Thứ Hai, 30 tháng 1, 2023

How Emotions Are Made - chương 7

 Chương 7

Các cảm xúc là Thực tại xã hội

Nếu có một cái cây ngã trong rừng, và không có ai ở đó để lắng nghe, thì nó có tạo ra một âm thanh không? Câu hỏi mang tính sáo rỗng này đã được lặp đi lặp lại vô số lần bởi các triết gia và các giáo sư, nhưng nó cũng tiết lộ một thứ quan trọng về trải nghiệm của con người và, cụ thể là, cách thức mà chúng ta trải nghiệm và nhận thức cảm xúc.

Câu trả lời thông thường cho câu đố này là, có, dĩ nhiên một cái cây ngã tạo ra một âm thanh. Nếu tôi và bạn đang đi trong rừng vào lúc cây đổ, chúng ta sẽ nghe thấy rõ ràng tiếng nứt của gỗ, tiếng lá xào xạc và tiếng thịch khi thân cây đập mạnh vào nền rừng. Rõ ràng là âm thanh này sẽ hiện diện ngay cả khi bạn và tôi không có ở đó.

Tuy nhiên, câu trả lời mang tính khoa học cho câu đố này là, không. Một cái cây ngã đổ tự nó không tạo ra tiếng động. Sự ngã đổ của nó chỉ tạo ra các rung động trong không khí và trên mặt đất. Những rung động này chỉ trở thành âm thanh khi có thứ gì đó đặc biệt hiện diện có đó để nhận và chuyển ngữ chúng: ví dụ như một cái lỗ tai kết nối với một bộ não. Bất kỳ lỗ tai của loại động vật có vú nào cũng có thể làm điều này. Phần tai ngoài sẽ thu thập các thay đổi trong áp suất không khí và gom chúng vào màng nhĩ, tạo ra các chuyển trong trong tai giữa. Những chuyển động này chảy vào phần tai trong theo những sợi lông rất nhỏ giúp phiên dịch những thay đổi áp suất thành các tín hiệu điện được chuyển tới não bộ. Không có cơ chế đặc biệt này thì sẽ không có âm thanh, chỉ có chuyển động không khí.

Thậm chí sau khi não nhận được các tín hiệu điện này, nhiệm vụ của nó cũng chưa hoàn thành. Đợt sóng này vẫn phải được dịch ra làm âm thanh của cây đổ. Để làm điều này, não cần phải có khái niệm về “cây” và cây thì làm được cái gì, ví dụ như, cây có thể ngã đổ. Khái niệm này đến từ những trải nghiệm trước đây với cây cối, hoặc từ việc nghiên cứu về cây cối từ một cuốn sách, hoặc nghe ai đó nói. Không có khái niệm này, thì sẽ không có tiếng gỗ va chạm vào nhau, chỉ có những tiếng ồn vô nghĩa đến từ sự mù kinh nghiệm.

Vì thế, một âm thanh không phải là một sự kiện mà chúng ta phát hiện từ thế giới bên ngoài. Nó là một trải nghiệm được kiến tạo nên khi thế giới bên ngoài tương tác với một cơ thể có thể phát hiện ra các thay đổi trong áp suất không khí, và một bộ não có thể giải nghĩa những thay đổi này.

Nếu không có người nhận thức thì sẽ không có âm thanh, chỉ có thực tại. Trong chương này, chúng ta sẽ khám phá một loại thực tại mới mà con người chúng ta kiến tạo nên, thứ chỉ tồn tại cho những ai được cài đặt sẵn để đón nhận nó. Trong khả năng dễ dàng này của chúng ta chứa đựng câu trả lời cho câu hỏi rằng “Cảm xúc là gì?” Nó cũng giải thích cách mà cảm xúc được truyền lại từ thế hệ này đến thế hệ khác mà không cần dấu vân tay sinh học.

Tiếp theo, hay xem xét một câu hỏi khác: “Có phải một trái táo thì có màu đỏ không?” Đây cũng là một câu đố, nhưng nó ít rõ ràng hơn so với một cái cây ngã đổ. Một lần nữa, câu trả lời thông thường là có, táo thì màu đỏ (hoặc mà vàng hoặc màu xanh nếu bạn thích táo vàng và táo xanh hơn). Tuy nhiên, câu trả lời mang tính khoa học là, không. “Đỏ” không phải là một màu sắc tồn tại bên trong một vật thể. Nó là một trải nghiệm phản xạ ánh sáng, đôi mắt của con người, bộ não của con người. Chúng ta chỉ trải nghiệm được màu đỏ khi ánh sáng có bước sóng nhất định (ví dụ như 600 nanomet) phản xạ từ một vật thể (giữa các phản xạ khác ở bước sóng khác), và chỉ khi máy thu (receiver) phiên dịch dải ánh sáng tương phản này thành cảm giác thị giác. Máy thu của chúng ta chính là võng mạc của con người, sử dụng ba loại cơ quan thụ cảm ánh sáng, được gọi là tế bào hình nón, để chuyển đổi ánh sáng phản xạ thành tín hiệu điện sẽ được giải nghĩa bởi não. Trong võng mạc thiếu hình nón trung bình hoặc dài, ánh sáng ở 600 nanomet sẽ có màu xám. Và trong trường hợp không có não, không có trải nghiệm nào về màu sắc, chỉ có ánh sáng phản chiếu trong thế giới bên ngoài.

Ngay cả khi các thiết bị cần thiết đã có sẵn (đôi mắt và bộ não), thì trải nghiệm về một quả táo đỏ cũng không được hoàn thành. Để bộ não chuyển cảm giác thị giác thành trải nghiệm về màu đỏ, nó phải sở hữu khái niệm “màu đỏ”. Khái niệm này có thể đến từ các trải nghiệm trước đây với táo, hoa đồng, và những vật thể khác mà bạn nhận thức là màu đỏ, hoặc đến từ việc học về màu đỏ từ người khác. (Thậm chí những người bị mù từ nhỏ cũng có một khái niệm về “đỏ” mà họ học được từ việc nói chuyện với người khác và từ sách). Không có khái niệm này, người ta sẽ trải nghiệm trái táo theo một cách khác. Ví dụ, với người Berinmo ở Papua New Guinea, các quả táo phản xạ bước sóng ánh sáng dài 600 nanomet được trải nghiệm như màu nâu, vì các khái niệm của người Berinmo cho màu sắc phân chia quang phổ liên tục khác biệt với chúng ta.

Các câu đố về táo và cây đã khiến chúng ta, những người nhận thức, vật lộn giữa hai quan điểm mâu thuẫn. Một mặt, nhận thức thông thường cho chúng ta biết rằng các âm thanh và màu sắc tồn tại trong thế giới bên ngoài cơ thể chúng ta, và chúng ta phát hiện ra chúng bằng đôi mắt và lỗ tai của mình, chúng mang thông tin đến não bộ. Mặt khác, như chúng ta đã biết từ chương 4 đến chương 6, con người chúng ta là kiến trúc sư cho trải nghiệm của chính mình. Chúng ta không phát hiện các thay đổi xung quanh một cách bị động. Chúng ta chủ động tham gia vào quá trình kiến tạo nên các trải nghiệm ngay cả khi chúng ta không ý thức được điều này. Một vật thể có thể trông-có-vẻ là đang truyền thông tin về màu sắc của nó vào não bạn, nhưng thông tin cần thiết để bạn trải nghiệm màu sắc lại chủ yếu đến từ chính dự đoán của bạn, được chỉnh sửa bởi ánh sáng mà não của bạn nhận từ thế giới xung quanh.

Bằng dự đoán, bạn có thể “nhìn thấy” màu sắc trong đôi mắt tâm trí của mình theo yêu cầu. Hãy thử nhìn màu xanh của một khu rừng tươi tốt. Những màu sắc có thể không rõ ràng như thường lệ và trải nghiệm có thể ngắn ngủi, nhưng bạn có thể làm được điều đó. Và khi bạn làm điều đó, các neuron trong vỏ não thị giác của bạn thay đổi cách chúng phun lửa. Bạn đang mô phỏng màu xanh. Bạn cũng có thể tưởng tượng ra một cái cây đổ và nghe âm thanh này trong trí óc của bạn. Thử xem, và các neuron trong vỏ não thính giác của bạn sẽ thay đổi cách chúng phun lửa.

Các thay đổi trong áp suất không khí và bước sóng ánh sáng tồn tại ở thế giới bên ngoài, nhưng với chúng ta, chúng chính là âm thanh và màu sắc. Chúng ta nhận thức chúng bằng cách vượt lên trên lượng thông tin sẵn có, giải nghĩa cho chúng thông qua kiến thức và các trải nghiệm trong quá khứ - những khái niệm. Mọi nhận thức đều được kiến tạo bởi người nhận thức, thông thường với một nguyên liệu là thông từ cảm giác đầu vào từ thế giới bên ngoài. Chỉ có những thay đổi cụ thể trong áp suất không khí mới được nghe thành tiếng cây ngã đổ. Chỉ có một số bước sóng ánh sáng nhất định đập vào võng mạc của chúng ta mới được chuyển thành trải nghiệm màu đỏ hay màu xanh. Mặt khác, tin tưởng chính là hiện thực hóa thuần túy, như thể các nhận thức đồng nghĩa với thực tại.  

Câu đố thứ ba là, “Các cảm xúc có thật hay không?” Có thể bạn sẽ cho là câu đố này thật kỳ cục, một ví dụ điển hình về sự ham mê học thuật. Tất nhiên các cảm xúc là thật. Hãy nghĩ về lần cuối cùng mà bạn cảm thấy sợ hãi hay buồn bã hay tức giận. Những thứ này rõ ràng là các cảm xúc có thật. Nhưng, thật ra, câu đố thứ ba này cũng giống cái cây ngã đổ và trái táo đỏ: một tình thế tiến thoái lưỡng nan về những gì tồn tại ở thế giới bên ngoài so với trong bộ não con người. Câu đố này buộc chúng ta phải đối mặt với các giải định về bản chất của thực tại và vai trò của chúng ta trong việc tạo ra nó. Nhưng ở đây, câu trả lời hơi phức tạp hơn, bởi vì nó phụ thuộc vào việc chúng ta có ý gì khi nói cái gì là “thật”.

Nếu bạn nói chuyện với một nhà hóa học, “thật” là một phân tử, một nguyên tử, một proton. Đối với một nhà vật lý, “thật” có nghĩa là hạt quark, hạt Higgs, hay một tập hợp các sợi rung động theo mười một hướng. Chúng được cho là tồn tại trong thế giới tự nhiên bất kể con người có tồn tại hay không – chúng thuộc về các danh mục không phụ thuộc vào người nhận thức chúng. Nếu ngày mai, toàn bộ loài người rời khỏi hành tinh này, thì các hạt hạ nguyên tử vẫn cứ ở đấy.

Nhưng sự tiến hóa đã cung cấp cho trí óc con người khả năng tạo ra một loại thực tại khác, một thứ hoàn toàn phụ thuộc vào những người quan sát. Từ các thay đổi trong áp suất không khí, chúng ta kiến tạo ra âm thanh. Từ các bước sóng ánh sáng, chúng ta kiến tạo ra màu sắc. Từ những sản phẩm nướng, chúng ta tạo ra cupcake và muffin – chỉ phân biệt với nhau bằng cái tên của chúng (chương 2). Chỉ cần có một vài người đồng ý rằng một cái gì đó là có thật và đặt tên cho nó, và họ tạo ra hiện thực. Tất cả con người với bộ não hoạt động bình thường đều có tiềm năng cho chút ma thuật này, và chúng ta sử dụng nó mọi lúc.

Hình 7-1: Hoa ren của nữ hoàng Anne, Queen Anne’s lace (tiếng Việt: hoa cà rốt dại)

Nếu bạn nghi ngờ về năng lực tạo ra thực tại của bạn, hãy nhìn vào hình 7-1. Loài thực vật này gọi là daucaus carota, được biết tới với cái tên hoa Ren của Nữ hoàng Anne. Thông thường hoa có màu trắng, nhưng trong một số trường hợp hiếm, chúng có màu hồng (khi chúng phản xạ bước sóng ánh sáng mà những người có cùng trải nghiệm văn hóa với tôi nhận định là màu hồng). Bạn Kevin của tôi (“Chú Kevin” ở chương trước) đã từ đi đến một nơi rất xa để mua một bông Ren của Nữ Hoàng Anne màu hồng, sau đó anh ấy đã trồng nó ở giữa vườn – một cách vô cùng tự hào. Một ngày nọ, tôi và anh ấy đang uống trà trong vườn nhà anh và một người bạn khác ghé ngang. Kevin và tôi đi vào nhà chút trà cho cô ấy. Lúc chúng tôi quay lại cũng chính là lúc nhìn thấy người bạn này lắc đầu, khom người và với sự khéo léo được đúc kết từ hàng chục năm kinh nghiệm, nhổ cây hoa Ren của Nữ hoàng Anne ra khỏi đất.

Không có bất kỳ thứ gì trong thế giới tự nhiên chỉ ra rằng một loài thực vật là hoa hay là cỏ dại. Đối với Kevin, hoa Ren của Nữ hoàng Anne có thể là một bông hoa, nhưng đối với người bạn này, nó có thể chỉ là cỏ dại. Sự khác biệt này phụ thuộc vào người nhận thức. Hoa hồng thường được xem là một bông hoa, nhưng nó sẽ được xem là cỏ dại nếu bạn nhìn thấy nó trên cánh đồng trồng rau. Hoa bồ công anh thường được xem là cỏ dại, nhưng nó sẽ trở thành một bông hoa nếu được đặt vào một bó hoa dại hoặc nếu đứa con hai tuổi của bạn tặng nó cho bạn. Thực vật tồn tại khách quan trong tự nhiên, nhưng hoa hay cỏ dại thì chỉ tồn tại khi có một người nhận thức. Chúng thuộc về danh mục phụ thuộc vào người nhận thức. Albert Einstein đã mô tả điểm này rất hay khi ông ấy viết rằng, “Các khái niệm vật lý, dù nó trông có vẻ như thế nào, là các tạo vật tự do đến từ trí óc con người, và chúng không chỉ được xác định bởi thế giới bên ngoài.”

Nhận thức thông thường khiến chúng ta tin rằng các cảm xúc về bản chất là có thật và chúng tồn tại mà không phụ thuộc vào bất kỳ người quan sát nào, giống với cái cách mà hạt Higgs và thực vật tồn tại. Các cảm xúc trông có vẻ đang hiện diện trong những hàng chân mày cau lại, hay những chiếc mũi đang chun lại, trong đôi vai trễ xuống hay những lòng bàn tay ướt mồ hôi, trong những nhịp tim đập nhanh và squirt của cortisol, và trong im lặng, trong những tiếng la, trong những tiếng thở dài.

Tuy nhiên, khoa học đã nói với chúng ta rằng các cảm xúc cần phải có người nhận thức, cũng giống như các màu sắc và âm thanh. Khi bạn trải nghiệm hay nhận thức cảm xúc, các thông tin cảm giác đầu vào được chuyển thể thành các khuôn mẫu phun lửa của neuron. Trong lúc đó, nếu bạn tập trung chú ý vào cơ thể mình, bạn sẽ trải nghiệm các cảm xúc như thể chúng đang xảy ra bên trong cơ thể bạn, cũng như khi bạn trải nghiệm màu đỏ của quả táo hay các âm thanh trên thế giới này. Thay vào đó, nếu bạn tập trung chú ý vào môi trường bên ngoài, bạn sẽ trải nghiệm các khuôn mặt và giọng nói và cơ thể như thể chúng đang thể hiện các cảm xúc để bạn giải mã. Nhưng như chúng ta đã biết trong chương 5, bộ não của bạn phân loại thông qua việc sử dụng các khái niệm cảm xúc để giải nghĩa cho các cảm giác này. Kết quả là bạn kiến tạo ra các phân mục của niềm vui, sợ hãi, giận dữ và những danh mục cảm xúc khác.

Các cảm xúc là có thật, nhưng thật theo cái cách giống như âm thanh của một cái cây ngã đỗ, trải nghiệm màu đỏ, và sự khác biệt giữa hoa và cỏ dại. Chúng đều được kiến tạo trong bộ não của người nhận thức.

Bạn luôn luôn chuyển động cơ mặt của mình. Chân mày bạn nhướng lên. Môi bạn cong lại. Mũi bạn nhăn lại. Những hành động này không phụ thuộc vào người nhận thức và chúng giúp bạn lên mẫu cho thế giới cảm giác. Mở to mắt giúp bạn cải thiện tầm nhìn ngoại vi của mình, từ đó bạn có thể dễ dàng phát hiện ra các vật thể xung quanh bạn. Nheo mắt cải thiện sự tập trung thị giác vào các vật thể ngay phía trước bạn. Nhăn mũi giúp bạn chặn các hóa chất độc hại lại. Nhưng bên trong những chuyển động này không mang theo cảm xúc.

Bên trong cơ thể bạn, nhịp tim, huyết áp, hơi thở, thân nhiệt và mức độ dao động liên tục cả ngày. Những thay đổi này có các chức năng thể chất để điều chỉnh cơ thể bạn trong thế giới bên ngoài; chúng không phụ thuộc vào người nhận thức. Bên trong chúng cũng không chứa đựng cảm xúc.

Các chuyển động cơ của bạn và các thay đổi trong thân thể bạn bắt đầu có chức năng như cảm xúc chỉ khi bạn phân loại chúng theo cách đó, trao cho chúng những chức năng mới: các trải nghiệm và các nhận thức. Không có các khái niệm cảm xúc, thì những chức năng này sẽ không tồn tại. Chúng sẽ chỉ là chuyển động cơ mặt, tim đập, các hormone tuần hoàn, v.v, cũng giống như nếu không có các khái niệm về màu sắc, thì “đỏ” và âm thanh của một cái cây ngã đổ sẽ không tồn tại. Chúng sẽ chỉ là ánh sáng và sự rung động.

Trong lịch sử, các nhà khoa học đã tranh cãi rằng liệu những danh mục cảm xúc như sợ hãi và giận dữ về bản chất có thật hay chỉ là ảo tưởng. Ở chương 1, chúng ta đã biết rằng những người dùng quan điểm cổ điển thường tin rằng các danh mục cảm xúc  về bản chất là được khắc họa, (ví dụ như) mọi phân mục của “sợ hãi” đều có chung một dấu vân tay sinh học chung. Họ nói rằng, các khái niệm cảm xúc trong đầu bạn tồn tại độc lập với những danh mục tự nhiên đó. Các chỉ trích thường cho rằng giận dữ, sợ hãi, v.v chỉ đơn thuần là các từ ngữ từ các câu chuyện cổ tích tâm lý và chúng nên được loại bỏ vì mục đích khoa học. Giai đoạn đầu trong hành trình của mình, tôi đã theo quan điểm thứ hai, nhưng hiện tại, tôi nghĩ rằng có một khả năng khác thực tế hơn.

Sự khác biệt giữa “về bản chất là thật” và “ảo tưởng” là một sự phân đôi sai lầm. Sợ hãi và giẫn dự là thật đối với những người đồng ý rằng những thay đổi nhất định trong cơ thể, trên mặt, v.v có ý nghĩa như các cảm xúc. Nói cách khác, các khái niệm cảm xúc là thực tại xã hội (social reality). Chúng tồn tại trong tâm trí con người – thứ được tạo ra bởi bộ não của con người, đây là một phần của tự nhiên. Các quy trình sinh học của sự phân loại, được cắm rễ trong thực tại vật lý và có thể quan sát được trong não bộ và trong cơ thể, đã tạo ra các danh mục có thật về mặt xã hội. Những khái niệm cổ tích như “sợ hãi” và “giận dữ” không chỉ là các từ ngữ mà tư duy khoa học nên vứt bỏ đi, chúng đóng vai trò quan trọng trong câu chuyện về cách mà não bộ tạo ra cảm xúc.

Thực tại xã hội không chỉ là về những ví dụ nghe có vẻ tầm thường như hoa, cỏ dại và táo đỏ. Văn minh nhân loại thực sự là đã được xây dựng trên thực tại xã hội. Hầu hết mọi thứ trong đời bạn đều được kiến tạo một cách xã hội: công việc của bạn, tên con đường nhà bạn, chính phủ của bạn và các bộ luật, địa vị xã hội của bạn. Chiến tranh nổ ra và những người hàng xóm giết nhau, đều là vì thực tại xã hội. Khi Benazir Bhutto, cố thủ tướng Parkistan, nói rằng “Bạn có thể giết chết một người, nhưng bạn không thể giết chết một ý tưởng”, cô ấy đang tuyên bố rằng thực tại xã hội sẽ định hình lại thế giới.

Tiền là một ví dụ điển hình của thực tại xã hội. Một tờ giấy hình chữ nhận với gương mặt của một vị cố lãnh đạo được in trên đó, hoặc một cái dĩa kim loại, hoặc một vỏ sò, hoặc lúa mạch, một nhóm người nào đó phân loại rằng chúng là tiền, thì chúng sẽ trở thành tiền. Chúng ta trao đổi hàng tỉ đô la mỗi này dựa trên một thực tại xã hội được gọi là thị trường chứng khoán. Chúng ta học kinh tế một cách khoa học với các phương trình toán học phức tạp. Những tác động tai hại của cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 là sản phẩm của thực tại xã hội. Trong một khoảnh khắc, một nhóm các khoản thế chấp – bản thân chúng kiến tạo từ thực tại xã hội – đã đi từ việc có giá trị trở thành vô giá trị, đẩy người ta vào đống đổ nát kinh tế. Không có thứ gì khách quan về mặt sinh học và vật lý có thể gây ra điều này. Nó chỉ là một sự thay đổi tàn khốc trong trí tưởng tượng của tập thể. Và hãy xem xét điều này: sự khác nhau giữa hai trăm tờ một đô la và một bức tranh lụa vẽ hai trăm tờ một đô la là gì? Câu trả lời là, “khoảng $43.8 triệu đô”. Đó là cái giá mà người ta đã trả cho bức tranh “200 tờ một đô” của Andy Warhol và năm 2013. Bức tranh này vẽ chính xác theo cái tên của nó, hầu như không khác gì với thứ tiền tệ mà nó mô tả. Sự khác biệt khổng lồ về mặt giá trị hoàn toàn là thực tại xã hội. Giá cả cũng dao động – bức tranh chỉ được bán với giá $300,000 vào những năm 1990, một cái giá khá hời – điều này cũng phản ánh thực tại xã hội. Nếu bạn cảm thấy con số $43.8 triệu là cái giá quá cao, thì bạn cũng là một thành viên trong thực tại xã hội này.

Tạo ra thứ gì đó, đặt tên cho nó, và thế là bạn đã tạo ra được một khái niệm. Dạy khái niệm này cho người khác, và miễn là họ đồng ý, thì bạn đã tạo ra một thứ có thật. Chúng ta đã tạo ra thứ ma thuật sáng tạo này như thế nào? Bằng cách phân loại. Chúng ta lấy những thứ tồn tại trong tự nhiên rồi áp những chức năng mới lên chúng – những chức năng này vượt quá tính chất vật lý của chúng. Sau đó chúng ta truyền đạt những khái niệm này cho nhau, thiết lập não bộ của nhau vào thế giới xã hội này. Đây chính là cốt lõi của thực tại xã hội.

Các cảm xúc chính là thực tại xã hội. Chúng ta kiến tạo nên những phân mục cảm xúc đúng theo cái cách của màu sắc, cây ngã đổ, và tiền: dùng một hệ thống khái niệm có thể nhận ra bằng thiết lập của bộ não. Chúng ta chuyển thể các thông tin cảm giác đầu vào từ cơ thể và từ thế giới bên ngoài - những thứ phụ thuộc vào người nhận thức - trở thành một phân mục của (ví dụ như) niềm vui trong bối cảnh của một khái niệm, “niềm vui”, được tìm thấy trong trí óc của nhiều người. Khái niệm này đã áp đặt những chức năng mới lên các cảm giác này, tạo ra thực tại chưa từng có trước đây: một trải nghiệm hay một nhận thức cảm xúc.

Thay vì hỏi là, “Các cảm xúc có thật hay không?”, câu hỏi tốt hơn sẽ là, “Bằng cách nào mà cái cảm xúc trở nên thật?” Câu trả lời lý tưởng sẽ nằm trong cầu nối giữa nến tảng sinh học không phụ thuộc vào người nhận thức của cơ thể và não bộ, như cảm thụ nội tại, đến những khái niệm cổ tích mà chúng ta đang chung sống mỗi ngày, như “sợ hãi” và “hạnh phúc”.

Đối với chúng ta, các cảm xúc được hiện thực hóa (become real) thông qua hai năng lực của con người, và hai năng lực này là những điều kiện tiên quyết cho thực tại xã hội (social reality). Đầu tiên, bạn cần một nhóm người đồng ý rằng một khái niệm có tồn tại, như “hoa” và “tiền” và “hạnh phúc”. Kiến thức chung này được gọi là chủ ý tập thể (collective intentionality). Hầu hết mọi người đều hiếm khi nghĩ về chủ ý tập thể, nhưng nó chính là nền tảng của mọi xã hội. Thậm chí, tên của bạn cũng hiện thực hóa (made real) thông qua chủ ý tập thể.

Theo quan điểm của tôi, các danh mục cảm xúc được hiện thực hóa thông qua chủ ý tập thể. Để giao tiếp với ai đó, nói với họ rằng bạn đang tức giận, thì cả bạn và người đó đều phải có chung một hiểu biết về “giận dữ”. Nếu người ta đồng ý rằng một tập hợp cụ thể các hành động trên gương mặt và các thay đổi trong hệ thống tim mạch chính là giận dữ trong một bối cảnh nào đó, thì nó chính là như thế. Bạn không nhất thiết phải ý thức được thỏa thuận này. Bạn thậm chí không cần phải đồng ý liệu một phân mục cụ thể có phải giận dữ hay là không. Bạn chỉ cần đồng ý về mặt nguyên tắc là cơn giận dữ tồn tại với một số chức năng cố định. Ở điểm này, mọi người có thể truyền đạt thông tin về khái niệm này với nhau một cách hiệu quả đến mức sự tức giận trông như thể có tính bẩm sinh. Nếu tôi và bạn đều đồng ý rằng hàng chân mày nhăn lại ám chỉ cơn giận dữ trong một bối cảnh cụ thể, và tôi chau chân mày của mình, thì tôi đang chia sẻ thông tin với bạn một cách hiệu quả. Bản thân chuyển động của tôi không mang cơn giận đến bạn, cũng như những dao động trong không khí không mang theo âm thanh. Mà bởi vì chúng ta đang cùng dùng chung một khái niệm, những chuyển động của tôi đã kích thích một dự đoán trong não của bạn… hởi xướng một dự đoán trong não của bạn. . . một thương hiệu ma thuật độc quyền của con người. Nó chính là sự phân loại dưới dạng một hành động hợp tác.

Chủ ý tập thể cần thiết cho thực tại xã hội, nhưng chỉ mỗi nó thôi thì không đủ. Một số động vật phi nhân loại cũng có thể tạo ra một hình thức thô sơ của chủ ý tập thế mà không cần thực tại xã hội. Loài kiến làm việc cùng với nhàu trong một hoạt động chung, loài ong cũng vậy. Các đàn chim và các đàn cá di chuyển đồng điệu với nhau. Một số nhóm tinh tinh biết sử dụng công cụ, như dùng nhánh cây để khều và ăn mối, hay dùng đá để đập hạt, và cách dùng này được truyền lại cho đời con cháu của chúng. Tinh tinh thậm chí còn học được khái niệm “công cụ” bằng cách nhận ra những vật thể trông có vẻ khác nhau có thể được dùng cho cùng một mục đích – ví dụ như, lấy thức ăn mà một số vật mà chúng có thể cầm trong tay, như một nhánh cây hoặc một cái tua-vít.

Tuy nhiên, loài người đặc biệt vì chủ ý tập thể của chúng ta còn bao gồm các khái niệm tinh thần. Chúng ta có thể nhìn vào một cái búa, một lưỡi cưa, một đồ kẹp đá và phân loại chúng là “công cụ”, sau đó chúng ta thay đổi trí óc của mình và phân loại chúng thành “vũ khí giết người.” Chúng ta có thể áp đặt các chức năng vốn không tồn tại, từ đó tạo ra thực tại. Chúng ta có thể thực hiện loại ma thuật này bởi vì chúng ta có điều kiện tiên quyết thứ hai để tạo ra thực tại xã hội: ngôn ngữ.

Không có bất kỳ loại động vật nào khác có chủ ý tập thể kết hợp với từ ngữ. Một số ít các loài động vật thực sự có một vài những dấu hiệu giao tiếp. Loài voi có thể giao tiếp thông qua các âm thanh tần số thấp có thể kéo dài một dặm. Một số loài khỉ đột có thể dùng ngôn ngữ kí hiệu một cách hạn chế, tương đương một đứa trẻ hai tuổi, thường liên quan theo một cách nào đó đến việc đạt được một phần thưởng. Nhưng chỉ có loài người mới vừa có ngôn ngữ vừa có chủ ý tập thể. Hai khả năng này được xây dựng dựa trên nhau theo những cách phức tạp, cho phép trẻ sơ sinh loài người đưa hệ thống khái niệm vào não của mình, thay đổi thiết lập của nó trong quá trình. Sự kết hợp này cũng cho phép người ta phân loại một cách hợp tác với nhau, thứ làm nên nền tảng giao tiếp và ảnh hưởng xã hội.

Các từ ngữ cũng khiến chúng ta định hình các khái niệm, như chúng ta đã biết trong chương 5, bằng cách nhóm những thứ có vẻ ngoài khác nhau vào cùng một nhóm có mục đích chung. Một cái kèm trumpet, dàn trống timpani, cây vĩ cầm, và một khẩu đại bác quân sự trông chẳng có gì giống nhau, nhưng cụm từ “nhạc cụ” cho phép chúng ta xem chúng như nhau để đạt được một mục tiêu, như để biểu diễn bài 1812 Overture của Pyotr Tchaikovsky. Từ “giận dữ” cũng nhóm lại các phân mục khác nhau – những thứ có các chuyển động, các cảm thụ nội tại, và các sự kiện ở thế giới bên ngoài rất khác nhau. Ngay cả một đứa bé sơ sinh chưa biết nó cũng dùng từ ngữ để định hình các khái niệm về những trái bóng và những thứ tạo ra tiếng ồn, miễn là những từ ngữ này được nói một cách có chủ ý bởi những người xung quanh.

Các từ ngữ là lối tắt hiệu quả giúp chúng ta giao tiếp các khái niệm dùng chung trong một nhóm. Khi tôi đặt pizza, tôi sẽ không bao giờ nói chuyện như vầy:

Tôi: Xin chào, tôi muốn đặt hàng.
Đầu dây bên kia: Vâng, bạn muốn đặt gì?
Tôi: Tôi muốn một cục bột được cán phẳng và tạo thành hình tròn hoặc đôi khi là hình chữ nhật với nước sốt cà chua và pho mát bên trên được nướng trong lò rất nóng đủ lâu để pho mát tan chảy và vỏ bánh chuyển sang màu nâu. Để ăn.
Đầu dây bên kia: Giá là $9.99. Nó sẽ sẵn sàng khi cây kim đồng hồ lớn chỉ số mười hai và cây kim đồng hồ nhỏ chỉ số bảy.

Từ “pizza” sẽ giúp rút ngắn đáng kể đoạn đối thoại này bởi vì chúng tôi có chung một trải nghiệm, và do đó có chung một kiến thức liên quan đến pizza trong văn hóa của chúng tôi. Tôi sẽ chỉ mô tả các đặc điểm riêng biệt của pizza cho những người chưa từng nhìn thấy pizza trước đây, cho ai đó phải cố gắng để hiểu được một cái pizza là như thế nào, từng đặc điểm một.

Các từ ngữ cũng có năng lực. Chúng cho phép chúng ta đưa các ý tưởng vào đầu người khác một cách trực tiếp. Nếu đặt bạn vào một cái ghế, hoàn toàn bất động, và nói cho bạn nghe từ “pizza”, các neuron trong não của bạn sẽ thay đổi khuôn mẫu phun lửa của chúng một cách tự động để tạo ra các dự đoán. Thậm chí bạn có thể sẽ chảy nước miếng khi bạn mô phổ mùi vị của nấm và pepperoni. Các từ ngữ cung cấp cho chúng ta một hình thức thần giao cách cảm đặc biệt.

Các từ ngữ cũng có thể khuyến khích các suy luận tinh thần (mental inference): tìm ra các mục tiêu, mục đích và niềm tin của người khác. Trẻ sơ sinh loài người đã học được các thông tin quan trọng bên trong trí óc của người khác, như chúng ta đã bàn trong chương 5, và các từ ngữ chính là phương tiện vận chuyển dùng để suy luận các thông tin này.

Các từ ngữ tất nhiên không chỉ là cách duy nhất để truyền đạt một khái niệm. Nếu tôi đã kết hôn và muốn nói điều này cho cả thế giới, thì tôi không cần phải đi khắp nơi và lặp đi lại lại rằng, “Tôi đã kết hôn”, “Tôi đã kết hôn”, “Tôi đã kết hôn”. Tôi chỉ cần đep một cái nhân, đặc biệt là một chiếc nhẫn với những viên kim cương bự. Hoặc, như ở miền bắc Ấn Độ, tôi có thể vẽ một chấm bindi (một chấm màu đỏ) lên trán. Tương tự, nếu tôi đang vui, tôi cũng không cần phải dùng từ ngữ để thông báo điều này. Tôi chỉ đơn giản là mỉm cười, và những người xung quanh tôi sẽ hiểu điều này thông qua chủ ý tập thể, với một dòng dự đoán được giải phóng trong não của họ. Khi con gái của tôi học mẫu giáo, tôi chỉ cần mở to mắt nhìn con bé để con bé không nói dối. Không cần một từ ngữ nào cả.

Tuy nhiên, bạn cần một từ ngữ để có thể truyền đạt hiệu quả một khái niệm. Chủ ý tập thể đòi hỏi mọi người trong nhóm phải có cùng một khái niệm giống nhau, “hoa” hay “cỏ dại” hay “sợ hãi”. Những phân mục của mỗi một khái niệm này khác biệt rất lớn và có ít quy luật thống kê trong các đặc điểm bề ngoài của nó, nhưng tất cả mọi thành viên trong nhóm bằng cách nào đó phải học được các khái niệm này. Đối với tất cả các mục đích thực tế, việc học này đòi hỏi một từ ngữ.

Cái gì có trước, một khái niệm hay một từ ngữ? Cuộc tranh luận vừa mang tính khoa học vừa mang tính triết học này vẫn còn đang tiếp diễn; và chúng ta không giải quyết nó ở đây được; tuy nhiên, rõ ràng là người ta đã hình thành một số khái niệm nhất định trước khi biết về từ ngữ. Trong vòng vài ngày sau khi được sinh ra, trẻ sơ sinh sẽ nhanh chóng học được các khái niệm về gương mặt mà không cần biết tới từ “khuôn mặt”, như chúng ta đã bàn trong chương 5, bởi vì các gương mặt có những quy luật thống kê: hai mắt, một mũi, một miệng. Tương tự, chúng ta phân biệt những khái niệm “thực vật” và “loài người” mà không cần các từ ngữ đại diện cho chúng: thực vật quang hợp còn con người thì không. Sự khác biệt này không phụ thuộc vào nhận thức, bất kể hai khái niệm được đặt tên như thế nào.

Mặt khác, những khái niệm nhất định thì cần có từ ngữ. Hãy xem xét danh mục “Giả vờ gọi điện thoại”. Chúng ta đều đã từng nhìn thấy một đứa trẻ cần một vật thể áp vào lỗ tai và nói chuyện vào nó, bắt chước hành vi gọi điện thoại của bố mẹ. Vật thể mà bọn trẻ dùng rất đa dạng: có thể là một trái chuối, một bàn tay, một các cốc, thậm chí là một tấm chăn yêu thích của chúng. Các phân mục này không có bất kỳ quy luật thống kê nào, nhưng một người bố có thể đưa trái chuối cho con mình và nói “reng reng reng, điện thoại gọi con đây,” và lối tắt này đã đủ cho hiểu biết chung về việc nên làm gì tiếp theo. Mặt khác, nếu bạn không biết khái niệm “Giả vờ gọi điện thoại”, và khi bạn nhìn thấy một đứa trẻ hai tuổi áp chiếc xe hơi đồ chơi vào tai và nói chuyện, bạn chỉ nhìn thấy một đứa trẻ cầm đồ chơi để bên đầu của nó và nói chuyện mà thôi.

Tương tự, người ta có thể dễ dàng học được các khái niệm cảm xúc thông qua các từ ngữ chỉ cảm xúc. Bạn đã biết được rằng các danh mục cảm xúc không có dấu vân tay nhất quán trên gương mặt, cơ thể hay bộ não. Điều này có nghĩa là các phân mục của một khái niệm cảm xúc đơn lẻ, ví dụ như “ngạc nhiên”, não bộ có thể nhóm chúng lại với nhau mà không cần có một điểm chung nào. Và bất kỳ hai khái niệm cảm xúc nào, như “ngạc nhiên” và “sợ hãi”, cũng không có cần có bất kỳ dấu vân tay nhất quán nào để có thể phân biệt với nhau. Do đó, như một văn hóa, chúng ta giới thiệu các điểm giống nhau về mặt tinh thần thông qua từ ngữ. TỪ nhỏ, chúng ta đã nghe người khác nói về “sợ hãi” và “ngạc nhiên” trong những bối cảnh cụ thể. Âm thanh của mỗi từ ngữ (hoặc, khi chúng ta lớn lên, chữ viết của mỗi từ ngữ này) tạo ra đủ các quy luật thống kê bên trong mỗi danh mục, và những điểm khác nhau về mặt thống kê giữa chúng, để chúng ta có thể bắt đầu. Những từ ngữ này đã nhanh chóng gợi cho chúng ta cách suy luận các mục tiêu để neo mỗi khái niệm. Không có từ “sợ hãi” hay “ngạc nhiên”, thì hai khái niệm này sẽ không được truyền từ người này đến người khác. Không ai biết liệu các khái niệm được hình thành trước từ ngữ hay là ngược lại, nhưng rõ ràng là các từ ngữ đã liên kết chặt chẽ với cái cách mà chúng ta phát triển và truyền đạt những khái niệm thuần túy tinh thần.

Các nhà lý thuyết theo quan điểm cổ điển tranh luận không ngớt về việc có tất cả bao nhiêu cảm xúc. Yêu có phải là một cảm xúc hay không? Còn tê dại thì sao? Tò mò? Đói? Những từ đồng nghĩa như hạnh phúc (happy), vui vẻ (cheerful), và sung sướng (delighted) có chỉ những cảm xúc khác nhau hay không? Còn về ham muốn (lust), khao khát (desire), và đam mê (passion): chúng có khác nhau hay không? Mà rốt cuộc thì chúng có phải cảm xúc hay không? Từ góc nhìn của thực tại xã hội, những tranh luận này không quan trọng. Yêu (hay tò mò, đói, v.v) là cảm xúc miễn là người ta đồng ý rằng những phân mục của nó có chức năng như một cảm xúc.

Chúng ta đã mô tả một số chức năng này trong các chương trước. Đầu tiên bắt nguồn từ việc rằng cũng giống như mọi khái niệm khác, các khái niệm cảm xúc tạo ra ý nghĩa. Giả sử bạn cảm thấy bản thân mình đang thở nhanh và đổ mồ hôi. Liệu rằng bạn có đang hưng phấn? Sợ hãi? Kiệt sức về mặt thể chết? Những danh mục khác nhau biểu thị những ý nghĩa khác nhau: nghĩa là, có những lời giải thích khác nhau cho trạng thái thể chất của bạn trong tình huống này, dựa trên các trải nghiệm quá khứ của bạn. Một khi bạn đã tạo ra một phân mục cảm xúc, bằng cách phân loại một khái niệm cảm xúc, bạn sẽ lý giải được cho các cảm giác và các hành động của mình.

Chức năng thứ hai của cảm xúc bắt nguồn từ việc các cảm xúc kê đơn cho hành động: nếu bạn thở nhanh và đổ mồ hôi, thì bạn nên làm gì? Bạn có nên mỉm cười một cách hưng phấn, bỏ chạy trong sợ hãi, hay nằm xuống nghỉ ngơi? Mỗi một phân mục cảm xúc được kiến tạo từ một dự đoán, đều đo đạc hành động của bạn để đạt được một mục tiêu cụ thể trong một tình huống cụ thể, thông qua sự dẫn dắt của trải nghiệm quá khứ.

Chức năng thứ ba liên quan đến một năng lực của khái niệm: điều chỉnh ngân sách cơ thể bạn. Tùy thuộc và cách mà bạn phân loại trạng thái đổ mồ hôi và thở hổn hển của mình, bạn có thể ảnh hưởng đến ngân sách cơ thể mình theo những cách khác nhau. Nếu bạn phân loại đó là hưng phấn, thì có thể sẽ dẫn đến một sự giải phóng cortisol trung bình (ví dụ như, để nâng cánh tay của bạn lên); nếu bạn phân loại đó là sợ hãi, thì có thể dẫn đến một sự giải phóng cortisol lớn hơn (khi bạn chuẩn bị bỏ chạy); và khi bạn quyết định đi nằm một chút, thì chẳng cần giải phóng thêm chút cortisol nào. Sự phân loại diễn ra bên trong bạn theo đúng nghĩa đen. Mỗi một phân mục cảm xúc sẽ có một ngân sách cơ thể chuẩn bị cho tương lai sắp đến.

Ba chức năng này có một điểm chung: chúng đều xoay quanh mỗi bạn. Bạn trải nghiệm mà không cần bất kỳ ai khác để giúp bạn giải nghĩa, hành động, hay điều chỉnh ngân sách cơ thể bạn. Nhưng các khái niệm cảm xúc có hai chức năng khác hướng đến những người khác trong vòng tròn thực tại xã hội của bạn. Một chức năng là giao tiếp cảm xúc, nghĩa là hai người phân loại các khái niệm một cách đồng điệu với nhau. Nếu bạn nhìn thấy một người đang thở nhanh và đổ mồ hôi, nếu anh ta đang mặc một bộ đồ tập thể dục thì nó sẽ mang ý nghĩa khác, nếu anh ta đang mặc tuxedo thì nó lại mang ý nghĩa khác. Ở đây, phân loại giúp truyền đạt ý nghĩa và giải thích lý do cho hành động của một người nào đó. Một chức năng khác là ảnh hưởng xã hội. Các khái niệm như “hưng phấn”, “sợ hãi”, và “kiệt sức” là các công cụ để bạn điều chỉnh ngân sách cơ thể của người khác, chứ không chỉ mỗi ngân sách cơ thể của bạn. Nếu bạn có thể khiến ai đó nhận thức được trạng thái thở hồng hộc, đổ mồ hôi của bạn là do sợ hãi, thì bạn sẽ tác động đến hành động của họ - theo một cách mà chỉ mỗi việc thở nhanh và vầng trán ẩm ướt không thể tự làm được. Bạn có thể là kiến trúc sư tạo ra trải nghiệm cho người khác.

Hai chức năng cuối này đòi hỏi rằng người khác – những người giao tiếp cùng bạn hoặc bị ảnh hưởng bởi bạn – đều đồng ý rằng các trạng thái cơ thể nhất định hoặc các hành động thể chất nhất định đều có những chức năng cụ thể trong các bối cảnh nhất định. Nếu có không có chủ ý tập thể, thì hành động của một người dù có ý nghĩa với chính anh ta như thế nào đi chăng nữa đều vô nghĩa với người khác.

Giả sử bạn và bạn của bạn đang đi bộ cùng nhau, và bạn nhìn thấy một người đàn ông đang dậm chân bình bịch trên vỉa hè. Bạn phân loại rằng người này đang giận dữ. Còn bạn của bạn thì phân loại rằng người này đang chán nản. Bản thân người đàn ông thì chỉ đang giũ bùn dính ở đế giầy anh ta. Vậy thì có phải là bạn và bạn của bạn đã sai rồi không? Liệu người đàn ông này có không ý thức được cảm xúc của chính mình trong thời điểm đó? Ai mới là người đúng trong trường hợp này?

Nếu đây là một câu hỏi về thực tại vật lý (physical reality), bạn có thể hoàn toàn trả lời được vấn đề. Nếu tôi nói là áo của tôi làm từ lụa, còn bạn thì nói là không phải – nó được làm từ polyester, thì chúng ta có thể làm một cuộc kiểm tra hóa chất để tìm câu trả lời. Tuy nhiên, với thực tại xã hội, thì không có cái gì là chính xác. Nếu tôi nói cái áo của tôi đẹp còn bạn nói rằng trông nó kỳ cục, thì không ai trong chúng ta đúng một cách khách quan. Điều tương tự cũng xảy ra với việc nhận thức cảm xúc của người đàn ông đang dậm chân kia. Các cảm xúc không có dấu vân tay, vì thế không có gì là chính xác hay không. Điều duy nhất bạn có thể làm là tìm kiếm sự đồng thuận. Chúng ta có thể hỏi người khác xem là họ đồng ý với tôi hay với bạn về cái áo hoặc về người đàn ông dậm chân kia, hoặc chúng ta có thể so sánh sự phân loại của mình với quy tắc chung trong văn hóa của chúng ta.

Bạn, bạn của bạn, và người đàn ông đang dậm chân đó, mỗi người kiến tạo cho riêng mình một nhận thức thông qua dự đoán. Bản thân người đàn ông đang dậm chân kia có thể đang cảm thấy kích động một cách khó chịu, và anh ta có thể phân loại các cảm giác nội tại của mình cùng với những thứ mà anh ta dự đoán từ thế giới bên ngoài, thành một phân mục “giũ bùn khỏi giầy”. Bạn có thể kiến tạo một nhận thức về sự giận dữ còn bạn của bạn kiến tạo một nhận thức về sự chán nản. Mỗi một kiến tạo đều có thật, do đó, các câu hỏi về tính chính xác sẽ không có bất kỳ câu trả lời nào mang tính khách quan. Đây không phải hạn chế của khoa học: nó chỉ là: người ta đã đặt câu hỏi sai ngay từ đầu. Không có bất kỳ biện pháp đo lường độc lập với người quan sát nào có thể phân xử vấn đề một cách cụ thể và đáng tin cậy. Khi bạn không thể tìm thấy tiêu chuẩn khách quan nào để tính toán độ chính xác và phải tìm kiếm sự đồng thuận, thì đấy là một bằng chứng rằng bạn đang giải quyết một thực tại xã hội, chứ không phải một thực tại vật lý.

Điểm này thường hay bị hiểu lầm, và dễ bị hiểu lầm, vì thế, tôi sẽ giải thích cho rõ. Tôi không nói rằng các cảm xúc chỉ là các ảo tưởng. Chúng là có thật, nhưng chúng có thật về mặt xã hội theo cách mà hoa và cỏ dại cũng có thật về mặt xã hội. Tôi không nói rằng mọi thứ đều là tương đối. Nếu thực sự như vậy, thì nền văn minh sẽ đổ vỡ. Tôi cũng không nói rằng các cảm xúc “chỉ tồn tại trong đầu bạn”. Cụm từ này sẽ làm tầm thường hóa năng lực của thực tại xã hội. Tiền, danh tiếng, luật pháp, chính phủ, tình bạn, và tất cả mọi niềm tin nhiệt thành nhất cũng “chỉ” tồn tại trong đầu óc con người, nhưng người ta sống chết vì chúng. Chúng là có thật vì mọi người đồng ý rằng chúng có thật. Nhưng chúng, và các cảm xúc, chỉ tồn tại với sự hiện diện của những người nhận thức.

Hãy tưởng tượng về cảm giác khi bạn vói tay vào một bịch khoai tây chiên và phát hiện ra miếng mà bạn vừa ăn là miếng cuối cùng. Bạn vừa cảm thấy thất vọng vì bịch khoai tây chiên đã trống rỗng, vừa cảm thấy thoát nợ vì bạn sẽ không thể nạp thêm chút calories nào nữa, vừa cảm thấy hơi tội lỗi vì bạn đã ăn sạch cả bịch khoai tây chiên, nhưng vẫn cảm thấy muốn ăn thêm một miếng khoai tây chiên nữa. Tôi vừa mới phát minh ra một khái niệm cảm xúc, và chắc chắn là không có từ ngữ trong tiếng Anh nào để diễn tả nó. Tuy nhiên, khi bạn đọc những mô tả về thứ cảm xúc phức tạp này, bạn hẳn đã mô phỏng toàn bộ quá trình này: bạn có thể tưởng tượng ra cái bịch khoai tây chiên rỗng nhăn nhúm và những mảnh vụn khoai tây chiên héo rũ ở đáy bịch. Bạn trải nghiệm cảm xúc này mà không có từ ngữ nào để diễn đạt nó.

Bộ não của bạn đã hoàn thành kỳ tích này bằng cách kết hợp các phân mục của những khái niệm mà bạn đã biết, như “bịch”, “khoai tây chiên”, “thất vọng”, “thoát nợ”, “tội lỗi” và “thèm”. Năng lực mạnh mẽ này của hệ thống khái niệm trong bộ não của bạn, thứ mà ở chương 5 chúng ta đã gọi là sự kết hợp khái niệm, đã tạo ra phân mục đầu tiên của bạn về danh mục cảm xúc mới mẻ liên quan đến khoai tây chiên, sẵn sàng để mô phỏng. Bây giờ, nếu tôi tạo ra đặt tên cho khái niệm mà tôi mới tạo ra này là “không còn khoai tây chiên” (chiplessness) và dạy nó cho các cư dân đồng loại của chúng ta, nó sẽ trở thành một khái niệm cảm xúc thực sự giống như khái niệm “vui vẻ” và “buồn bã”. Với nó, người ta có thể dự đoán, phân loại, điều chỉnh ngân sách cơ thể họ, và có thể kiến tạo ra các phân mục “không còn khoai tây chiên” đa dạng trong những tình huống khác nhau.

Điều này dẫn chúng ta đến những ý tưởng có tính thử thách nhất trong toàn bộ cuốn sách này: bạn cần một khái niệm cảm xúc để trải nghiệm và nhận thức cảm xúc liên quan. Đó là một điều bắt buộc. Không có khái niệm “sợ hãi”, bạn không thể trải nghiệm “sợ hãi”. Không có khái niệm “buồn bã”, bạn không thể nhận ra sự “buồn bã” của người khác. Bạn có thể học được một khái niệm cần thiết, hoặc bạn có thể kiến tạo một khái niệm cần thiết ngay lúc bạn cần thông qua sự kết hợp khái niệm, nhưng bộ não của bạn phải có khả năng tạo ra khái niệm đó và tạo ra các dự đoán từ nó. Nếu không, bạn sẽ mù kinh nghiệm với cảm xúc đó.

Tôi nhận thấy là ý tưởng này có hơi phản trực giác, do đó, hãy bắt đầu với một số ví dụ.

Bạn hẳn là chưa quen thuộc với một loại cảm xúc được gọi là liget. Đó là một cảm xúc vô cùng hung hãn được trải nghiệm bởi bộ tộc săn đầu người từ Philippines, người Ilongot. Liget bao gồm sự tập trung cao độ, đam mê, và năng lượng khi truy đuổi một thử thách nguy hiểm của một nhóm người khi cạnh tranh với một nhóm người khác. Sự nguy hiểm và năng lượng truyền đi một cảm giác đoàn kết (togetherness) và thân thuộc với nhau (belonging). Liget không chỉ là một trạng thái tinh thần mà còn là một tình huống phức tạp với nhiều nguyên tắc xã hội liên quan đến những hoạt động tạo ra nó, lúc nào mới thích hợp để cảm thấy nó, và người ta nên đối xử với bạn như thế nào trong trạng thái này. Đối với một thành viên trong bộ tộc Ilongot, liget là một cảm xúc thực sự tồn tại, giống như cái cách mà “vui vẻ” và “buồn bã” thực sự tồn tại đối với bạn.

Những người phương Tây chắc chắn đã từng trải nghiệm một sự hung hãn dễ chịu. Các vận động viên khi đang thi đấu. Những người chơi game đã trau dồi cảm xúc này trong những game bắn súng đầu tiên. Nhưng những người này không trải nghiệm cảm giác liget theo đúng nghĩa của nó, hành động theo dẫn dắt của nó, họ không thay đổi ngân sách cơ thể hay giao tiếp và tác động xã hội theo nó, trừ phi họ có thể kiến tạo “liget” thông qua việc sử dụng sự kết hợp khái niệm. Liget là toàn bộ một gói khái niệm, và nếu bộ não của bạn không thể tạo ra khái niệm này, thì bạn không thể trải nghiệm liget, mặc dù bạn có thể trải nghiệm những phần nhỏ trong nó: một cảm tính dễ chịu và kích động cao; sự hung hãn; cảm giác hồi hộp khi theo đuổi một thử thách nguy hiểm; hoặc cảm giác gắn bó thân thuộc như anh chị em trong cùng một nhóm.

Tiếp theo, hãy xem xét một khái niệm cảm xúc mà văn hóa Mỹ mới đón nhận gần đây. Trong một cuộc họp gần đây với các thành viên phòng thí nghiệm của tôi, tôi biết rằng một người quen (hãy gọi anh ta là Robert) đã thất bại trong nỗ lực giành giải Nobel. Robert đã đối xử không tốt với tôi trong quá khứ (đây là cách nói mà một nhà khoa học lịch sự dùng để nói thay cho “anh ấy cư xử như một thằng khốn nạn”), vì vậy khi tôi nghe tin này, tôi phải thừa nhận rằng tôi đã có một trải nghiệm cảm xúc phức tạp: tôi cảm thấy có chút đồng cảm với Robert, cộng với sự hài lòng nhỏ bé về bất hạnh của anh ấy, cộng với một làn sóng tội lỗi lớn trước sự nhỏ nhen của tôi, cũng như sự xấu hổ khi ai đó có thể phát hiện ra cảm giác khó chịu của tôi.

Hãy tưởng tượng ra nếu tôi mô tả sự kết hợp khái niệm của mình với các thành viên trong phòng thí nghiệm của tôi là: “Robert có vẻ rất buồn bã về thất bại của anh ta, và tôi thấy vui vì điều đó.” Những từ ngữ tôi dùng hẳn là không thích hợp chút nào. Chẳng ai trong phòng thí nghiệm của tôi biết về quá khứ của tôi và Robert, hay cảm giác tội lỗi và xấu hổ của tôi, vì thế, họ sẽ không thể hiệu được quan điểm của tôi và có thể xem chính bản thân tôi là một tên khốn. Vì thế, thay vào đó, tôi đã nói rằng, “Tôi cảm thấy có chút schadenfreude”, và mọi người trong phòng đều mỉm cười và gật đầu công nhận. Một từ ngữ có thể truyền đạt cảm xúc của tôi một cách hiệu quả và khiến cho xã hội chấp nhận nó, bởi vì những người khác trong phòng thí nghiệm của tôi cũng có khái niệm này và cũng có thể kiến tạo lên một nhận thức về schadenfreude. Chúng ta không thể làm được điều này nếu chỉ có mỗi cảm tính với mức độ khoái lạc dễ chịu khi người khác gặp điều không may.

Tình huống này cũng giống y như một cảm xúc quen thuộc ở phương Tây như nỗi buồn. Bất kỳ một người khỏe mạnh nào cũng có thể trải nghiệm cảm tính khó chịu với mức độ kích động thấp. Nhưng bạn không thể trả nghiệm nỗi buồn với đầy đủ các ý nghĩa văn hóa của nó, các hành động phù hợp với nó, và những chức năng cảm xúc khác trừ phi bạn có được khái niệm “nỗi buồn”.

Một vài nhà khoa học tranh luận rằng nếu không có khái nệm cảm xúc, thì các cảm xúc vẫn tồn tại nhưng những người trải nghiệm cảm xúc sẽ không nhận ra nó, ẩn ý về một trạng thái cảm xúc tồn tại ngoài ý thức. Tôi nghĩ đây cũng có thể là một khả năng, nhưng tôi khá nghi ngờ về nó. Nếu bạn không có khái niệm “hoa” và ai đó đưa cho bạn một bông hồng, bạn sẽ chỉ cảm nhận nó như một loài thực vật, chứ không phải một bông hoa. Không có nhà khoa học nào có thể tuyên bố rằng bạn nhìn thấy một bông hoa nhưng chỉ “không nhận ra nó”. Tương tự, bức ảnh những đốm màu trong chương 2 không ẩn chứa một con ong. Bạn nhận thức được con ong chỉ vì bạn có kiến thức khái niệm. Lý do tương tự cũng có thể áp dụng cho các cảm xúc; mà không cần khái niệm “Liget” hay “nỗi buồn” hay “không còn khoai tây chiên nữa” để mà phân loại, không có cảm xúc, chỉ có một khuôn mâu các dấu hiệu cảm giác.

Hãy nghĩ xem khái niệm “liget” sẽ có ích như thế nào trong văn hóa phương Tây. Khi các học viên quân sự được huấn luyện về nghệ thuật chiến tranh, một tỷ lệ nhỏ trong số họ nói rằng họ có một cảm giác dễ chịu khi giết người. Họ không giết người để cảm thấy dễ chịu; họ không phải là những kẻ thái nhân cách. Nhưng khi họ giết người, họ trải nghiệm một cảm giác dễ chịu. Trong những câu chuyện chiến đấu của họ, họ thường mô tả một cảm giác vui sướng mãnh liệt đến từ sự hồi hộp của các cuộc truy lùng, hoặc từ việc đã hoàn thành tốt một nhiệm vụ phối hợp với đồng đội. Tuy nhiên, trong văn hóa phương Tây, giết người mà cảm thấy dễ chịu thì bị xem là tồi tệ và đáng xấu hổ; người ta khó mà cảm thấy thông cảm hoặc đồng cảm với những người có cảm giác này. Do đó, hãy xem xét điều này: nếu chúng ta dạy khái niệm và từ liget cho các học viên, bao gồm một tập hợp các quy luật xã hội để xem khi nào thích hợp để cảm thấy liget? Chúng ta có thể gieo trồng khái niệm cảm xúc này trong bối cảnh văn hóa với các giá trị và quy tắc rộng lớn hơn, cũng như điều chúng ta đã làm với khái niệm schadenfreude. Thậm chí, khái niệm này cũng có thể giúp cho những người quân nhân linh hoạt trau dồi trải nghiệm liget khi cần thiết cho nhiệm vụ quân sự của họ. Các khái niệm cảm xúc mới như liget có thể giúp mở rộng khả năng nhận định chi tiết cảm xúc của họ, tăng cường sự gắn kết của đơn vị của họ và hiệu suất làm việc của họ, đồng thời bảo vệ sức khỏe tinh thần cho các thành viên trong quân đội của chúng ta, cả trong chiến tranh lẫn khi họ quay về nhà sau giải ngũ.

Tôi nhận ra rằng khi tôi đang nói một điều có tính khiêu khích: rằng mỗi chúng ta đều cần một khái niệm cảm xúc trước khi chúng ta có thể trải nghiệm và nhận thức thứ cảm xúc đó. Điều này hoàn toàn không phù hợp với nhận thức thông thường và trải nghiệm hàng ngày; chúng ta có cảm giác là các cảm xúc là có sẵn. Nhưng nếu các cảm xúc được kiến tạo thông qua dự đoán, và bạn chỉ có thể dự đoán chúng với các khái niệm mà bạn đã có, thì… đúng là như vậy đó: chúng ta cần một khái niệm cảm xúc trước khi có thể trải nghiệm và nhận thức thứ cảm xúc đó.

Bạn trải nghiệm các cảm xúc mà không tốn chút công sức nào, và bạn cảm thấy chúng có sẵn, thường thì thế hệ của bố mẹ bạn và bố mẹ của họ cũng đã biết. Quan điểm cổ điển giải thích sự phát triển này rằng các cảm xúc được tạo ra sẵn trong hệ thống thần kinh thông qua tiến hóa, và chúng tách rời với các khái niệm cảm xúc. Tôi cũng có một câu chuyện tiến hóa để kể, nhưng nó là về thực tại xã hội, và nó không cần các dấu vân tay trong hệ thống thần kinh.

Các khái niệm cảm xúc như “sợ hãi”, “giận dữ”, và “vui vẻ” được truyền từ thế hệ này sang thế hệ kia. Điều này xảy ra không chỉ vì chúng ta nhân giống gen của mình mà vì những gen đó cho phép mỗi thế hệ thiết lập bộ não của thế hệ tiếp theo. Trẻ sơ sinh phát triển trí óc với đầy đủ các khái niệm khi chúng học hỏi các phong tục tập quán và các giá trị từ văn hóa của chúng. Quá trình này có nhiều tên gọi: sự phát triển não bộ. Sự phát triển ngôn ngữ. Xã hội hóa.

Một trong những lợi thế thích nghi của nhân loại – lý do tại sao chúng ta là một giống loài phát triển – là chúng ta sống theo những nhóm xã hội. Sự sắp xếp này cho phép chúng ta tản khắp địa cầu, tạo ra các môi trường sống giúp chúng ta tồn tại thông qua việc cho ăn, cho mặc và học hỏi lẫn nhau trong những điều kiệu khắc nghiệt nhất. Từ đó chúng ta có thể tích lũy thông tin qua nhiều thế hệ — những câu chuyện, công thức nấu ăn, truyền thống, bất cứ thứ gì mà chúng ta có thể mô tả — giúp mỗi thế hệ định hình thiết lập hệ thống não bộ của thế hệ tiếp theo. Kho kiến thức liên thế hệ này cho phép chúng ta chủ động định hình môi trường vật chất thay vì chỉ thích ứng với nó và tạo ra các nền văn minh.

Tất nhiên, việc sống trong các nhóm cũng có một vài điểm bất lợi, cụ thể là một vấn đề nan giải lớn mà bất kỳ con người nào cũng phải đối mặt: đi cùng nhau hay đi trước. Các khái niệm hàng ngày như “giận dữ” hay “biết ơn” là những công cụ cần thiết để xử lý hai vấn đề cạnh tranh nhau này. Chúng là các công cụ cho văn hóa. Chúng hướng dẫn hành động trong những tình huống cụ thể, cho phép bạn giao tiếp, và gây ảnh hưởng đến hành vi của người khác, tất cả đều nhằm phục vụ cho việc quản lý ngân sách cơ thể của bạn.

Chỉ vì nỗi sợ hãi xuất hiện từ thế hệ này đến thế hệ khác trong văn hóa của bạn, thì không chứng minh được rằng nỗi sợ đã đã được mã hóa sẵn trong bộ gene của con người, cũng không chứng minh được rằng nó đã được quy trình tiến hóa điêu khắc vào tổ tiên loài người của chúng ta hàng triệu năm trước ở các hoang mạc Phi Châu. Những giải thích đơn nguyên nhân này làm giảm đi sức mạnh to lớn của chủ ý tập thể (chưa kể đến bằng chứng phong phú từ khoa học thần kinh hiện đại). Chắc chắn tiến hóa đã cho phép loài người tạo ra văn hóa, và một phần của văn hóa đó chính là hệ thống các khái niệm dựa trên mục đích để quản lý chúng ta và người khác. Nền tảng sinh học của chúng ta cho phép chúng ta tạo ra các khái niệm dựa trên mục đích, nhưng chính xác là khái niệm nào thì là vấn đề của tiến hóa văn hóa.

Não người là một hiện vật văn hóa. Chúng ta không tải văn hóa vào một bộ não trinh nguyên như tải phần mềm vào máy vi tính; thay vào đó, văn hóa giúp chúng ta thiết lập (wire) não bộ. Từ đó, các bộ não trở thành phương tiện vận chuyển văn hóa, giúp tạo ra và duy trì văn hóa.

Tất cả những con người sống chung trong các nhóm đều phải giải quyết các vấn đề giống nhau, vì thế, không có gì ngạc nhiên khi có thể tìm thấy một vài khái niệm giống nhau xuyên văn hóa. Ví dụ, hầu hết các xã hội loài người đều có các thần thoại về những nhân vật siêu nhiên: các cô tiên từ Hy Lạp cổ đại, tiên nữ trong truyền thuyết Celt, yêu tinh từ Ireland, những người nhỏ bé trong truyện kể của thổ dân châu Mỹ, Menehune trong văn hóa dân gian thổ dân Hawaii, người khổng lồ (troll) từ Scandinavia, Aziza từ châu Phi, Agloolik từ văn hóa Inuit, Mimis từ thổ dân Úc, người Shin từ Trung Quốc, Kami từ Nhật Bản, và vô số những nhân vật khác. Những câu chuyện về các sinh vật ma thuật này là một phần quan trọng trong lịch sử và văn chương của loài người. Tuy nhiên, không có nghĩa là những nhân vật này thực sự tồn tại hay về bản chất đã từng tồn tại (bất kể chúng ta có ao ước được đến Hogwarts để học tập như thế nào). Danh mục “Sinh vật Ma thuật” này được kiến tạo từ đầu óc con người, và do đó, nó tồn tại trong nhiều văn hóa khác nhau, nó có nhiều chức năng quan trọng. Cũng theo cách này, “sợ hãi” tồn tại trong nhiều văn hóa (không phải tất cả, như người !Kung ở sa mạc Kalahari) và có nhiều chức năng quan trọng. Như thế biết, không có khái niệm cảm xúc nào là phổ quát, nhưng thậm chí là nếu có một khái niệm như vậy, thì bản thân tính phổ quát cũng không tự động bao hàm một thực tại độc lập với người nhận thức.

Thực tại xã hội là một động lực thúc đẩy văn hóa xã hội. Việc chúng ta học được các khái niệm cảm xúc, những nguyên tố của thực tại xã hội, từ lúc còn là trẻ sơ sinh hay giai đoạn trưởng thành khi chuyển từ nền văn hóa này sang nền văn hóa khác (chúng ta sẽ nói về vấn đề này ngay sau đây), là hoàn toàn hợp lý. Do đó, thực tại xã hội là một ống dẫn truyền hành vi, sở thích và ý nghĩa từ tổ tiên đến hậu thế thông qua chọn lọc tự nhiên. Các khái niệm không chỉ đơn thuần là một yếu tố xã hội trên đầu trang của sinh học. Chúng là một thực tại sinh học được thiết lập vào não của bạn từ văn hóa. Những người sống trong những nền văn hóa với những khái niệm nhất định, hoặc những khái niệm đa dạng hơn, có thể phù hợp để tái sinh sản hơn.

Trong chương 5, chúng ta đã nhìn thấy những sọc ảo giác mà chúng ta tạo thành một cầu vồng, khi chúng ta phân loại các bước sóng ánh sáng với các khái niệm về màu sắc của chính mình. Nếu bạn dùng trang google Nga (images.google.ru) và tìm kiếm từ để diễn tả cầu vồng, радуга, bạn sẽ thấy rằng các hình vẽ bằng tiếng Nga có bảy màu chứ không phải sáu màu: sọc xanh phương Tây đã được chia nhỏ thành màu xanh lam nhạt và xanh lam đậm, như trong hình 7-2.

Hình 7-2: các bức tranh vẽ cầu vồng theo các văn hóa khác nhau

Những bức tranh này đã chứng minh rằng các khái niệm màu sắc bị ảnh hưởng bởi văn hóa. Trong văn hóa Nga, các màu синий (xanh dương) và Голубой (xanh da trời đối với người phương Tây) là các loại khác nhau, giống như màu xanh dương và xanh lá cây đối với người Mỹ. Sự khác biệt này không phải do sự khác biệt bẩm sinh, về cấu trúc trong hệ thống thị giác của người Nga và người Mỹ, mà là do họ đã học các khái niệm về màu sắc khác nhau văn hóa cụ thể. Những người lớn lên ở Nga được dạy đơn giản rằng màu xanh dương nhạt và xanh dương đậm là những màu riêng biệt với các tên gọi khác nhau. Những khái niệm màu sắc được thiết lập trong não của họ, và do đó họ nhận thức được cầu vồng có bảy sọc.

Các từ ngữ biểu thị các khái niệm, và các khái niệm là các công cụ của văn hóa. Chúng ta truyền chúng xuống từ cha đến con, từ thế hệ này đến thế hệ khác, cũng như cây nến từ Old Country từ đời bà tổ của bạn. “Cầu vồng có sáu sọc”. “Tiền dùng để trao đổi sản phẩm.” “Cupcake là món tráng miệng còn muffin là đồ ăn sáng.”

Các khái niệm cảm xúc cũng là các công cụ văn hóa. Chúng có một tập hợp quy luật phong phú, tất cả đều dùng để điều chỉnh ngân sách cơ thể bạn hoặc tác động đến ngân sách cơ thể người khác. Những quy luật này có thể chỉ tồn tại riêng trong một nền văn hóa, quy định những thời điểm cụ thể mà người ta có thể kiến tạo nên những cảm xúc này trong những tình huống nhất định. Ở Mỹ, cảm thấy sợ hãi khi ngồi trên tàu lượn cao tốc, hay chuẩn bị nghe kết quả của xét nghiệm ung thư, hay ai đó chĩa súng vào bạn, là hoàn toàn hợp lý. Ở Mỹ, cảm thấy sợ hãi mỗi khi đi ra khỏi nhà mà khu vực lân cận cũng hoàn toàn an toàn thì không hợp lý: cảm xúc này có thể được xem là một chứng bệnh được gọi là agoraphobia – chứng rối loạn căng thẳng.

Bạn Carmen của tôi, được sinh ra ở Bolivia, và cô ấy rất ngạc nhiên khi tôi nói rằng các khái niệm cảm xúc giữa các nền văn hóa là rất khác nhau. “Tôi đã nghĩ rằng mọi người trên thế giới đều có những cảm xúc giống nhau” – cô ấy nói với tôi bằng tiếng Tây Ban Nha, “những người Bolivia có những cảm xúc mãnh liệt hơn người Mỹ. Más fuerte.” Hầu hết mọi người đều sống với một tập hợp các khái niệm cảm xúc trong suốt cuộc đời của họ, như Carmen vậy, họ cảm thấy rất ngạc nhiên với mối liên quan văn hóa này. Tuy nhiên, các nhà khoa học đã ghi nhận nhiều khái niệm cảm xúc trên khắp thế giới mà tiếng Anh không có. Người Na-uy có một khái niệm dành cho niềm vui mãnh liệt khi yêu, gọi là “Forelsket”. Người Đan Mạch có khái niệm “Hygge” cho một cảm xúc cụ thể của tình bạn thân thiết. Người Nga có khái niệm “Tocka” là một nỗi thống khổ về tinh thần, và "Saudade" của Bồ Đào Nha là một khao khát tinh thần mạnh mẽ. Sau khi nghiên cứu một chút, tôi đã tìm ra một khái niệm cảm xúc tiếng Tây Ban Nha không có tương đương trực tiếp trong tiếng Anh, được gọi là “Pena Ajena”. Carmen đã giải thích với tôi là từ này có nghĩa là “nỗi buồn trước sự mất mát của người khác”, nhưng tôi cũng thấy nó được mô tả là sự khó chịu hoặc xấu hổ thay cho người khác. Dưới đây là một vài từ nữa mà tôi thấy rất hấp dẫn:

·         Gigil (Philippines): Việc muốn ôm hoặc siết chặt một thứ gì đó thật đáng yêu không chịu nổi.

·         Voorpret (tiếng Hà Lan): Cảm giác vui mừng về một sự kiện trước khi sự kiện diễn ra.

·         Age-otori (tiếng Nhật): Cảm giác trông tệ hơn sau khi cắt tóc.

Một số khái niệm cảm xúc từ những nền văn hóa khác đặc biệt phức tạp, có lẽ không thể phiên dịch sang tiếng Anh, nhưng hững người bản địa có thể trải nghiệm chúng như một điều tất nhiên. Khái niệm “Fago” trong tiếng Ifaluk (Micronesian) có thể có nghĩa là tình yêu, sự đồng cảm, lòng thương hại, nỗi buồn hoặc lòng trắc ẩn, tùy thuộc vào ngữ cảnh. Trong văn hóa Czech, khái niệm “Litost” được cho là không thể dịch được mà đại khái là “sự dằn vặt về nỗi thống khổ của bản thân kết hợp với mong muốn trả thù”. Khái niệm cảm xúc “Arigata-meiwaku” trong tiếng Nhật là cảm xúc khi ai đó đã ban ơn cho bạn mà bạn không muốn nhận, và tạo ra khó khăn cho bạn, nhưng bạn vẫn phải cảm thấy biết ơn.

Khi tôi nói với các thính giả ở Mỹ về cảm xúc và sự đa dạng cũng như tính văn hóa của chúng, và đề xuất rằng các khái niệm trong ngôn ngữ tiếng Anh của chúng ta cũng mang tính văn hóa như vậy, một số người tỏ ra rất ngạc nhiên, giống như bạn Carmen của tôi vậy. “Nhưng hạnh phúc và nỗi buồn là những cảm xúc có thật.” Họ nhấn mạnh, như thể các cảm xúc từ các nền văn hóa khác không “thật” bằng cảm xúc trong văn hóa của chúng ta. Để trả lời, tôi nói rằng: bạn hoàn toàn chính xác. Fago, litost, và những cảm xúc còn lại không phải là cảm xúc … đối với bạn. Đó là bởi vì bạn không biết các khái niệm cảm xúc này; những tình huống và mục tiêu liên quan đến chúng cũng không quan trọng với văn hóa trung lưu Mỹ. Bộ não của bạn không thể tạo ra các dự đoán dựa trên “Fago”, vì thế bạn không tự động cảm thấy khái niệm này như khái niệm về hạnh phúc và nỗi buồn. Để hiểu được Fago, bạn cần phải kết hợp nhiều khái niệm mà bạn đã biết, tạo ra một sự kết hợp khái niệm và phải nỗ lực tinh thần. Nhưng người Ifaluk có khái niệm cảm xúc này. Bộ não của họ có thể dự đoán với cảm xúc này một cách tự động. Khi họ trải nghiệm fago, họ cũng có cảm giác đó là một cảm xúc tự động và có thật như cảm xúc hạnh phúc và nỗi buồn của bạn, như thể fago chỉ đơn giản là xảy ra cho họ.

Vâng, fago, litost, và những cảm xúc còn lại chỉ là những từ ngữ được con người tạo ra, nhưng “hạnh phúc”, “buồn bã”, “sợ hãi”, “giận dữ”, “ghê tởm” và “ngạc nhiên” thì cũng vậy thôi. Phát minh ra các từ ngữ chính là định nghĩa của thực tại xã hội. Liệu bạn có nói rằng tiền tệ ở nước mình là tiền thật còn tiền tệ ở những văn hóa khác chỉ là thứ tiền được họ tạo ra? Những người chưa từng đi du lịch có thể cảm thấy như vậy thật, họ không có khái niệm về các loại tiền tệ khác. Nhưng những người từng đi du lịch thì đã có khái niệm “Tiền tệ từ Văn hóa Khác”. Tôi đang yêu cầu bạn học khái niệm “Cảm xúc từ Văn hóa Khác”, để bạn có thể hiệu được rằng các phân mục của nó cũng thật đối với họ như cảm xúc của chính bạn đối với bạn.

Nếu bạn cảm thấy những ý tưởng này quá khó khăn, thì hãy thử điều này: một số khái niệm được trân trọng trong văn hóa phương Tây hoàn toàn không xuất hiện trong các nền văn hóa khác. Người Utka Eskimos không có khái niệm về “giận dữ”. Người Tahiti không có khái niệm về “nỗi buồn”. Những điều này khá khó chấp nhận đối với những người phương Tây… cuộc sống mà không có nỗi buồn sao? Thật ư? Khi người Tahiti ở trong một tình huống mà một người phương Tây cảm thấy buồn, họ sẽ cảm thấy bệnh, rắc rối, mệt mỏi, không muốn làm gì, tất cả những điều này được họ khái quát trong thuật ngữ rộng hơn của họ pe’ape’a. Những người tin vào quan điểm cảm xúc cổ điển sẽ giải thích điều này bằng sự đa dạng, cho ra nếu một người Tahiti đang nhăn nhó thì anh ta đang ở trạng thái sinh học của nỗi buồn, dù anh ta có ý thức được điều này hay không. Một nhà kiến tạo cảm xúc sẽ không bao giờ chắc chắn như vậy, bởi vì có rất nhiều nguyên nhân khiến người ta nhăn nhó, như khi đang suy nghĩ, đang nỗ lực, đang buồn cười, hay đang che giấu một suy nghĩ nào đó, hoặc đang cảm thấy pe’ape’a.

Hơn cả các khái niệm cảm xúc cá nhân, những văn hóa khác nhau thậm chí còn không có chung ý kiến về việc “cảm xúc” là gì. Những người phương Tây nghĩ rằng cảm xúc là một trải nghiệm bên trong một cá nhân, một cơ thể. Tuy nhiên, nhiều nền văn hóa khác lại định nghĩa cảm xúc là một sự kiện giữa người và người và cần phải có hai người trở lên. Những nền văn hóa này bao gồm: người Ifaluk của Micronesia, Bali, Fula, Ilongot của Philippines, Kaluli của Papua New Guinea, Minangkabau của Indonesia, thổ dân Pintupi của Australia và người Samoa. Thú vị hơn, một số nền văn hóa thậm chí không có khái niệm thống nhất về “Cảm xúc” cho những trải nghiệm mà người phương Tây gộp chung lại thành cảm xúc. Người Tahitians, thổ dân Gidjingali của Úc, Fante và Dagbani của Ghana, Chewong của Malaysia, và những người bạn của chúng ta ở chương 3 - người Himba, là một vài ví dụ đã được nghiên cứu kỹ lưỡng.

Hầu hết các nghiên cứu khoa học về cảm xúc đều được thực hiện bằng tiếng Anh, dùng các khái niệm của người Mỹ và những từ ngữ chỉ cảm xúc của người Mỹ (và chuyển ngữ). Theo nhà ngôn ngữ học Anna Wierzbicka, tiếng Anh là nhà tù khái niệm trong khoa học về cảm xúc. “Các thuật ngữ tiếng Anh về cảm xúc đã hình thành phân loại học đại chúng (folk taxonomy), nó không tạo ra một khuôn khổ phân tích khách quan và độc lập với văn hóa, vì thế, rõ ràng là chúng ta không thể cho là các từ ngữ tiếng Anh như ghê tởm (disgust), sợ hãi (fear) hay xấu hổ (shame) là bằng chứng cho tính phổ quát của cảm xúc con người, hoặc là các thực tại tâm lý cơ bản.” Để làm cho vấn đề thậm chí còn mang tính đế quốc hơn, những từ ngữ cảm xúc này là từ tiếng Anh của thế kỷ hai mươi, và có bằng chứng rằng một số từ trong chúng khá hiện đại. Khái niệm “cảm xúc” (emotion), tự bản thân nó là một phát minh từ thế kỷ 17. Trước đó, các học giả viết về đam mê (passions), tình cảm (sentiments), và những khái niệm khác mang những ý nghĩa khác.

Những ngôn ngữ khác nhau mô tả các trải nghiệm đa dạng của con người theo những cách khác nhau – các cảm xúc và những sự kiện tinh thần khác, như màu sắc, các bộ phận cơ thể, phương hướng, thời gian, mối quan hệ không gian và nhân quả. Sự đa dạng giữa các ngôn ngữ thật đáng kinh ngạc. Các trải nghiệm của người bạn Batja Mesquita của tôi – một nhà tâm lý học văn hóa mà bạn đã gặp trong chương 5, là một ví dụ. Cô ấy được sinh ra và lớn lên ở Hà Lan và đã di cư đến mỹ để học sau tiến sĩ. Hơn mười lăm năm sau, cô ấy kết hôn, lập gia đình, và trở thành giáo sư tại Đại học Wake Forest ở Bắc Carolina. Khi sống ở Hà Lan, Batja cảm thấy các cảm xúc của cô rất tự nhiên – tôi dùng từ “tự nhiên” vì không tìm thấy từ nào tốt hơn. Tuy nhiên, sau khi chuyển tới Mỹ, cô ấy nhanh chóng nhận ra rằng các cảm xúc này không phù hợp với văn hóa Mỹ. Cô ấy cảm thấy người Mỹ vui vẻ một cách thiếu tự nhiên. Chúng ta thường nói chuyện với giọng cao. Chúng ta cười rất nhiều. Khi Batja hỏi mọi người có khỏe không, thì chúng ta luôn trả lời một cách tích cực (“Tốt lắm!”). Các phản hồi cảm xúc của Batja có vẻ không đủ trong bối cảnh văn hóa Mỹ. Khi người ta hỏi cô ấy cảm thấy thế nào, cô ấy không phản hồi với đủ sự nhiệt tình hay trả lời rằng cô ấy cảm thấy “tuyệt đỉnh” hay “tuyệt vời”. Có một lần tôi đã nghe cô ấy trình bày về trải nghiệm của chính mình, và tôi gật đầu tán thành trong suốt buổi, vỗ tay rất to vào cuối buổi, và bước đến bên cô ấy, choàng tay ôm lấy cô, và nói với cô ấy rằng “Bạn đã làm xuất sắc!” Tôi phải mất một lúc mới nhận ra rằng tôi vừa xác nhận cho mọi điều mà cô ấy đã quan sát thấy.

Trải nghiệm của Batja không phải là duy nhất. Đồng nghiệp Yulia Chentsova của tôi từ Nga cũng nói rằng hai má của cô ấy bị đau suốt cả năm trời khi cô ấy chuyển đến Mỹ bởi vì cô ấy chưa từng cười nhiều như thế. Hàng xóm Paul Harris của tôi, một nhà nghiên cứu cảm xúc cấy ghép từ Anh, đã quan sát thấy giới học thuật Mỹ luôn hứng thú trước những câu đố khoa học – một trạng thái kích động cao và dễ chịu – nhưng họ không bao giờ đơn thuần là tò mò, băn khoăn hay bối rối – những trải nghiệm có mức kích động thấp và khá trung tính giống như anh. Nói chung, người Mỹ thích trạng thái dễ chịu có mức độ kích động cao. Chúng ta cười rất nhiều. Chúng ta khen ngợi, tán dương và khuyến khích nhau. Chúng ta trao cho người khác phần thưởng ở bất kỳ mức độ thành tựu nào, thậm chí là “Chứng nhận đã tham gia”. Hầu như tuần nào cũng có một chương trình trao thưởng trên tivi. Tôi không đếm xuể số lượng sách về niềm vui đã được xuất bản ở Mỹ trong mười năm nay. Chúng là một nền văn hóa tích cực. Chúng ta thích được vui vẻ và chúng ta chúc mừng sự vĩ đại của chính mình.

Batja càng ở lâu ở Mỹ thì các cảm xúc của cô bắt đầu đồng điệu với bối cảnh Mỹ. Các khái niệm cảm xúc dễ chịu của cô ấy mở rộng và trở nên đa dạng hơn. Cô ấy trở nên chi tiết hơn, trải nghiệm phong cách hạnh phúc kiểu Mỹ một cách khác biệt so với sự hài lòng và mãn nguyện. Não cô ấy đã thiết lập các khái niệm mới theo các chuẩn mực và phong tục của Mỹ. Quá trình này gọi là sự tiếp biến văn hóa cảm xúc (emotion acculturation). Từ một văn hóa mới, bạn thu thập những khái niệm mới, và chúng chuyển ngữ thành các dự đoán mới. Thông qua những dự đoán này, bạn bắt đầu có thể trải nghiệm và nhận thứ các cảm xúc của quê hương mới của bạn.

Nhà khoa học đã khám phá ra sự tiếp biến văn hóa cảm xúc chính là Batja. Cô ấy đã phát hiện ra rằng các khái niệm cảm xúc của con người giữa các nền văn hóa không chỉ khác nhau mà còn có thể chuyển giao với nhau. Ví dụ, những tình huống khiến người ta nổi giận ở Bỉ, như bị đồng nghiệp chèn ép, thì ở Thổ Nhĩ Kỳ, sẽ khiến người ta cảm thấy (dùng tiếng Mỹ để diễn tả là) tội lỗi, xấu hổ, và trân trọng. Nhưng với những người di cư từ Thổ Nhĩ Kỳ sang Bỉ, các trải nghiệm cảm xúc của họ càng lúc càng “Bỉ” hơn khi họ sống ở đó lâu hơn.

Bộ não được tắm mình trong các tình huống ở một văn hóa mới thường giống như một bộ não sơ sinh: được dẫn dắt bởi lỗi dự đoán nhiều hơn là được dẫn dắt bởi dự đoán. Do không có các khái niệm cảm xúc của văn hóa mới này, nên những bộ não di cư tiếp thu các thông tin cảm giác đầu vào và xây dựng nên những khái niệm mới. Các khuôn mẫu cảm xúc mới không thay thế những khuôn mẫu cũ, mặc dù chúng có thể can thiệp vào nhau, nhưng trong trường hợp của đồng nghiệp nghiên cứu Alexandra từ Hy Lạp mà bạn đã gặp ở chương 5. Bạn không thể dự đoán một cách hiệu quả nếu bạn không có khái niệm liên quan. Bạn phải dùng tới sự kết hợp khái niệm – một việc khá mất sức và chỉ tạo ra một ý nghĩa gần đúng. Hoặc bạn ngập trong lỗi dự đoán trong hầu hết thời gian. Do đó, quá trình tiếp biến văn hóa này đã đánh thuế ngân sách cơ thể của bạn. Trên thực tế, những người có ít khả năng tiếp biến văn hóa hơn thì thường bị các bệnh về mặt thể chất hơn. Một lần nữa, sự phân loại xảy ra bên trong bạn.

Trong cuốn sách này, tôi đang cố gắng tiếp biến văn hóa cho bạn với một cách nghĩ khác về cảm xúc. Dù bạn có nhận ra điều này hay không, bạn có sẵn một tập hợp các khái niệm về cảm xúc: chúng ta gì, chúng đến từ đâu, và chúng có ý nghĩa gì. Có lẽ bạn đã bắt đầu đọc cuốn sách này với các khái niệm theo quan điểm cổ điển như “phản xạ cảm xúc” và “biểu cảm gương mặt” hay “các mạch thần kinh cảm xúc trong não”. Nếu vậy, thì tôi đã từ từ thay thế chúng với một tập hợp mới, bao gồm “cảm thụ nội tại”, “dự đoán”, “ngân sách cơ thể” và “thực tại xã hội”. Theo một nghĩa nào đó, tôi đa cố gắng kéo bạn vào một nền văn hóa mới gọi là lý thuyết kiến tạo cảm xúc. Các chuẩn mực của một nền văn hóa mới này có vẻ kỳ quặc hoặc thậm chí nghe có vẻ sai sai, cho đến khi bạn sống ở đó một thời gian và hiểu chúng... và tôi hy vọng rằng bạn đã hiểu chúng, hoặc bạn sẽ hiểu chúng. Cuối cùng, nếu tôi và những nhà khoa học có ý nghĩ tương tự thành công trong việc thay thế những khái niệm cũ bằng những khái niệm mới này, thì, đó chính là một cuộc cách mạng khoa học.

Lý thuyết kiến tạo cảm xúc đã giải thích cách mà bạn trải nghiệm và nhận thức một cảm xúc mà không cần bất kỳ dấu vân tay sinh học nhất quán nào ở gương mặt, cơ thể hay não bộ. Bộ não của bạn liên tục dự đoán và mô phỏng các thông tin cảm giác đầu vào từ bên trong và bên ngoài cơ thể bạn, từ đó nó hiểu được chúng có ý nghĩa gì và nên làm gì với chúng. Những dự đoán này đi khắp võ não của bạn, phân tầng từ các mạch thần kinh ngân sách cơ thể trong mạng lưới cảm thụ nội tại đến các cấu trúc cảm giác chính của bạn, tạo ra mô phỏng phân tán trong toàn bộ não, mỗi một mô phỏng là một phân mục của một khái niệm. Sự mô phỏng nào gần nhất với tình huống thực tế của bạn sẽ trở thành người thắng cuộc và nó sẽ là trải nghiệm của bạn, và nếu nó là một phân mục của khái niệm cảm xúc, thì bạn sẽ trải nghiệm cảm xúc. Toàn bộ quá trình này được thực hiện với sự giúp đỡ của mạng lưới kiểm soát, nhắm để điều chỉnh ngân sách cơ thể bạn, giúp bạn sống sót và khỏe mạnh. Trong quá trình này, bạn tác động đến ngân sách cơ thể của những người xung quanh bạn, giúp bạn sống sót để truyền lại gene của bạn cho thế hệ tiếp theo. Đây là cách mà bộ não và cơ thể tạo ra thực tại xã hội. Điều này cũng là cách mà các cảm xúc đã trở thành sự thật.

Vâng, những thông tin này là quá nhiều. Và một số chi tiết vẫn chỉ là những suy đoán, như việc phân tầng khái niệm dùng cơ chế chính xác nào. Nhưng chúng ta có thể tự tin mà nói rằng lý thuyết kiến tạo cảm xúc là một cách nghĩ hợp lý để lý giải cho cách thức hình thành các cảm xúc. Lý thuyết này giải thích tất cả các hiện tượng của quan điểm cổ điển, cộng thêm những điểm khác thường như sự thay đổi rất lớn trong trải nghiệm cảm xúc, trong khái niệm cảm xúc, và những thay đổi vật lý trong cảm xúc. Nó làm tan biến bản chất vô ích / nuôi dưỡng các cuộc tranh luận (ví dụ, điều gì là có sẵn trong não và điều gì thì phải học mới biết được) bằng cách sử dụng một khuôn khổ duy nhất để hiểu cả thực tại vật lý và thực tại xã hội, nó đưa chúng ta tiến gần hơn tới cầu nối khoa học giữa thế giới xã hội và thế giới tự nhiên. Và cây cầu này, giống như tất cả những cây cầu khác, sẽ dẫn chúng ta đến một địa điểm mới, như bạn sẽ thấy trong chương tiếp theo: một câu chuyện hiện đại về ý nghĩa của việc trở thành con người.


0 nhận xét:

Đăng nhận xét