những lời giải thích đơn giản với nguyên nhân đơn lẻ, và điều này phản ánh đúng
với nhận thức thông thường, trong khi, trên thực tế, chúng ta đang sống trong một
thế giới phức tạp.
Chủ nghĩa tinh chất cũng
khó mà bác bỏ được. Vì tinh chất có thể là một thứ tài sản không thể nhìn thấy
được, nên người ta tự do tin vào các tinh chất ngay cả khi họ không nhìn thấy
chúng. Có hàng tá lý do để giải thích tại sao một thí nghiệm không tìm ra một tinh
chất: “chúng ta chưa thể nhìn tất cả mọi nơi”, hoặc là “nó nằm trong phần cấu
trúc sinh học phức tạp mà chúng ta chưa nhìn tới”, hoặc “hiện nay các công cụ của
chúng ta không đủ mạnh để tìm thấy tinh chất, nhưng một ngày nào đó, chúng ta sẽ
tìm ra.” Những suy nghĩ đầy hy vọng này thật chân thành, nhưng về logic thì
chúng không thể chứng minh là sai được. Chủ
nghĩa thực chất tự tiêm nhiễm vào chính nó để chống lại các phản chứng. Nó cũng
đã thay đổi cách thực hành khoa học. Nếu các nhà khoa học tin vào một thế giới
đầy những tinh chất đang chờ được khám phá, thì họ đang cống hiến chính mình để
tìm những tinh chất này – một nhiệm vụ kéo dài vô tận.
Chủ nghĩa tinh chất dường
như cũng là một phần vốn có trong các tác phẩm tâm lý của chúng ta. Con người tạo
ra các danh mục bằng cách phát minh ra những điểm tương đồng thuần túy về tinh
thần, như bạn đã học trong chương 5, và chúng ta đặt tên cho các danh mục đó bằng
các từ ngữ. Đó là lý do tại sao một từ như "thú cưng" hoặc "buồn
bã" có thể áp dụng cho vô số các phân mục đa dạng. Các từ ngừ là những
thành tựu tuyệt vời, nhưng chúng cũng là cuộc mua bán đổi tinh thần lấy vật chất
(nguyên văn: Faustian bargain) đối với
bộ não con người. Một mặt, từ ngữ như “buồn bã”, khi áp dụng cho một tập hợp
các nhận thức đa dạng, đã khiến bạn tìm kiếm (hoặc phát minh ra) một số điểm
tương đồng bên trong – những điểm vượt lên trên các khác biệt đáng lưu ý của
chúng. Có nghĩa là, từ “buồn bã” đã dẫn dắt bạn, khiến bạn tạo ra một khái niệm
cảm xúc – đây là mặt tốt. Nhưng cũng chính từ ngữ khiến bạn tin vào lý do cho sự tương đồng: rằng có một
tính chất sâu sắc, không thể nhìn thấy được hoặc thậm chí là chúng ta không thể
biết được, đã tạo ra sự tương đương và danh tính thực cho chúng. Có nghĩa là,
các từ ngữ khiến bạn tin vào một cố lõi, và chúng ta có thể hình dung được quá
trình này đã trở thành nguồn gốc tâm lý học của chủ nghĩa tinh chất như thế
nào. Hơn một thế kỷ trước, William James đã có một quan sát tương tự, ông viết
rằng, “Bất cứ khi nào chúng ta tạo ra một từ ngữ… để biểu thị một nhóm hiện tượng
nhất định, chúng ta có xu hướng giả định một thực thể vững chắc tồn tại bên
trên các hiện tượng, trong trường hợp này, các từ ngữ sẽ trở thành tên gọi."
Chính từ ngữ khiến chúng ta học được các khái niệm, và cũng chính từ ngữ đã lừa
chúng ta tin rằng các danh mục của chúng phản ánh các ranh giới vững chắc về bản
chất.
Các nghiên cứu về trẻ em
đã mô tả cách thức mà não người kiến tạo nên niềm tin vào các tinh chất. Một
nhà khoa học đã cho một đứa trẻ xem một hình trụ màu đỏ, gọi nó bằng một cái
tên vô nghĩa như “blicket” và chứng minh rằng nó có một chức năng đặc biệt là
thắp sáng một cỗ máy. Tiếp theo, người đó cho đứa trẻ xem thêm hai vật thể, một
hình vuông màu xanh lam mà nhà khoa học gọi là “blicket” và một hình trụ màu đỏ
khác không được gọi là “blicket”. Đứa trẻ chỉ dự đoán rằng hình vuông màu xanh
mới có thể thắp sáng cỗ máy, mặc dù nó có vẻ ngoài hoàn toàn khác biệt với món
“blicket” nguyên bản màu đỏ. Đứa trẻ cho rằng mỗi “blicket” chứa đựng một năng
lực nhân quả không nhìn thấy được giúp thắp sáng cỗ máy. Các nhà khoa học gọi
hiện tượng này là cảm ứng (induction), hiện tượng này là một cách vô cùng hiệu
quả mà bộ não dùng để mở rộng các khái niệm thông qua việc bỏ qua sự đa dạng.
Tuy nhiên, cảm ứng cũng thúc đẩy chủ nghĩa tinh chất. Khi còn nhỏ, mỗi khi bạn
nhìn thấy một người bạn ngồi sụp xuống đất, khóc lóc vì mất đồ chơi, và bạn
nghe người ta nói rằng đứa trẻ này đang buồn, não bộ của bạn suy ra rằng có một
năng lực nhân quả bên trong đứa trẻ tạo ra nỗi buồn, dáng ngồi sụp xuống, và
hành động khóc lóc. Bạn mở rộng niềm tin của mình vào tinh chất này đến như phân
mục khác như khi đứa trẻ phụng phịu, nổi cơn thịnh nộ, nghiến răng và những
hành vi khác, bởi vì người lớn đã dán nhãn cho chúng là buồn bã. Các từ ngữ chỉ
cảm xúc đã củng cố cho giả thuyết rằng những sự tương đồng mà chúng ta tạo ra
là có thật một cách khách quan, và đang chờ đợi để được khám phá.
Chủ nghĩa tinh chất cũng là
một kết quả tự nhiên đến từ thiết lập của bộ não. Hệ thống mạch thần kinh cho
phép bạn định hình các khái niệm và dự đoán, và cũng chính hệ thống mạch thần
kinh này khiến cho việc tinh chất hóa trở nên dễ dàng. Vỏ não của bạn học hỏi
các khái niệm bằng cách tách rời các điểm giống nhau khỏi các điểm khác nhau,
như bạn đã thấy trong chương 6. Nó tích hợp thông tin đến từ thị giác, thính
giác, cảm thụ nội tại và những vùng cảm giác khác, nén chúng thành các bảng tóm
tắt hiệu quả. Mỗi bảng tóm tắt giống như những tinh chất tưởng tượng, được não
của bạn phát minh ra để biểu thị sự giống nhau của một nhóm các phân mục từ quá
khứ của bạn.
Do đó, chủ nghĩa tinh chất
mang tính trực quan, không thể bác bỏ một cách logic, nó là một phần được sáng
tạo bởi tâm lý và thần kinh của chúng ta, và là một tai họa lâu dài trong khoa
học. Nó cũng là nền tảng cho ý tưởng cơ bản nhất trong quan điểm cổ điển, rằng
các cảm xúc có những dấu vân tay phổ quát. Chẳng trách sao quan điểm cổ điển lại
có sức bền lớn như vậy – nó được tạo năng lượng bởi một niềm tin hầu như không
thể thay đổi.
Khi bạn áp dụng chủ nghĩa tinh
chất vào lý thuyết cảm xúc, bạn sẽ tạo ra một thứ còn hơn là một học thuyết về
cách thức và lý do tại sao bạn có cảm xúc. Bạn sẽ tạo ra – vâng – một câu chuyện
thuyết phục về ý nghĩa tồn tại của loài người. Một lý thuyết cổ điển về bản chất
loài người.
Câu chuyện cổ điển bắt đầu
với các nguồn gốc tiến hóa của bạn. Người ta nói rằng, loài người cốt lõi là một
động vật. Bạn được cho là đã thừa kế những tinh chất trí óc đa dạng từ những tổ
tiên phi nhân loại của mình, bao gồm cả những tinh chất cảm xúc được chôn sâu
trong vỏ não của bạn. Trích lời Darwin, “Con người, với tất cả những phẩm chất
cao quý của mình. . . với trí tuệ như thần của mình. . . với tất cả những quyền
năng cao siêu này. . . vẫn mang trong cơ thể anh ta dấu ấn không thể xóa nhòa về
nguồn gốc thấp hèn của anh ta.” Tuy nhiên, quan điểm cổ điển xem bạn là đặc biệt
bởi vì các tinh chất thú vật của bạn được bao bọc trong tư duy lý trí. Người ta
cho rằng, tinh chất lý trí độc nhất của con người cho phép bạn điều chỉnh các cảm
xúc bằng các công cụ lý trí, đặt bạn lên đỉnh cao của vương quốc động vật.
Quan điểm cổ điển về bản
chất loài người cũng nói lên trách nhiệm cá nhân. Nó nói rằng các hành vi của bạn
được kiểm soát bởi các nguồn lực nội tại nằm ngoài kiểm soát của bạn: bạn bị cả
thế giới đấm túi bụi và phản ứng theo cảm xúc bốc đồng, giống như một ngọn núi
lửa đang phun trào hoặc một cái nồi đang sôi trào. Theo quan điểm này, đôi khi
các tinh chất cảm xúc của bạn và các tinh chất lý trí của bạn tranh giành quyền
kiểm soát hành vi của bạn, đôi khi hai hệ thống các tinh chất này hợp tác với
nhau và khiến bạn trở nên thông thái. Dù là cách nào, nếu bạn nương tay với những
cảm xúc mạnh mẽ và để nó chiếm đoạt bạn, thì kết luận là, bạn sẽ ít chịu trách
nhiệm cho hành động của mình hơn. Giả định này đang ngồi trên nền tảng của hệ
thống pháp luật phương Tây, những thứ được gọi là tội ác do quá khích được đối
đãi đặc biệt. Thêm vào đó, nếu bạn hoàn toàn không có cảm xúc, thì bạn được coi
là người có nhiều khả năng thực hiện các hành vi vô nhân đạo hơn. Người ta tin
rằng, một tên sát nhân hàng loạt không có cảm xúc hối hận thì ít con người hơn
so với một tên sát nhân cảm thấy hối hận sâu sắc về hành vi của anh ta. Nếu
đúng như vậy, thì đạo đức sẽ bắt nguồn từ khả năng cảm nhận những cảm xúc nhất
định của bạn.
Quan điểm cổ điển cũng vẽ
nên những ranh giới vững chắc giữa bạn và thế giới bên ngoài. Khi bạn nhìn xung
quanh bạn, bạn sẽ thấy những vật thể như cây cối, tảng đá, nhà cửa, rắn, và những
người khác. Những vật thể này tồn tại bên ngoài cơ thể bạn. Theo quan điểm này,
những cái cây khi ngã đổ sẽ tạo ra âm thanh bất kể bạn có ở đó hay không. Mặt
khác, các cảm xúc, suy nghĩ và nhận thức của bạn được cho là tồn tại bên trong
cơ thể bạn, mỗi thứ đều có tinh chất của riêng nó. Vì vậy, theo ngụ ý, tâm trí
của bạn sẽ hoàn toàn ở bên trong bạn và thế giới bên ngoài thì hoàn toàn ở bên
ngoài bạn.
Theo một nghĩa nào đó,
quan điểm cổ điển đã gạt bản chất con người ra khỏi tôn giáo và đặt nó vào tay
của sự tiến hóa. Bạn không còn là một linh hồn bất tử mà là một tập hợp các năng
lực nội tại chuyên biệt và riêng biệt. Khi đến với thế giới này, bạn đã được định
hình sẵn, không phải bởi bàn tay của Thượng Đế mà bởi bộ gene của bạn. Bạn nhận
thức thế giới này một cách chính xác, không phải vì Thượng Đế đã tạo ra bạn như
vậy, mà bởi vì các gene của bạn – những thứ đã sống sót để truyền lại cho thế hệ
sau – phụ thuộc vào điều đó. Và trí óc của bạn là một chiến trường, không phải
giữa thiện và ác, giữa đạo đức và tội lỗi, mà là giữa lý trí và cảm xúc, giữa vỏ
não và phần dưới vỏ não (cortex và subcortex), nguồn lực bên trong và bên
ngoài, tư duy trong não của bạn và cảm xúc trong cơ thể bạn. Với bộ não được bọc
trong vỏ não lý trí, bạn rất khác biệt so với những động vật khác trong tự
nhiên, không phải bởi vì bạn có một linh hồn mà là vì bạn đang ở đỉnh cao trong
chuỗi tiến hóa, được phú cho sự sáng suốt và lý trí.
Darwin là hiện thân của
quan điểm tinh chất của bản chất con người. Thậm chí mặc dù ông đã gạt bỏ chủ
nghĩa tinh chất ra khỏi hiểu biết của chúng ta về thế giới tự nhiên, nhưng khi
nói về vị trí của con người trong thế giới này, chủ nghĩa tinh chất lại đánh bại
ông. Cuốn sách Biểu hiện Cảm xúc bao
gồm cả ba phần trong quan điểm cổ điển về bản chất con người: rằng động vật và
con người đều có chung những tinh chất cảm xúc phổ quát, rằng cảm xúc có những
biểu hiện trên gương mặt và cơ thể mà con người không kiểm soát được, và rằng cảm
xúc bị kích thích bởi thế giới bên ngoài.
Tuy nhiên, trong những năm
sau đó, chủ nghĩa tinh chất của chính Darwin lại cắn ngược lại ông. Khi các hậu
duệ trí thức của Darwin áp dụng quan điểm của ông, định hình quan điểm cổ điển,
thì trớ trêu thay, họ lại hiểu sai (hoặc vặn vẹo?) những từ ngữ của chính ông để
phù hợp hơn với chủ nghĩa tinh chất.
Trong cuốn Biểu hiện Cảm xúc, Darwin thực sự đã nói
rằng loài người biểu hiện các biểu cảm trên gương mặt – những biểu cảm này đã
tiến hóa từ một tổ tiên chung:
Đối
với loài người, những biểu cảm như dựng tóc gáy khi kinh hoàng tột độ, hay để lộ
răng khi đang phẫn nộ tột cùng, khó mà lý giải được, trừ phi lý giải rằng con
người đã từng tồn tại dưới một hình thái thấp hơn nhiều – giống như động vật. Tập
hợp một số biểu cảm nhất định ở các loài đồng minh khác biệt với chúng ta, như
các chuyển động cơ mặt tương tự tạo ra nụ cười ở con người và ở các loài khỉ,
thì phần nào dễ hiểu hơn, nếu chúng ta tin vào một tổ tiên chung.
Thoạt nhìn, bạn có thể
nghĩ rằng Darwin đang nói rằng các biểu cảm gương mặt là những sản phẩm tiến
hóa hữu ích và có tác dụng, và, trên thực tế, quan điểm cố điển được hình tạo dựa
trên ý tưởng này. Tuy nhiên, điều mà Darwin nói thực sự là ngược lại. Ông viết
rằng nụ cười, nhăn mày, mở to mắt và những biểu cảm khác đều là những chuyển động
vô ích và có tính tàn tích từ thời xưa – những sản phẩm của quá trình tiến hóa
không còn có chức năng nào cả, như phần xương cụt của loài người và ruột thừa
và đôi cánh của loài đà điểu. Ông tuyên bố như vậy hàng tá lần trong cuốn Biểu hiện Cảm xúc. Các biểu hiện cảm xúc
chủ yếu là một ví dụ thuyết phục cho những lập luận rộng hơn của ông về sự tiến
hóa. Theo Darwin, nếu những biểu hiện cảm xúc này vô ích đối với con người,
nhưng con người lại có chung chúng với các động vật khác, thì hẳn là chúng phải
tồn tại, bởi vì với các tổ tiên chung xa xưa thì chúng có tác dụng. Các tàn
tích biểu cảm cung cấp bằng chứng mạnh mẽ rằng con người từng là động vật, biện
minh cho quan điểm trước đây của ông về chọn lọc tự nhiên trong cuốn Về nguồn gốc giống loài năm 1859, sau đó
ông đã ứng dụng sự tiến hóa của loài người vào cuốn sách tiếp theo, Nguồn gốc của con người, và sự Chọn lọc liên
quan đến tình dục, năm 1871.
Nếu Darwin không tuyên bố
rằng các biểu hiện cảm xúc phát triển để phục vụ chức năng sinh tồn, thì tại
sao nhiều nhà khoa học lại nhiệt thành tin rằng ông đã khẳng định điều này? Tôi
đã phát hiện ra câu trả lời trong các bản thảo của nhà tâm lý học người Mỹ đầu
thế kỷ 20, Floyd Allport, người đã viết rất nhiều về các ý tưởng của Darwin.
Vào năm 1924, Allport đã đưa ra một suy luận sâu rộng từ văn bản của Darwin làm
thay đổi đáng kể ý nghĩa ban đầu. Allport viết rằng các tàn tích biểu cảm xuất
hiện ở trẻ sơ sinh nhưng nhanh chóng tạo thành chức năng: “Thay vì là những phản
xạ hữu ích về mặt sinh học – vốn tồn tại ở tổ tiên và là tàn tích biểu cảm ở
con cháu, chúng tôi xem cả hai chức năng này đều có ở con cháu, chức năng đầu
liên tạo thành nền tảng cho sự phát triển của chức năng thứ hai.”
Sửa đổi của Allport đã thu
được tính xác thực và giá trị nhất định, mặc dù không chính xác, vì nó hỗ trợ
quan điểm cổ điển về bản chất con người. Nó đã được đón nhận một cách nhiệt
tình bởi các nhà khoa học có cùng quan điểm, những người tuyên bố rằng mình là
người thừa kế của Charles Darwin – người không thể bị công kích. Trên thực tế,
họ chỉ là người thừa kế của người đã làm lệch lạc Darwin (darwin-hacking):
Floyd Allport.
Như bạn có thể thấy, đôi
khi tên của Darwin được dùng như một chiếc áo khoát ma thuật có thể phủi sạch
các linh hồn quỷ dữ đến từ các phê bình khoa học. Nó đã cho phép Floyd Allport
và John Dewey chuyển những lời của chính William James và Darwin thành những lời
đối lập hoàn toàn với quan điểm thực sự của họ, và củng cố quan điểm cổ điển về
cảm xúc. Chiếc áo choàng có tác dụng bảo vệ, vì nếu bạn không đồng ý với ý tưởng
của Darwin, hẳn bạn đang phủ nhận sự tiến hóa. (Khỉ thật, bạn có thể là một nhà
sáng tạo tủ quần áo.)
Chiếc áo choàng ma thuật của
Darwin cũng giúp tuyên truyền ý tưởng sai lầm rằng bộ não tiến hóa như một chùm
đốm màu với các chức năng riêng biệt, chuyên dụng. Niềm tin cốt yếu của quan điểm
cổ điển này đã dẫn dắt nhiều nhà khoa học đi lên con đường tìm kiếm các đốm màu
trong não – một con đường không có kết quả. Con đường được mở ra bởi một bác sĩ
choàng chiếc khăn Darwin từ giữa thế kỷ 19, Paul Broca, người tuyên bố đã khám
phá ra khối não dành cho ngôn ngữ của con người. Ông quan sát thấy những bệnh
nhân bị tổn thương một vùng của thùy trán bên trái khiến không thể nói trôi chảy,
một tình trạng được gọi là nói không trôi chảy hoặc không diễn đạt được
(nonfluent or expressive aphasia). Khi một người mắc chứng aphasia của Broca cố
gắng nói điều gì có ý nghĩa, thì những từ ngữ họ phát ra lại lộn xộn: “Thứ năm,
ơ, ơ, ơ, không, ơ, thứ sáu… bar-ba-ra… vợ… và, ồ, xe…lái… purnpike…bạn
biết ... nghỉ ... và ... TV.” Broca cho rằng ông đã tìm ra tinh chất của ngôn
ngữ trong não, cũng như các nhà khoa học theo quan điểm cổ điển đã xem các tổn
thương trong hạch hạnh nhân là bằng chứng cho mạch thần kinh sợ hãi. Vùng này
được biết đến với cái tên vùng Broca kể từ đó.
Vấn đề là, Broca có rất ít
bằng chứng cho tuyên bố của mình, và các nhà khoa học khác có rất nhiều bằng chứng
cho thấy ông ta đã sai. Chẳng hạn, họ đã chỉ ra rằng những bệnh nhân khác mắc
chứng mất aphasia có vùng Broca hoàn toàn khỏe mạnh. Nhưng ý tưởng của Broca đã
thắng lợi vì nó được bảo vệ bởi chiếc áo choàng ma thuật của Darwin, được củng
cố bởi một liều thuốc từ chủ nghĩa tinh chất. Nhờ Broca, hiện nay các nhà khoa
học đã có một câu chuyện tiến hóa về nguồn gốc của ngôn ngữ - rằng nó được định
vị trong vỏ não “lý trí” - chống lại niềm tin phổ biến rằng ngôn ngữ là do Thượng
Đế ban cho. Những cuốn sách giáo khoa tâm lý học và thần kinh học hiện nay vẫn
giữ thông tin về vùng não Broca như một ví dụ rõ ràng nhất về việc định vị chức
năng não, thậm chí khi khoa học thần khi đã cho thấy rằng vùng này vừa không cần
thiết vừa không đầy đủ cho chức năng ngôn ngữ. Vùng não Broca thực sự là một thất bại trong việc định vị các chức
năng tâm lý vào một đốm não. Tuy nhiên, lịch sử đã được viết lại theo hướng có
lợi cho Broca, và đã mang lại sức mạnh cho những quan điểm tinh chất về bản chất
của tâm trí.
Broca và chiếc áo choàng
Darwin của ông đã tiếp tục củng cố cho câu chuyện hư cấu cổ điển rằng cảm xúc
và lý trí đã tiến hóa thành các lớp trong bộ não, điều mà bạn đã đọc được trong
chương 4 với cái tên “bộ não ba ngôi”. Broca được truyền cảm hứng từ các tuyên
bố của Darwin trong Nguồn gốc loài người,
rằng trí óc của loài người, cũng giống như cơ thể của loài người, được điêu khắc
từ tiến hóa. Darwin đã viết rằng “các động vật cũng bị kích thích bởi những cảm
xúc giống như chúng ta”, phỏng đoán rằng bộ não của con người, cũng như những bộ
phận cơ thế khác, đều phản ánh “nguồn gốc thấp kém” của chúng ta. Do đó, Broca
và những nhà thần kinh học và tâm lý học đã khởi phát một nghiên cứu rộng rãi để
tìm kiếm các mạch thần kinh cảm xúc thú tính – con quái vật bên trong chúng ta.
Họ tập turng vào cái mà họ tin là phần não cổ đại, những vùng có các mạch thần
kinh được cho là bị điều khiển bởi vỏ não tiến hóa tiên tiến hơn.
Broca đã định vị “con quái
vật bên trong” vào cái mà ông tin rằng chính là “đốm” nào cổ đại sâu bên trong
não người. Ông đặt tên cho nó là le grand
lobe limbique (vùng limbic lớn), hay “vùng não limbic”. Broca không coi
thùy não được cho là nơi chứa đựng cảm xúc (thực ra, ông ấy nghĩ nó là nơi chứa
đựng khứu giác và các mạch thần kinh sinh tồn nguyên thủy khác), nhưng ông ấy
đã coi các mô limbic như một thực thể thống nhất, duy nhất, đặt viên đá đầu
tiên trên con đường hướng tới việc tinh chất hóa nó trở thành ngôi nhà của cảm
xúc.Trong thế kỷ tiếp theo, thùy não limbic của Broca đã biến thành một “hệ thống
limbic” thống nhất cho cảm xúc, và được dẫn dắt bởi các tín đồ khác trong quan
điểm cổ điển. Thứ được gọi là hệ thống này được cho đã cũ về mặt tiến hóa; nó hầu
như không hề thay đổi chút nào từ phiên bản nguyên thủy của nó ở các động vật
có vú phi nhân loại; và nó kiểm soát trái tim, phổi, và nhiều cơ quan nội tạng
khác trong cơ thể. Người ta cho là nó nằm giữa hệ thống mạch thần kinh “bò sát”
cổ đại trong thân não (brainstem) – thứ kiểm soát và tạo ra cơn đói, cơn khát,
v.v, và những lớp vỏ não độc quyền của con người, thứ điều khiển các cảm xúc
thú tính trong con người. Hệ thống phân cấp ảo tưởng này thể hiện những ý tưởng
của Darwin về sự tiến hóa của con người — những ham muốn cơ bản phát triển trước
tiên, tiếp theo là những đam mê cảm xúc hoang dã, và cuối cùng là lý trí – thứ
vinh quang tột đỉnh của chúng ta.
Các nhà khoa học lấy cảm hứng
từ quan điểm cổ điển đã tuyên bố rằng họ đã định vị được nhiều cảm xúc khác
nhau trong các vùng não limbic, như hạch hạnh nhân, những vùng này nằm trong sự
kiểm soát của vỏ não và sự nhận thức. Tuy nhiên, khoa học thần kinh hiện đại đã
cho thấy rằng thứ được gọi là hệ thống limbic chỉ là một thứ hư cấu, và các
chuyên giá về tiến hóa não đã không còn xem trọng nó nữa, đấy là chưa nói đến
việc họ không xem nó là một hệ thống. Theo đó, nó không còn là ngôi nhà của cảm
xúc trong bộ não nữa, và điều này không hề đáng ngạc nhiên bởi vì không có một
vùng não đơn lẻ nào chuyên biệt cho cảm xúc. Từ “limbic” vẫn còn có ý nghĩa
(khi nói về giải phẫu nào), nhưng khái niệm về hệ thống limbic chỉ là một ví dụ
khác cho việc áp dụng hệ tư tưởng tinh chất mang màu sắc của Darwin vào cấu
trúc cơ thể và bộ não người.
Cuộc chiến của quan điểm cổ
điển và quan điểm kiến tạo trong vấn đề bản chất loài người đã diễn ra rất lâu
trước khi Broca tạo ra vùng não đầu tiên của ông ấy. Ở Hy Lạp cổ đại, Plato đã
chia tâm trí con người thành ba loại tinh chất: tư duy lý trí, đam mê (thứ mà
hiện nay chúng ta gọi là các cảm xúc), và các ham muốn như đói và kích thích
tình dục. Các tư duy lý trí nắm quyền kiểm soát các đam mê và ham muốn – sự sắp
đặt mà Plato mô tả giống như một người đánh xe đang điều khiển hai con ngựa có
cánh. Tuy nhiên, một trăm năm trước đó, người đồng hương của ông – Heralitus
(chương 2) đã lập luận rằng tâm trí con người kiến tạo nên các nhận thức trong
từng thời điểm, cũng giống như kiến tạo một con sông từ vô số những giọt nước. Trong
Triết học Phương Đông cổ đại, Phật giáo truyền thống đã liệt kê hơn năm mươi tinh
chất tinh thần rời rạc, được gọi là pháp
(dharmas), một số các pháp có nét
tương đồng rõ ràng với cái gọi là cảm xúc cơ bản của quan điểm cổ điển. Nhiều
thế kỷ sau, một sự sửa đổi triệt để của Phật giáo đã sửa đổi các pháp thành các kiến tạo của con người dựa
trên các khái niệm.
Từ những cuộc giao tranh đầu
tiên này, cuộc chiến giữa hai quan điểm đã tiếp diễn xuyên suốt chiều dài lịch
sử. Nhà khoa học thế kỷ 11 Ibn al-Haytham, người đã có những đóng góp to lớn
trong việc phát triển phương pháp khoa học, giữ quan điểm mang tính kiến tạo
rằng chúng ta nhận thức thế giới thông qua phán đoán và suy luận. Các nhà thần
học Cơ đốc giáo thời Trung cổ là những người theo chủ nghĩa tinh chất, họ liên
kết những tinh chất riêng biệt của trí nhớ, trí tưởng tượng và trí thông minh
vào các khoang não khác nhau. Các triết gia ở thế kỷ 17, như René Descartes và
Baruch Spinoza, tin vào các tinh chất cảm xúc và phân loại chúng, trong khi các
triết gia ở thế kỷ 18 như David Hume và Immanuel Kant thiên về những giải thích
mang tính kiến tạo và dựa trên nhận thức để lý giải trải nghiệm của con người.
Nhà giải phẫu thần kinh Franz Joseph Gall ở thế kỷ 19 đã sáng lập ra não tướng
học (phrenology), có lẽ là quan điểm tinh chất tối thượng về não bộ, để phát hiện
và đo lường các tinh chất tinh thần – xem chúng giống như những vết u trên hộp
sọ (!!). Sau đó ít lâu, William James và Wilhel Wundt tán thành các lý thuyết
kiến tạo của tâm trí; như James đã viết, "Một môn khoa học về mối quan hệ
của tâm trí và bộ não phải chỉ ra cách các thành phần cơ bản của cái trước
tương ứng với các chức năng cơ bản của cái sau." James và Darwin cũng là
những nạn nhân trong cuộc chiến về bản chất loài người này, khi quan điểm về cảm
xúc của họ đã bị “điều chỉnh” – có thể nói như vậy, và sự hư hại này đến từ những
nhà khoa học như Broca, người ta tuyên bố thắng lợi cho tiến hóa… hoặc ít nhất
là một loại tiến hóa mang tính tinh chất.
Các tinh chất tâm trí của
Plato hiện nay vẫn còn tồn tại, mặc dù tên gọi của chúng đã thay đổi (và chúng
ta đã giải phóng những con ngựa có cánh kia). Ngày nay, chúng ta gọi chúng là
các nhận thức, cảm xúc, và ý thức. Freud gọi chúng là cái ấy (id), ngã (ego),
và siêu ngã (superego). Nhà tâm lý học đoạt giải Nobel Daniel Kahneman đã gọi
chúng một cách ẩn dụ là Hệ thống 1 và Hệ thống 2. (Kahneman đã rất cẩn thận khi nói rằng nó là một ẩn dụ,
nhưng nhiều người có vẻ đã phớt lờ ông và đã tinh chất hóa Hệ thống 1 và 2
thành những vùng não.) “Bộ não ba ngôi” đặt cho chúng cái tên vùng não bò sát,
hệ thống limbic và tân vỏ não. Gần đây, nhà khoa học thần kinh Joshua Greene đã
dùng sự tương tự trực quan đến từ một chiếc máy ảnh – nó có thể hoạt động nhanh
chóng mà không tốn công sức thông qua chế độ cài đặt tự động, hoặc nó cũng có
thể hoạt động tinh tế hơn và linh hoạt hơn thông qua chế độ cài đặt bằng tay.
Ở phía đối lập, quan điểm
kiến tạo tâm trí cũng đã trở nên rất phong phú. Nhà tâm lý học kiêm tác giả
sách bán chạy Daniel L.Schacter đã có một lý thuyết kiến tạo về trí nhớ. Và bạn
có thể dễ dàng tìm thấy những lý thuyết kiến tạo về nhận thức, bản ngã, phát
triển khái niệm, phát triển não bộ (kiến tạo thần kinh – neuroconstruction), và
dĩ nhiên, lý thuyết kiến tạo cảm xúc.
Các trận chiến ngày nay đều
căng thẳng hơn vì mỗi bên đều có thể xem đối thủ của mình là bức tranh biếm họa.
Quan điểm cổ điển thường bác bỏ thuyết kiến tạo khi nói rằng mọi thứ đều tương
đối, như thế trí óc chỉ là một phiến đá trống rỗng và coi thường sinh học. Thuyết
kiến tạo phản bác quan điểm cổ điển vì đã bỏ qua những tác động mạnh mẽ của văn
hóa và biện minh cho hiện trạng. Trong tranh biếm họa, quan điểm cổ điển nói “tự
nhiên” (nature), còn thuyết kiến tạo thì nói “nuôi dưỡng” (nurture), và kết quả
là một trận vật lộn giữa các người rơm.
Tuy nhiên, khoa học thần
kinh hiện đại đã đốt trụi cả hai bảng biếm họa này. Chúng ta không phải là những
tảng đá trống rộng, và con cháu chúng ta không phải là món đồ chơi “Silly
Putty” định hình thay cách này hay cách kia, nhưng cả hai đều không phải là số
phận sinh học. Khi chúng ta quan sát một bộ não đang vận hành, chúng ta không
tìm thấy các mô-đun tâm trí. Chúng ta chỉ nhìn thấy các hệ thống cốt lõi đang
tương tác liên tục theo những phương thức phức tạp để sản sinh ra nhiều loại
tâm trí khác nhau, tùy thuộc vào văn hóa. Não người tự nó là một hiện vật văn
hóa vì nó được thiết lập bởi các trải nghiệm. Chúng ta có những gene được bật
lên hay tắt xuống bởi môi trường, và những gene khác điều chỉnh mức độ nhạy cảm
của chúng ta đối với môi trường. Tôi không phải là người đầu tiên nêu ra những
điều này. Nhưng có lẽ tôi là người đầu tiên nói về cách thức tiến hóa của não,
sự phát triển của não và kết quả giải phẫu của nó theo một hướng rõ ràng trong
khoa học về cảm xúc và quan điểm của chúng ta về bản chất con người.
Trớ trêu thay, cuộc chiến
tranh kéo dài hàng thiên niên kỷ về bản chất con người tự nó đã bị vấy bẩn bởi
chủ nghĩa tinh chất. Cả hai bên đều giả định rằng có một lực lượng siêu việt
đơn lẻ đã định hình bộ não và thiết kế tâm trí. Trong quan điểm cổ điển, lực lượng
này là tự nhiên, Thượng Đế, và sau đó là sự tiến hóa. Trong thuyết kiến tạo, nó
chính là môi trường và văn hóa. Nhưng cả sinh học lẫn văn hóa đều không thể
hoàn toàn làm được điều này một mình. Những người khác đã nói về điều này trước
tôi, nhưng đã đến lúc phải nghiêm túc xem xét lại. Chúng ta không biết chi tiết
về cách vận hành của não bộ và tâm trí, nhưng chúng ta đã biết đủ nhiều để nói
một cách khẳng định rằng thuyết quyết định sinh học hay thuyết quyết định văn
hóa đều không đúng. Ranh giới của làn da là nhân tạo và nó thủng lỗ chỗ. Như
Steven Pinker đã viết rất hay rằng, “Hỏi rằng liệu loại người có tính linh hoạt
hay đã được thiết lập, liệu rằng hành vi là phổ quát hay là khác biệt giữa các
nền văn hóa, liệu rằng các hành động là được học mà có hay bẩm sinh đã có, đơn
giản là những câu hỏi sai lầm.” Ma quỷ nắm ở trong các chi tiết, và các chi tiết
cho chúng ta lý thuyết kiến tạo cảm xúc.
Giờ đây, khi những chiếc
đinh cuối cùng đang được đưa vào quan tài của quan điểm cổ điển trong thời đại
khoa học thần kinh này, tôi muốn tin rằng, lần này, chúng ta sẽ thực sự gạt chủ
nghĩa tinh chất sang một bên và bắt đầu tìm hiểu về tâm trí và bộ não mà không
cần đến hệ tư tưởng. Đó là một suy nghĩ hay ho, nhưng lịch sử đã chống lại nó.
Lần cuối cùng thuyết kiến tạo chiếm ưu thế, cuối cùng nó đã thua trận và những
người theo thuyết kiến tạo đã biến mất trong mơ hồ. Trích dẫn theo một chương
trình khoa học viễn tưởng được yêu tính, Battestar
Galactica, “Và những điều đã xảy có thể sẽ xảy ra nữa.” Và kể từ trận chiến
cuối cùng đó, xã hội đã tiêu tốn hàn tỉ đô la, phí phạm vô số thời gian lẫn
công sức, và có những mạng sống thực sự đã bị mất.
Câu chuyện cảnh giác của
tôi bắt đầu vào đầu thế kỷ 20, khi các nhà khoa học lấy cảm hứng từ Darwin và
lý thuyết của người lai căng James-Lange để tìm kiếm tinh chất của sự giận dữ,
buồn bã, sợ hãi, v.v. trong vô vọng. Những thất bại lặp đi lặp lại của họ cuối
cùng đã đưa họ đến một giải pháp sáng tạo. Họ nói rằng nếu chúng ta không thể
đo lường cảm xúc trong cơ thể và não bộ, chúng ta sẽ chỉ đo lường những gì xảy
ra trước và sau: các sự kiện mang lại cảm xúc và các phản ứng cơ thể theo đó. Đừng
bận tâm về những gì đang xảy ra bên trong cái thứ ở giữa hộp sọ. Từ đó thời kỳ
lịch sử khét tiếng nhất trong tâm lý học bắt đầu, được gọi là chủ nghĩa hành vi (behaviorism). Cảm xúc
được tái định nghĩa là những hành vi đơn thuần để sinh tồn: chiến đấu
(fighting), chạy trốn (fleeing), kiếm ăn (feeding) và giao phối (mating), được
gọi chung là “bốn chữ F”. Đối với một nhà hành vi học, “hạnh phúc” tương đương
với mỉm cười, “buồn bã” tương đương với khóc, và “sợ hãi” tương đương với hành
động đóng băng tại chỗ. Và do đó, chỉ với một nét bút nhẹ nhàng, vấn đề nan giải
trong việc tìm ra dấu vân tay của cảm xúc đã được xác định là không tồn tại.
Các nhà tâm lý học thường
thường kể lại những câu chuyện về chủ nghĩa hành vi với giọng điệu ớn lạnh giống
như một câu chuyện ma quanh đống lửa trại. Nó tuyên bố rằng những suy nghĩ, cảm
xúc và phần còn lại của tâm trí không quan trọng đối với hành vi hoặc thậm chí
có thể không tồn tại. Trong “thời kỳ đen tối” của nghiên cứu cảm xúc kéo dài
vài thập kỷ này, không có gì (được cho là) đáng để khám phá về cảm xúc con người.
Cuối cùng, hầu hết các nhà khoa học đều bác bỏ chủ nghĩa hành vi bởi vì nó đã bỏ
qua một sự thật cơ bản: rằng mỗi chúng ta đều có một tâm trí, và trong mỗi khoảnh
khắc khi chúng ta thức giấc, chúng ta đều có các suy nghĩ và các cảm xúc và các
nhận thức. Những trải nghiệm này, và mối quan hệ của chúng với hành vi, phải được
giải thích bằng các thuật ngữ khoa học. Theo lịch sử chính thức, tâm lý học xuất
hiện trở lại từ bóng tối vào những năm 1960, như một cuộc cách mạng nhận thức,
và nó đã khôi phục tâm trí trở thành một chủ đề nghiên cứu khoa học, ví các tinh
chất cảm xúc với các mô-đun hoặc cơ quan trong tâm trí được cho là hoạt động giống
như một máy tính. Với sự chuyển đổi này, mẫu ghép cuối cùng của quan điểm cổ điển
hiện đại đã được ghép vào bức tranh hoàn chính, và hai hương vị chính của quan
điểm cổ điển — lý thuyết cảm xúc cơ bản và lý thuyết thẩm định cổ điển — chính
thức được bôi dầu (anoited).
Đó là những điều được kể
trong những cuốn sách sử… nhưng những cuốn sách sử thì được viết bởi người chiến
thắng. Lịch sử chính thức của việc nghiên cứu cảm xúc, từ Darwin đến James rồi
đến chủ nghĩa hành vi và sự cứu rỗi, là một sản phẩm phụ của quan điểm cổ điển.
Trên thực tế, thời kỳ đen tối bị cáo buộc bao gồm một loạt nghiên cứu chứng
minh rằng bản chất cảm xúc không tồn tại. Phải, cùng loại phản chứng mà chúng
ta đã thấy trong chương 1 đã được phát hiện ra trong hơn bảy mươi năm trước… và
sau đó bị quên lãng. Kết quả là, ngày nay chúng ta đang lãng phí một lượng lớn
thời gian và tiền bạc để tìm kiếm dấu vân tay cảm xúc một cách thừa thãi.
Tôi phát hiện ra điều này
một cách tình cờ trong năm 2006 khi đang dọn dẹp văn phòng của mình, khi tôi
tình cờ xem được một vài tờ báo cũ từ những năm 1930 khi nghiên cứu về cảm xúc
được cho là đã chết. Những bài báo này không nhấn mạnh chủ nghĩa hành vi. Họ
nói rằng các cảm xúc không có tinh chất sinh học. Lần theo dấu vết của các tài
liệu tham khảo, tôi đã khám phá ra một kho tàng hơn một trăm ấn phẩm, được viết
trong suốt năm mươi năm, mà hầu hết các đồng nghiệp khoa học của tôi chưa bao
giờ nghe nói đến. Các nhà văn là những nhà kiến tạo non trẻ, mặc dù họ không sử
dụng thuật ngữ đó. Họ đang thực hiện các thí nghiệm để tìm ra các dấu vân tay
thể chất cho các cảm xúc khác nhau, nhưng họ không làm được, nên họ kết luận rằng
quan điểm cổ điển là không hợp lý và họ suy đoán về các ý tưởng liên quan đến
kiến tạo. Tôi gọi nhóm các nhà khoa học này là “Dàn hợp xướng đã mất” vì công
trình của họ, được xuất bản trên các tạp chí uy tín, phần lớn đã bị bỏ qua, coi
thường hoặc hiểu lầm kể từ khi thời kỳ đen tối được cho là đã kết thúc.
Tại sao “dàn hợp xướng đã
mất” lại tỏa sáng hơn nửa thế kỷ sau đó biến mất? Tôi đoán rằng những nhà khoa
học này đã không tạo ra một lý thuyết cảm xúc thay thế đầy đủ để cạnh tranh với
quan điểm cổ điển đầy thuyết phục. Họ đã trình bày những phản chứng chắc chắn, nhưng
chỉ những lời phê bình thôi là không đủ để duy trì sự liên kết. Như triết gia
Thomas Kuhn đã viết về cấu trúc của các cuộc cách mạng khoa học: “Để bác bỏ mô
hình này mà không đồng thời thay thế nó bằng mô hình khác thì tức là đã bác bỏ
chính khoa học.” Vì thế, khi quan điểm cổ điển tự khẳng định lại bản thân vào
những năm 1960, nửa thế kỷ nghiên cứu chống chủ nghĩa tinh chất đã bị cuốn vào
thùng rác của lịch sử. Và tất cả chúng ta đều nghèo hơn vì điều đó, khi ngày
nay chúng ta đã lãng phí bao nhiêu thời gian và tiền bạc để theo đuổi những tinh
chất cảm xúc hão huyền. Vào thời điểm xuất bản cuốn sách này, Microsoft đang
phân tích các bức ảnh trên khuôn mặt để cố gắng nhận ra cảm xúc. Apple gần đây
đã mua Emotient, một công ty khởi nghiệp sử dụng các kỹ thuật trí tuệ nhân tạo
để phát hiện cảm xúc trong các biểu hiện trên khuôn mặt. Các công ty đang lập
trình Google Glass để phát hiện cảm xúc trong các biểu hiện trên khuôn mặt
trong nỗ lực giúp đỡ trẻ em mắc chứng tự kỷ. Các chính trị gia ở Tây Ban Nha và
Mexico đang tham gia vào cái gọi là chính trị thần kinh (neuropolitics) để phân
biệt sở thích của cử tri từ nét mặt của họ. Một số câu hỏi cấp bách nhất về cảm
xúc vẫn chưa được giải đáp, và những câu hỏi quan trọng vẫn bị che khuất, bởi
vì rất nhiều các doanh nghiệp và nhà khoa học vẫn đang tiếp tục thực hành chủ
nghĩa tinh chất trong khi phần còn lại của chúng ta thì đang tìm hiểu cách cảm
xúc được tạo ra.
Thật khó để từ bỏ quan điểm
cổ điển khi nó thể hiện niềm tin sâu sắc về ý nghĩa của việc làm người. Tuy
nhiên, sự thật là vẫn không có ai có thể tìm thấy dù chỉ một tinh chất cảm xúc
đáng tin cậy, có thể tái tạo rộng rãi, có thể đo lường được một cách khách
quan. Khi hàng đống dữ liệu phản chứng không đủ để khiến người ta từ bỏ các ý
tưởng của họ, thì họ không còn tuân theo phương pháp khoa học nữa. Họ đang đi
theo một hệ tư tưởng. Và với tư cách là một hệ tư tưởng, quan điểm cổ điển đã
lãng phí hàng tỷ đô la nghiên cứu và làm sai hướng quá trình nghiên cứu khoa học
trong hơn một trăm năm. Nếu cách đây bảy mươi năm người ta đi theo các bằng chứng
thay vì hệ tư tưởng, khi “Dàn hợp xướng đã mất” loại bỏ khá nhiều tinh chất cảm
xúc, thì ai biết được ngày nay chúng ta đang ở đâu trong việc nghiên cứu các
phương pháp điều trị bệnh tâm thần hoặc các phương pháp tốt nhất để nuôi dạy
con cái của chúng ta.
Mỗi một hành trình khoa học
là một câu chuyện. Đôi khi nó là một câu chuyện về sự khám phá chậm rãi: “Ngày
xưa, mọi người không biết nhiều, nhưng chúng ta ngày càng học được nhiều hơn
qua nhiều năm và ngày nay chúng ta biết rất nhiều thứ”. Hoặc, đó là một câu
chuyện về sự thay đổi triệt để: “Mọi người đều từng tin vào một điều gì đó vì
nó có vẻ đúng, nhưng trời ơi, chúng ta đã sai! Bây giờ sự thật hấp dẫn là đây.
”
Hành trình của chúng tôi
là một câu chuyện trong một câu chuyện. Câu chuyện bên trong là cách cảm xúc được
tạo thành, được bao bọc trong một câu chuyện bên ngoài về ý nghĩa của việc làm
người. “Trong hai nghìn năm, mọi người tin vào một điều gì đó về cảm xúc, mặc
dù xung quanh chúng ta có rất nhiều phản chứng. Bạn thấy đấy, bộ não con người,
được thiết lập để nhầm lẫn giữa nhận thức của nó với thực tại. Ngày nay, các
công cụ mạnh mẽ đã đưa ra nhiều lời giải thích có bằng chứng hơn, và chúng ta hầu
như không thể phớt lờ chúng nữa… vậy mà một số người vẫn cứ làm như thế”.
Tin tốt là chúng ta đang ở
trong thời kỳ vàng son về nghiên cứu trí óc và não bộ. Nhiều nhà khoa học hiện
đang đi trên con đường được rèn luyện bởi dữ liệu, thay vì hệ tư tưởng, để tìm
hiểu cảm xúc và bản thân chúng ta. Sự hiểu biết mới đi theo hướng dựa trên dữ
liệu này đã dẫn đến những ý tưởng đổi mới về cách sống một cuộc sống đầy đủ và
lành mạnh. Nếu bộ não của bạn hoạt động bằng cách dự đoán và kiến tạo và tự thiết
lập lại chính nó thông qua trải nghiệm, thì không quá lời khi nói rằng nếu bạn
thay đổi trải nghiệm hiện tại của mình hôm nay, bạn có thể thay đổi con người bạn
ngày mai. Các chương tiếp theo đi sâu vào những ý tưởng này trong các lĩnh vực
trí tuệ cảm xúc, sức khỏe, luật pháp và các mối quan hệ của chúng ta với các
loài động vật khác.
0 nhận xét:
Đăng nhận xét