Thứ Hai, 30 tháng 1, 2023

How Emotions Are Made - chương 6

 

Chương 6

Bộ não tạo ra cảm xúc như thế nào

Đã bao giờ bạn cảm thấy muốn đấm sếp của mình? Tất nhiên là tôi không bao giờ ủng hộ bạo lực nơi công sở, và nhiều người sếp là những người cộng sự tuyệt vời trong công việc. Nhưng đôi khi chúng ta được ban cho những người sếp – những người có thể nhân cách hóa từ chỉ cảm xúc trong tiếng Đức backpfeifengeicht, nghĩa là “cái mặt đó cần có một cú đấm”.

Giả sử bạn có một người sếp, và khi anh ta đưa thêm việc cho bạn làm trong suốt cả năm. Bạn mong đợi rằng mình sẽ được thăng chức vì đã làm tốt tất cả mọi công việc, nhưng anh ta lại thông báo với bạn rằng, một người nào đó khác sẽ được thăng chức. Bạn sẽ cảm thấy như thế nào?

Nếu bạn sống trong nền văn hóa phương Tây, có thể bạn sẽ cảm thấy tức giận. Não bộ của bạn sẽ sản sinh ra vô số dự đoán về “giận dữ” trong cùng một lúc. Một dự đoán có thể là đập tay lên bàn và hét vào mặt sếp bạn. Một cái khác là đứng dậy rồi bước chầm chậm về phía sếp, cúi người gần mặt sếp rồi thì thầm một cách đầy đe dọa: “Anh sẽ hối hận.” Hoặc bạn có thể ngồi yên trên ghế và vạch ra kế hoạch phá hoại sự nghiệp của sếp.

Những dự đoán khác biệt về “giận dữ” này đều có những điểm giống nhau,  ví dụ như người sếp, không được thăng chức, và mục tiêu trả thù giống nhau. Chúng cũng có rất nhiều khác biệt, bởi vì chúng ta cần nhiều dự đoán về cảm giác và vận động khác nhau để la hét, thì thầm, và im lặng. Trong mỗi tình huống, hành động của bạn rất khác nhau (đập bàn, cúi người, ngồi yên), vì thế các thay đổi bên trong cơ thể của bạn cũng khác nhau, các kết quả của ngân sách cơ thể bạn cũng vậy, vì do đó, các kết quả liên quan đến cảm thụ nội tại và cảm tính cũng khác nhau. Cuối cùng, thông qua một quá trình mà chúng ta sẽ bàn tới ngay sau đây, não bộ của bạn chọn ra phân mục chiến thắng của sự “giận dữ” phù hợp nhất với mục tiêu của bạn trong tình huống cụ thể này. Phân mục chiến thắng sẽ xác định xem bạn sẽ cư xử như thế nào và trải nghiệm điều gì. Quá trình này chính là phân loại.

Tuy nhiên, kịch bản này có thể diễn ra theo nhiều cách khác. Bạn có thể nổi giận với một mục tiêu khác, ví dụ như, thay đổi suy nghĩ của sếp, hoặc duy trì quan hệ xã hội với người đồng nghiệp sắp được thăng chức. Hoặc bạn có thể kiến tạo nên một phân mục cảm xúc khác như “hối hận” hoặc “sợ hãi”, hoặc một thứ phi cảm xúc như “giải phóng” hay một triệu chứng thể chất như “đau đầu”, hoặc một nhận thức rằng sếp của bạn là “đồ ngốc”. Trong mỗi tình huống, não của bạn đi theo một quá trình giống nhau, phân loại để tìm ra thứ thích hợp nhất với toàn bộ tình huống và các cảm giác nội tại của bạn, dựa trên các trải nghiệm quá khứ. Sự phân loại này có nghĩa là chọn lọc một phân mục chiến thắng – thứ sẽ trở thành nhận thức của bạn và dẫn dắt hành động của bạn.

Để kiến tạo nên cảm xúc đòi hỏi một tập hợp các khái niệm phong phú, như bạn sẽ đọc được trong chương tiếp theo. Bây giời, bạn sẽ biết được cách thức mà bộ não đã thu thập và sử dụng hệ thống khái niệm từ những khoảnh khắc sớm nhất khi bạn còn là trẻ sơ sinh. Sau đó, bạn cũng sẽ học được các nền tảng thần kinh cho một vài chủ đề quan trọng mà bạn đã nhìn thấy trước đó: khả năng nhận định chi tiết cảm xúc (emotional granularity), tư duy quần thể (population thinking), tại sao chúng ta có cảm giác là các cảm xúc bị kích thích hơn là được kiến tạo nên, và tại sao các vùng lập ngân sách cơ thể có thể ảnh hưởng đến mọi quyết định và hành động mà bạn làm ra. Khi xem xét tổng thể, những lời giải thích này sẽ gợi ra một khuôn khổ thống nhất về cách mà bộ não tạo ra ý nghĩa: một trong những bí ẩn phi thường nhất của trí óc nhân loại.

Bộ não của trẻ sơ sinh thường không có hầu hết các khái niệm mà người lớn chúng ta có. Các em bé không biết kính viễn vọng là gì, hay con hải sâm, hay đi pic-nic, chứ đừng nói đến các khái niệm thuần tinh thần như “tính khí thất thường” hay “schadenfreude”. Một em bé mới lọt lòng có mức độ mù kinh nghiệm rất cao. Không có gì đáng ngạc nhiên khi não bộ của trẻ sơ sinh không dự đoán tốt. Một bộ não trưởng thành được thống trị bởi sự dự đoán, nhưng một bộ não sơ sinh thì chứa đầy lỗi dự đoán. Vì thế, các em bé phải học về thế giới bên ngoài thông qua các thông tin cảm giác đầu vào trước khi bộ não của chúng có thể định hình thế giới. Quá trình học hỏi này là nhiệm vụ đầu tiên của bộ não sơ sinh.

Đầu tiên, đối với bộ não của trẻ sơ sinh, phần lớn các thông tin cảm giác đầu vào đều rất mới mẻ, và thường không xác định được tầm quan trọng của những thông tin này, nên chúng ít khi bị bỏ qua. Nếu xem các thông tin cảm giác đầu vào như một hòn đá nảy trên mặt sóng các hoạt động của não bộ, thì đối với trẻ sơ sinh, hòn đá này là một tảng đá lớn. Trẻ sơ sinh hấp thụ thông tin đầu vào xung quanh chúng và liên tục học hỏi. Nhà tâm lý học phát triển Alison Gopnik mô tả rằng sự chú ý của các em bé giống như một “chiếc đèn lồng” sáng chói như ánh sáng lại bị phân tán. Ngược lại, não bộ của người lớn có một mạng lưới để tắt những thông tin ngoài lề dự đoán, cho phép bạn làm những điều như đọc cuốn sách này mà không bị phân tâm. Sự chú ý của bạn giống như một cái “đèn chiếu”, chỉ chiếu sáng một vài thứ nhất định, ví dụ như những từ ngữ này, và để những thứ khác ở yên trong bóng tối. Bộ não “đèn lồng” của trẻ sơ sinh thì không thể chú ý theo cách này được.

Nếu mọi chuyện diễn ra bình thường, sau vài tháng, bộ não sơ sinh bắt đầu dự đoán một cách hiệu quả hơn. Các cảm giác từ thế giới bên ngoài sẽ trở thành các khái niệm trong mô hình thế giới của trẻ sơ sinh; những thứ bên ngoài bây giờ trở thành những thứ bên trong. Các trải nghiệm cảm giác, theo thời gian, đã tạo ra cơ hội cho bộ não sơ sinh kết hợp các dự đoán trải dài khắp các giác quan. Bụng sôi lên trong một căn phòng sáng sủa sau khi tỉnh dậy có nghĩa là trời sáng rồi, trong khi sự ướt át ấm áp với ánh sáng tỏa ra từ trên đầu có nghĩa là giờ tắm buổi tối. Khi con gái Sophia của tôi chỉ mới vài tuần tuổi, chúng tôi đã lợi dụng những dự đoán đa giác quan này để giúp con bé hình thành khuôn khổ giờ ngủ, và qua đó giúp chúng tôi không trở thành các thây ma thiếu ngủ. Chúng tôi cho còn bé nghe những bài hát đặc biệt, những câu chuyện đặc biệt, những tấm chăn màu sắc đặc biệt, và có những nghi thức đặc biệt để giúp con bé phân biệt được một cách thống kê giữa giấc ngủ ngắn buổi trưa và giờ ngủ buổi tối, từ đó con bé có thể ngủ trong thời gian ngắn hơn hoặc dài hơn.

Làm thế nào mà bộ não trẻ sơ sinh, thứ vốn được trang bị vô số các khái niệm cụ thể và bị chi phối bởi lỗi dự đoán, cuối cùng lại tập hợp được hàng nghìn khái niệm thuần túy tinh thần và phức tạp như “tê dại” và “tuyệt vọng”, và mỗi khái niệm đó lại bao gồm một quần thể các phân mục đa dạng? Đây thực sự là một câu hỏi về kỹ thuật, và lời giải đáp cho câu hỏi này có thể được tìm thấy trong cấu trúc của vỏ đại não loài người. Tất cả đều quy về một vài vấn đề cơ bản liên quan đến hiệu suất và năng lượng. Một bộ não sơ sinh phải liên tục học hỏi và cập nhật các khái niệm của nó trong một môi trường luôn thay đổi. Nhiệm vụ này đòi hỏi một bộ não vô cùng mạnh mẽ và hoạt động hiệu quả. Nhưng bộ não này có một số ràng buộc thực tế. Các mạng lưới thần kinh của nó chỉ có thể phát triển với kích thước để nằm gọn trong sọ não – và sọ não thì chỉ có kích thước đủ nhỏ để có thể lọt qua khung xương chậu của mẹ để ra đời. Các neuron là những tế bào nhỏ bé và để nuôi sống chúng thì rất đắt đỏ (chúng cần rất nhiều năng lượng), và do đó, bộ não phải giới hạn số lượng liên kết để trao đổi chất và vẫn có thể hoạt động. Vì thế, bộ não sơ sinh phải chuyển tiếp thông tin một cách hiệu quả bằng cách chuyển nó qua càng ít neuron càng tốt.

Giải pháp cho thử thách mang tính kỹ thuật này đến từ vỏ não – thứ biểu thị cho các khái niệm, từ đó các điểm giống nhau sẽ phân tách khỏi các điểm khác nhau. Như bạn sẽ thấy, sự phân tách này sẽ tạo ra một sự tối ưu hóa to lớn.

Bất cứ khi nào bạn xem một video trên Youtube, bạn cũng có thể chứng kiến sự truyền thông tin hiệu quả tương tự. Một video là một loạt các hình ảnh tĩnh hoặc các “khung ảnh” được trình chiếu liên tục một cách nhanh chóng. Tuy nhiên, chuyển từ từ khung hình này sang khung hình khác thì khá là dư thừa, vì vậy khi máy chủ của YouTube gửi luồng thông tin video qua Internet đến máy tính hoặc điện thoại của bạn, nó không cần gửi từng pixel từ tất cả các khung hình. Sẽ hiệu quả hơn nếu có chỉ gửi những chi tiết thay đổi từ khung hình này sang khung hình tiếp theo, bởi vì những vùng tĩnh trong khung hình trước đều đã được chuyển đi rồi. Youtube đã phân tách các điểm giống nhau khỏi các điểm khác nhau để đẩy nhanh tốc độ việc truyền tải, và phần mềm trong điện thoại hay máy tính của bạn lắp ráp các mảnh này thành một video liên tục.

Bộ não con người cũng hoạt động theo cách tương tự khi nó xử lý các lỗi dự đoán. Các thông tin cảm giác từ hình ảnh cũng có mức độ dư thừa và rườm rà không kém các video, và các âm thanh, mùi hương hay các giác quan khác cũng như vậy. Bộ não biểu thị thông tin này dưới dạng các khuôn mẫu kích hoạt neuron, và sẽ có lợi hơn (hiệu quả hơn) khi biểu thị chúng với càng ít neuron càng tốt.

Ví dụ, hệ thống thị giác của bạn biểu thị một đường thẳng khi một nhóm các neuron phun lửa (firing) vào vỏ não thị giác sơ cấp. Giả sử có một nhóm neuron thứ hai phun lửa để biểu thị đường thẳng thứ hai – dựng đứng 90 độ so với đường thẳng đầu tiên. Nhóm neuron thứ ba có sẽ tóm lược mối quan hệ thống kê giữa hai đường thẳng này một cách hiệu quả thông qua việc sử dụng khái niệm đơn giản “góc”. Bộ não sơ sinh có thể nhìn thấy hàng trăm cặp các đường thẳng giao nhau với độ dài, độ dày và màu sắc khác nhau, nhưng về mặt khái niệm, chúng đều là phân mục của “góc”, mỗi cái đều được tóm lược hiệu quả bởi một số nhóm neuron nhỏ hơn. Những tóm tắt này sẽ xóa bỏ những chi tiết dư thừa rườm rà. Theo cách này, bộ não đã tách rời các điểm giống nhau theo thống kê khỏi các điểm khác nhau về cảm giác.

Cũng theo cách này, các phân mục của khái niệm “góc” tự bản thân chúng là một phần của các khái niệm khác. Ví dụ như, một đứa trẻ nhận được thông tin thị giác đầu vào về dương mặt của mẹ mình từ nhiều góc nhìn khác nhau: khi đang chăm sóc mình, khi đang ngồi mặt đối mặt, vào buổi sáng và vào buổi tối. Khái niệm về “góc” của đứa trẻ sẽ là một phần của khái niệm “mắt” – thứ giúp tóm lược các đường nét thay đổi liên tục từ mắt mẹ ở những góc độ khác nhau và dưới ánh sáng khác nhau. Những nhóm thần kinh khác nhau phun lửa để biểu thị các phân mục đa dạng của khái niệm “mắt”, cho phép trẻ sơ sinh nhận ra những đôi mắt này thuộc về mẹ của chúng, bất chấp sự thay đổi cảm giác.

Khi chúng ta đi từ những khái niệm cụ thể đến những khái niệm chung chung hơn (trong ví dụ này, từ đường thẳng đến đôi mắt), bộ não đã tạo ra các điểm giống nhau để tóm tắt thông tin hiệu quả hơn. Ví dụ, “góc” là một cách tóm tắt hiệu quả liên quan đến đường thẳng nhưng nó là một chi tiết cảm giác liên quan đến mắt. Logic tương tự cũng áp dụng cho các khái niệm như “mũi”, “tai”, v.v. Cùng với nhau, những khái niệm này trở thành một phần của khái niệm “gương mặt”, phân mục của nó là những tóm tắt hiệu quả hơn cho các quy luật cảm giác từ đặc tính khuôn mặt. Cuối cùng, bộ não của trẻ sơ sinh định hình sự biểu thị tóm tắt với đủ khái niệm thị giác để chúng có thể nhìn thấy một vật thể cố định, mặc dù nó biến đổi một cách đáng kinh ngạc ở mức độ các chi tiết giác quan cấp thấp. Hãy nghĩ về điều này: mỗi bên mắt của bạn truyền hàng triệu các mẩu thông tin tí hon đến não của bạn trong một khoảnh khắc, và bạn chỉ đơn giản nhìn thấy “một cuốn sách”.

Nguyên lý này – tìm kiếm điểm giống nhau để đạt hiệu suất cao hơn – không chỉ dùng để mô tả hệ thống thị giác, nó cũng hoạt động trong mỗi một hệ thống giác quan (thính giác, khứu giác, các cảm giác nội tại, v.v.) và trong các khuôn mẫu của các cảm giác khác nhau kết hợp với nhau. Hãy xem xét một khái niệm thuần tinh thần là “Mẹ”. Khi một em bé được cho bú vào buổi sáng, các nhóm neuron phun lửa vào các hệ thống giác quan khác nhau, theo các khuôn mẫu thống kê liên quan, để biểu thị hình ảnh thị giác của người mẹ, âm thanh giọng nói của mẹ, mùi của mẹ, cảm giác xúc giác khi được bế, năng lượng tăng len khi được cho bú, và các cảm giác no bụng, cộng thêm niềm vui khi được cho bú và được ôm ấp. Tất cả những biểu hiện này liên kết với nhau, và bảng tóm tắt của chúng được biểu thị ở một nơi khác, theo một khuôn mẫu phun lửa trong một nhóm các neuron nhỏ hơn, và trở thành phân mục “mẹ” đa giác quan thô sơ. Những lần cho bú khác trong này, những bảng tóm tắt khác của khái niệm “mẹ” cũng sẽ được tạo ra theo cách tương tự, sử dụng như nhóm neuron tương tự - nhưng không hoàn toàn giống nhau. Khi đứa trẻ với tay lên món đồ chơi đang treo phía lên cũi của mình, nhìn ngắm những món đồ chơi này xoay tròn trong không trung, và bất kỳ cảm giác xúc giác hay cảm giác nội tại nào, tất cả những điều này đều liên kết với sự suy giảm năng dượng do vận động của chúng, não của chúng sẽ tóm tắt những sự kiện liên quan theo thống kê này với nhau để tạo thành một phân mục “mình” (self) đa giác quan thô sơ ban đầu.

Theo cách này, một bộ não sơ sinh sẽ chắt lọc các mô hình kích hoạt neuron phân tán khắp nơi của từng giác quan riêng lẻ thành một bảng tóm lược đa giác quan. Quy trình này đã giảm thiểu các chi tiết dư thừa và biểu thị thông tin ở dạng tối giản và hiệu quả nhất cho mục đích sử dụng trong tương lai. Giống như khi chúng ta sấy khô thức ăn để chúng ít chiếm diện tích hơn khi lưu giữ, và nấu thức ăn cho chúng trở lại dạng ban đầu trước khi ăn. Sự hiệu quả này giúp bộ não hình thành các khái niệm thô sơ như “Mẹ” và “Mình” từ việc học hỏi.

Khi đứa trẻ lớn hơn, não bộ của nó bắt đầu dự đoán hiệu quả hơn thông qua việc sử dụng các khái niệm – nhưng, dĩ nhiên nó sẽ vẫn phạm lỗi. Ví dụ như, khi Sophia được ba tuổi, chúng tôi đi mua sắn và con bé nhìn thấy một người đàn ông ở trước mặt chúng tôi có kiểu tóc tết thành búi (dreadlock). Cho tới thời điểm đó, con bé chỉ biết có ba người có kiểu tóc này: chú Kevin yêu quý của con bé, người có chiều cao trung bình và làn da tối màu, một người quen cũng có làn da tối màu như khá cao và có đôi vai rộng; và một người hàng xóm của chúng tôi, nữ và thấp với làn da sáng màu. Lúc đó, não của Sophia điên cuồng đưa ra rất nhiều dự đoán cạnh tranh với nhau để xem cái nào có thể trở thành trải nghiệm của con bé. Giả sử trong các trải nghiệm quá khứ của Sophia có 100 dự đoán về chú Kevin, từ nhiều nơi khác nhau, nhiều thời điểm và góc độ khác nhau, 14 dự đoán đến từ người quen của con bé, và khoảng 60 dự đoán đến từ hàng xóm nữ. Mỗi một dự đoán đều được sắp xếp từ các mẩu và mảnh từ các khuôn mẫu trong não bộ con bé, hòa trộn và khớp với nhau. 174 dự đoán này cũng được kết hợp với nhiều dự đoán khác từ nhiều người, nơi chốn, và những vật thể từ các trải nghiệm trước đây của Sophia – bất kỳ thứ gì liên quan về mặt thống kê với cảnh tượng phía trước con bé.

Tổng cộng quần thể 174 dự đoán của Sophia là thứ mà chúng ta gọi là một “khái niệm” (trong trường hợp này, là khái niệm “Những người có bộ tóc tết thành búi”). Khi chúng ta nói rằng những phân mục này được nhóm thành một khái niệm, hãy lưu ý rằng không có “nhóm” nào được lưu trữ trong não của Sophia. Không có khái niệm nào được biểu thị bởi luồng thông tin giữa một tập hợp đơn lẻ các neuron; mỗi khái niệm tự bản thân nó là một quần thể các phân mục, và những phân mục này được biểu thị bởi các khuôn mẫu neuron khác nhau trong mỗi tình huống (đây là sự thoái hóa). Khái niệm được kiến tạo theo từng thời điểm, nếu cần. Và trong vô số các phân mục này, một trong số chúng sẽ giống nhất (dựa trên so sánh khuôn mẫu) với tình huống hiện tại của Sophia. Đây là thứ mà chúng ta đã gọi là “phân mục chiến thắng”.

Trong ngày đặc biệt đó, Sophia đã nhào ra khỏi xe nôi của con bé, chạy xuyên qua trung tâm thương mại, và choàng hai cánh tay nhỏ bé của nó quanh chân người đàn ông, la lên, “chú KEVIN!” Tuy nhiên, niềm vui của con bé rất ngắn ngủi, vì chú Kevin lúc này đang ở nhà, cách đây sáu trăm dặm. Con bé ngước nhìn lên khuôn mặt của một người hoàn toàn xa lạ và hét lên.

Quy trình chung tương tự của xuất hiện với những khái niệm thuần tinh thần như “nỗi buồn”. Một đứa trẻ nghe thấy từ “buồn” trong ba tình huống khác nhau. Những phân mục này được biểu thị trong não đứa trẻ dưới dạng các mẩu và mảnh nhỏ. Chúng không được “nhóm lại với nhau” một cách cố định. Dưới tình huống thứ tư, đứa trẻ nhìn thấy một bạn nam trong lớp mình khóc, và giáo viên dùng chữ “buồn”. Não đứa trẻ kiến tạo ba phân mục thành các dự đoán, kèm theo những dự đoán tương tự về mặt thống kê theo bất kỳ cách nào với tình huống hiện tại. Tập hợp các dự đoán này là một khái niệm được tạo ra ở ngay thời điểm đó, xuất phát từ các điểm tương đồng thuần tinh thần của các phân mục “nỗi buồn”. Một lần nữa, dự đoán nào giống nhất với tình huống hiện tại sẽ trở thành trải nghiệm của con bé – một phân mục cảm xúc.

Đã đến lúc tôi phải giải thích trực tiếp điều mà trước giờ tôi chỉ ngụ ý trong lời nói của mình. Hai hiện tượng mà tôi đang bàn tới thực sự chỉ là một thứ. Tôi đang nói về các khái niệm và các dự đoán.

Khi nói rằng não của bạn “kiến tạo một phân mục khái niệm”, như một phân mục của “niềm vui”, nó cũng tương đương với việc nói rằng não của bạn “tạo ra một dự đoán” về niềm vui. Khi não của Sophia tạo ra 100 dựa đoán về Chú Kevin, mỗi một dự đoán là một phân mục của khái niệm “chú Kevin” nhất thời, được con bé tạo ra trước khi chộp lấy cái chân của người lạ.

Trước đây, tôi đã tách rời các dự đoán và các khái niệm để đơn giản hóa một số giải thích. Tôi có thể dùng chữ “dự đoán” xuyên suốt cuốn sách này và không bao giờ đề cập đến tự “khái niệm”, hay ngược lại, nhưng các thông tin sẽ dễ truyền đạt hơn và dễ hiểu hơn, bởi vì các dự đoán thì bay xuyên qua não bộ, còn các kiến thức thì được hiểu như các khái niệm. Bây giờ, chúng ta sẽ bàn về cách mà các khái niệm hoạt động trong não bộ, chúng ta phải xem các khái niệm như các dự đoán.

Khi còn nhỏ, bạn đã xây dựng nên các khái niệm từ các thông tin cảm giác đầu vào (lỗi dự đoán) từ cơ thể của bạn và từ thế giới. Não bộ của bạn đã nén các thông tin cảm giác đầu vào mà nó nhận được một cách hiệu quả, cũng như cái cách mà YouTube đã nén các video, trích xuất các điểm giống nhau ra khỏi các điểm khác nhau, cuối cùng tạo ra một bảng tóm lược đa giác quan hiệu quả. Một khi não bộ của bạn đã học được một khái niệm theo cách này, nó có thể chạy quy trình này theo cách ngược lại, mở rộng các điểm giống nhau thành các điểm khác nhau để kiến tạo nên một phân mục khái niệm, như cái cách máy tính hay điện thoại của bạn mở rộng video trên Youtube để trình chiếu. Đây là một dự đoán. Hãy nghĩ về dự đoán như thể đang “ứng dụng” một khái niệm, điều chỉnh các hoạt động trong giác quan sơ cấp và các vùng vận động trong bạn, và chỉnh sửa hoặc bổ sung chúng nếu cần.

Hãy tưởng tượng rằng bạn đang ở trung tâm thương mại, như tôi với con gái của mình, đang đi dọc theo các cửa hàng. Trung tâm thương mại ồn ào, và mọi người đang đi dạo vòng quanh, cửa hàng chất đầy đồ đạc khuyến mãi trưng bày ở các khung cửa sổ, và não bộ của bạn, như thường lệ, đang bận rộn tạo ra hàng ngàn dự đoán trong cùng một lúc. “Có một chuyển động ngay trước mặt tôi.” “Có chuyển động bên trái tôi.” “Hơi thở của tôi đang chậm lại.” “Bụng của tôi đang sôi lên.” “Tôi nghe thấy tiếng cười.” “Tôi đang bình tĩnh.” “Tôi đang cô đơn.” “Tôi nhìn thấy hàng xóm của mình.” “Tôi nhìn thấy chàng trai nhân viên bưu điện tử tế.” “Tôi nhìn thấy Chú Kevin.” Cứ cho là ba dự đoán cuối về người ở đây là các phân mục của khái niệm “niềm vui”, liên quan đến các cảm xúc dành cho bạn bè. Não của bạn đồng thời kiến tạo nên nhiều phân mục của khái niệm này, dựa trên các trải nghiệm quá khứ trong các tình huống tương tự khi bạn bất ngờ bắt gặp bạn bè của mình. Mỗi một phân mục đều có khả năng là phân mục chính xác nhất vào thời điểm này.

Hãy tập trung vào một trong số các phân mục này, dự đoán của bạn khi bạn bất ngờ nhìn thấy Chú Kevin yêu quý trong trung tâm thương mại. Não bộ của bạn tạo ra dự đoán này bởi vì, ở một thời điểm nào đó trong quá khứ, bạn nhìn thấy chú Kevin trong một tình huống tương tự và trải nghiệm các cảm giác mà bạn đã phân loại là “niềm vui”. Dự đoán này phù hợp với các thông tin cảm giác đầu vào ngay lúc này ở mức độ nào? Nếu nó phù hợp hơn so với các dự đoán khác, thì bạn sẽ trải nghiệm phân mục “hạnh phúc” này. Nếu không, não của bạn sẽ chỉnh sự dự đoán, và bạn sẽ trải nghiệm một phân mục “thất vọng”. Hoặc nếu cần thiết, não của bạn sẽ tạo ra một dự đoán phù hợp với thông tin cảm giác đầu vào, và bạn sẽ nhận nhầm ai đó thành Chú Kevin của bạn, như Sophia đã nhận nhầm vào ngày hôm đó.

Do đó, bạn đứng trong trung tâm thương mại, và não bạn phải xác định liệu dự đoán của nó về Chú Kevin cuối cùng có trở thành nhận thức của bạn và chỉ đạo hành động của bạn hay không, hay liệu dự đoán này cần phải được chỉnh sửa. Để xác định các chi tiết, bộ não phải mở bảng tóm lược của tất cả các thông tin cảm giác đầu vào thành những tầng tầng lớp lớp các dự đoán chi tiết hơn, giống như Youtube đã giải nén các video để người xem có thể xem, hoặc giống như khi chúng ta ngâm thức ăn khô cho nở ra rồi mới có thể nấu được. Quá trình này, như trong hình 6-1, chính là quá trình kiến tạo khái niệm từ các chi tiết đang chạy theo chiều ngược lại.

Ví dụ như, khi dự đoán về “niềm vui” đi đến phần trên của hệ thống thị giác, nó có thể giải nén các chi tiết về ngoại hình của chú Kevin, chẳng hạn như chú ấy đang quay mặt về phía bạn hay ngược hướng, và chú ấy đang mặc quần áo gì. Những chi tiết này chính là bản thân dự đoán dựa trên các khả năng (ví dụ như, Chú Kevin sẽ không bao giờ mặc đồ kẻ sọc), từ đó não của bạn có thể so sánh sự mô phỏng với các thông tin cảm giác đầu vào và tính toán và giải quyết bất kỳ lỗi dự đoán nào. Sự phân giải này không xảy ra từng bước một mà xảy ra ở hàng triệu mẩu và mảnh cùng một lúc (cũng giống như vòng lặp dự đoán mà chúng ta đã thảo luận trong chương 4). Mỗi một chi tiết thị giác đều lần lượt được mở ra thành những dự đoán thầm chí còn chi tiết hơn, ví dụ như màu sắc và hoa văn của cái áo, v.v, mỗi một dư đoán đều có nhiều vòng lập dự đoán và các tầng lớp và lại mở ra những dự đoán khác. Tầng tầng lớp lớp này kết thúc ở vỏ não thị giác sơ cấp, thứ biểu thị cho các khái niệm thị giác cấp thấp nhất của bạn trong cơn lốc xoáy của những góc cạnh và đường nét liên tục thay đổi.

Hình 6-1: Tầng tầng lớp lớp các khái niệm. Khi bạn phát triển một khái niệm (phải sang trái), các thông tin cảm giác đầu vào được nén thành các bảng tóm lược đa giác quan hiệu quả. Khi bạn kiến tạo một phân mục khái niệm bằng dự đoán (trái sang phải), những bảng tóm lược hiệu quả này được mở ra thành những dự đoán còn chi tiết hơn, những dự đoán này được kiểm tra so sánh với thông tin cảm giác đầu vào thực tế ở mỗi một giai đoạn.

Ở tất cả mọi nơi, các tầng tầng lớp lớp này bắt đầu với người bạn cũ của chúng ta: mạng lưới cảm thụ nội tại. Đây là nơi các bảng tóm lược đa giác quan được kiến tạo trong não của bạn. Các tầng lớp này kết khúc ở các vùng giác quan sơ cấp, nơi mà những chi tiết tí hon nhất trong trải nghiệm của bạn được biểu thị, không chỉ là thị giác như trong ví dụ của chúng ta mà còn là thính giác, xúc giác, cảm thụ nội tại và các giác quan còn lại.

Nếu một tầng lớp của dự đoán chịu trách nhiệm cho thông tin cảm giác đầu vào đang hiện hữu – Chú Kevin thực sự đang ở trước mặt bạn, tóc của chú ấy hất ngược về sau theo một cách đặc biệt, chú ấy mặc một cái áo đặc biệt, và giọng của chú ấy cũng vang lên một cách đặc biệt, cơ thể của bạn đang ở một trạng thái đặc biệt, v.v – thì bạn sẽ kiến tạo ra một phân mục “niềm vui” liên quan đến cảm giác gắn kết với bạn bè. Đó là toàn bộ các tầng lớp của phân mục “niềm vui” khi bạn nhìn thấy người chú của mình. Bạn cảm thấy rất vui vẻ.

Các tầng lớp khái niệm tiết lộ một số lý giải liên quan đến thần kinh cho một vài tuyên bố mà tôi đã nói ở phần trước của cuốn sách. Đầu tiên, các tầng lớp trong dự đoán của bạn giải thích lý do tại sao bạn lại có cảm giác rằng một trải nghiệm như niềm vui là thứ được kích thích ra chứ không phải được tạo nên. Bạn mô phỏng một phân mục của “niềm vui” trước khi quá trình phân loại hoàn thành. Não bộ của bạn chuẩn bị sẵn để tiến hành các chuyển động trên mặt và cơ thể của bạn trước khi bạn cảm giác được sự chuyển động này, và nó dự đoán các thông tin cảm giác đầu vào trước khi chúng thực sự đến. Vì thế, các cảm xúc trông có vẻ nư là “xảy ra” với bạn, trong khi thực tế là não của bạn đã chủ động kiến tạo nên trải nghiệm này dựa trên trạng thái của cơ bên bạn và của thế giới xung quanh.

Thứ hai, các tầng lớp đã giải thích tuyên bố của tôi trong chương 4, rằng: mọi suy nghĩ, ký ức, cảm xúc hay nhận thức mà bạn kiến tạo trong đời đều bao gồm một điều gì đó liên quan đến trạng thái cơ thể bạn. Mạng lưới cảm thụ nội tại của bạn, thứ điều khiển ngân sách cơ thể bạn, khởi động các tầng lớp này. Mọi dự đoán mà bạn tạo ra, mọi phân loại mà não bộ tạo ra, luôn liên kết với các hoạt động của tim và phổi của bạn, của hệ tiêu hóa, của các chức năng miễn dịch và các hệ thống khác đang tham gia vào quỹ ngân sách cơ thể của bạn.

Thứ ba, các tầng lớp cũng đã nhấn mạnh các lợi thế thần kinh của khả năng nhận định chi tiết cảm xúc ở cao, hiện tượng mà chúng ta kiến tạo ra những trải nghiệm cảm xúc chính xác hơn (đã mô tả trong chương 1). Khi não bộ kiến tạo nên các phân mục của “niềm vui” khi nhìn thấy Chú Kevin, nó phải phân loại xem cái nào giống với thông tin cảm giác đầu vào hiện tại nhất, để trở thành phân mục chiến thắng. Đó là một công việc to lớn mà não phải làm với một ít chi phí trao đổi chất. Nhưng hãy tưởng tượng nếu ngôn ngữ tiếng Anh có nhiều từ cụ thể hơn “niềm vui” (happiness) để diễn tả cảm giác gắn kết với bạn bè, như từ tiếng Hàn “jeong” () . Não của bạn sẽ cần ít năng lượng hơn để kiến tạo nó với khái niệm chính xác hơn. Thậm chí, nếu bạn có một từ đặc biệt chuyên dụng cho “niềm vui khi được ở gần chú Kevin của tôi”, não của bạn sẽ còn làm việc hiệu quả hơn khi phải xác định phân mục chiến thắng. Mặt khác, nếu bạn đang kiến tạo một khái niệm rộng như “cảm giác dễ chịu” (pleasant feeling) thay vì “niềm vui”, công việc của não bộ sẽ khó khăn hơn. Sự chính xác sẽ dẫn tới hiệu quả, đây là lợi thế sinh học của khả năng nhận định chi tiết cảm xúc cao.

Cuối cùng, chúng ta đang nhìn thấy tư duy quần thể đang hoạt động trong não bộ, bởi vì có nhiều dự đoán cùng tạo ra một khái niệm trong một thời điểm. Bạn không kiến tạo duy nhất một phân mục “niềm vui” rồi trải nghiệm nó. Bạn kiến tạo ra một quần thể lớn các dự đoán, mỗi một cái đều có tầng lớp riêng của nó. Quần thể này là một khái niệm. Nó không biểu thị tất cả mọi thứ mà bạn biết về niềm vui, nó chỉ biểu thị các bảng tóm lược phù hợp với mục tiêu của bạn trong tình huống tương tự – vô tình gặp được một người bạn. Trong một tình huống liên quan đến niềm vui khác, ví dụ như nhận được một món quà hay nghe thấy bài hát yêu thích của mình, mạng lưới cảm thụ nội tại của bạn sẽ khởi chạy những bảng tóm lược rất khác (và các tầng lớp rất khác) để biểu thị “niềm vui” trong thời điểm đó. Các cấu trúc động này là một ví dụ khác về tính hiệu quả của não bộ.

Trước đây, các nhà khoa học đã biết rằng các kiến thức từ quá khứ được thiết lập vào các liên kết trong não bộ, sẽ tạo ra các kinh nghiệm mô phỏng trong tương lại, ví dụ như tưởng tượng. Một số nhà khoa học khác lại tập trung vào cách mà các kiến thức này tạo ra trải nghiệm trong thời điểm hiện tại. Nhà khoa học thần kinh đoạt giải Nobel Gerald M. Edelman đã gọi những trải nghiệm của bạn là “hiện tại được ghi nhớ” (the remembered present). Ngày nay, nhờ những tiến bộ trong khoa học thần kinh, chúng ta có thể thấy rằng Edelman đã đúng. Một phân mục của một khái niệm, trong một trạng thái của toàn bộ não bộ, là một suy đoán có tính chất dự đoán về việc bạn nên hành động như thế nào trong thời điểm hiện tại và cảm giác của bạn có ý nghĩa gì.

Mô tả của tôi về các tầng lớp khái niệm chỉ là một phác họa của một quy trình song song lớn hơn rất nhiều. Trong đời sống thực, não của bạn không bao giờ phân loại 100% một khái niệm và 0% với những khái niệm khác. Các dự đoán có tính xác suất cao hơn như thế nhiều. Não của bạn khởi chạy hàng nghìn dự đoán đồng thời ở mọi thời điểm. Khi bạn kiến tạo nên một trăm dự đoán khác nhau cùng một lúc về Chú Kevin ở một thời điểm, mỗi dự đoán đều là một tầng lớp. (Nếu bạn muốn biết các chi tiết sâu hơn về khoa học thần kinh, hãy xem bảng phụ lục D.)

Mỗi khi bạn phân loại các khái niệm, não của bạn tạo ra rất nhiều dự đoán cạnh tranh với nhau khi bị dội bom bởi thông tin cảm giác đầu vào. Những dự đoán nào sẽ chiến thắng? Những thông tin cảm giác đầu vào nào quan trọng, những thông tin nào thì chỉ là tiếng ồn ào không cần thiết? Não của bạn có một mạng lưới giúp giải quyết những vấn đề không rõ ràng, được gọi là mạng lưới kiểm soát (control network). Đây chính là mạng lưới đã chuyển đổi sự chú ý của chúng ta từ “chiếc đèn lồng” khi còn là trẻ sơ sinh thành “đèn chiếu” khi chúng ta trưởng thành.

Ảo ảnh thị giác nổi tiếng trong hình 6-2 đã mô tả cách mà mạng lưới kiểm soát của bạn hoạt động. Tùy thuộc vào hoàn cảnh, ví dụ như khi bạn nhìn theo chiều ngang hay theo chiều dọc, bạn sẽ nhận thức biểu tượng ở chính giữa là chữ “B” hay số “13”. Mạng lưới kiểm soát của bạn giúp chọn lọng ra khái niệm chiến thắng – chữ hay số? trong từng thời điểm.


 

Hình 6-2: mạng lưới kiểm soát giúp não chọn lọc giữa 2 phân loại tiềm năng: trong trường hợp này là chữ “B” và “13”

Mạng lưới kiểm soát của bạn cũng giúp kiến tạo nên các phân mục cảm xúc. Giả sử bạn vừa cãi nhau với một người quan trọng của bạn, và bây giờ bạn đang bị tức ngực. Nó là sẽ là một cơn đau tim, hay chứng khó tiêu, hay một trải nghiệm tức giận, hay nhận thức rằng người cãi nhau với bạn đã rất vô ly? Mạng lưới cảm thụ nội tại của bạn sẽ khởi chạy hàng trăm các phân mục của những khái niệm khác nhau, chúng cạnh tranh với nhau, mỗi phân mục sẽ có các tầng lớp phủ rộng toàn bộ não, để giải quyết vấn đề khó khăn này. Mạng lưới kiểm soát của bạn sẽ tham gia và việc kiến tạo và chọn lọc một cách hiệu quả giữa các phân mục ứng cử viên này để não bộ có thể chọn ra phân mục chiến thắng. Nó giúp các neuron tham gia vào một số sự kiến tạo nhất định, cái này thay vì cái khác, giữ cho một số phân mục sống sót và đè ép những phân mục khác. Kết quả tương tự như việc chọn lọc từ nhiên, phân mục nào phù hợp nhất với tình huống hiện tại sẽ sống sót để định hình nhận thức và hành động của bạn.

Cái tên “mạng lưới kiểm soát” là không may mắn, vì nó ám chỉ vị trí quyền lực, như thể mạng lưới này chính là thứ làm ra các quyết định và điều khiển quá trình. Nhưng không phải như vậy. Mạng lưới kiểm soát của bạn chỉ là một thứ giúp tối ưu hóa. Nó liên tục điều chỉnh luồng thông tin giữa các tế bào thần kinh, tâng tốc mức độ phun lửa của một số neuron và làm chậm một số khác, khiến thông tin cảm giác đầu vào chuyển vào trong hay chuyển ra khỏi ánh đèn chiếu của sự chú ý, tạo ra một số dự đoán phù hợp và khiến một số dự đoán khác trở nên không liên quan. Cũng giống như một đội xe đua liên tục tối ưu hóa động cơ và thân xe để khiến chiếc xe nhanh hơn và an toàn hơn. Sự điều chỉnh này rốt cuộc sẽ giúp não đồng thời điều khiển ngân sách cơ thể bạn, sản sinh ra một nhận thức vững chắc, và khởi chạy một hành động.

Mạng lưới kiểm soát cũng giúp chọn lọc giữa các khái niệm cảm xúc và các khái niệm phi cảm xúc (đây là căng thẳng hay chỉ là khó tiêu?), giữa các khái niệm cảm xúc khác nhau (đây là do hưng phấn hay sợ hãi?), giữa các mục tiêu khác nhau cho một khái niệm cảm xúc (nếu sợ hãi, mình nên bỏ trốn hay tấn công?), và giữa các phân mục khác nhau, (khi bỏ chạy, mình có nên la lên hay không?). Khi bạn xem một bộ phim, mạng lưới kiểm soát của bạn có thể ưu tiên mạng lưới thị giác và thính giác của bạn, đưa bạn đến với câu chuyện. Những lúc khác thì nó có thể làm nhạt nhòa năm giác quan truyền thống để nhấn mạnh vào cảm tính mãnh liệt hơn, tạo ra một trải nghiệm cảm xúc. Phần lớn sự điều chỉnh này xảy ra mà bạn không ý thức được.

Một số nhà khoa học xem mạng lưới kiểm soát như một mạng lưới “điều chỉnh cảm xúc”. Họ giả định rằng sự điều chỉnh cảm xúc là một quá trình nhận thức tồn tại riêng biệt so với bản thân cảm xúc, ví dụ như, khi bạn tức giận với sếp mình nhưng cố gắng kềm chế không đấm ông ta. Tuy nhiên, từ góc nhìn của não bộ, sự điều chỉnh cũng chỉ là một cách phân loại mà thôi. Khi bạn trải nghiệm thứ cảm giác giống như “lý trí đang kềm chế cảm xúc” – một chuyện khá hoang đường, mà giờ bạn đã biết là không liên quan đến cách thiết lập của bộ não – bạn đang kiến tạo một phân mục của khái niệm “Điều chỉnh Cảm xúc”.

Mạng lưới kiểm soát và mạng lưới cảm thụ nội tại của bạn, như bạn đã thấy, rất quan trọng trong việc kiến tạo cảm xúc. Hơn nữ, hai mạng lưới cốt lõi này cùng chứa đựng phần lớn các trung tâm giao tiếp chính xuyên suốt não bộ. Hãy nghĩ về sân bay lớn nhất thế giới phục vụ nhiều hãng hàng không. Một khách du lịch ở Sân Bay Quốc Tế JFK ở New York có thể chuyển đổi giữa Hãng hàng không American Airlines và British Airways bởi vì hai hãng này trùng lặp nhau ở đây. Tương tự, thông tin có thể di chuyển một cách hiệu quả giữa những mạng lưới khác nhau trong não của bạn thông qua các trung tâm chính trong mạng lưới kiểm soát và mạng lưới cảm thụ nội tại.

Những trung tâm chính này giúp đồng bộ hóa rất nhiều luồng thông tin trong não của bạn, nhiều đến mức chúng thậm chí có thể là điều kiện tiên quyết cho ý thức. Nếu có bất kỳ trung tâm nào bị tổn thương, bộ não của bạn sẽ gặp rắc rối lớn: trầm cảm, rối loạn căng thẳng, hoang tưởng, tự kỷ, chứng khó đọc, đau mãn tính, mất trí nhớ, bệnh Parkinson và rối loạn tăng động giảm chú ý đều liên quan đến tổn thương trung tâm này.

Các trung tâm chính trong mạng lưới cảm thụ nội tại và mạng lưới kiểm soát của bạn đã lý giải cho thứ mà tôi đã mô tả trong chương 4, rằng các quyết định thường ngày của bạn được dẫn dắt bởi các vùng lập ngân sách cơ thể của bạn – nhà khoa học bị điếc và to mồm bên trong bạn – người nhìn thế giới thông qua đôi kính màu cảm tính. Bạn thấy đấy, các vùng lập ngân sách cơ thể chính là các trung tâm chính. Thông qua các kết nối rộng lớn của chúng, chúng phát đi các dự đoán thay đổi thứ mà bạn nhìn thấy, nghe thấy, và hơn nữa là những thứ bạn nhận thức được và những hành động mà bạn làm. Ở mức độ mạch thần kinh trong não, đó là lý do tại sao không có quyết định nào thoát khỏi cảm tính.

Tôi đã nói vài lần là não bộ hành xử như một nhà khoa học. Nó định hình các giả thuyết thông qua việc dự đoán và kiểm tra dự đoán dựa trên các “dữ liệu” đến từ thông tin cảm giác đầu vào. Nó chỉnh sửa dự đoán của chính nó bằng lỗi dự đoán, giống như một nhà khoa học chỉnh sửa các giả thuyết của họ theo các bằng chứng ngược lại. Khi các dự đoán của não trùng khớp với thông tin cảm giác đầu vào, điều này đã tạo nên một mô hình thế giới ngay ở thời điểm đó, giống như một nhà khoa học đánh giá rằng một giả thuyết chính xác là con đường dẫn tới sự chắc chắn mang tính khoa học.

Vài năm trước, gia đình tôi đang ăn tối ở căn bếp của mình ở Boston, và bất thình lình, chúng tôi cùng một lúc có một cảm giác hoàn toàn mới mẻ. Ghế của chúng tôi nghiêng về phía sau trong giây lát, sau đó tự nằm ngay ngắn lại, nhưng theo một kiểu nghiêng ngả như sóng biển. Trải nghiệm hoàn toàn mới lạ này khiến chúng tôi rơi vào trạng thái mù kinh nghiệm, vì vậy chúng tôi bắt đầu hình thành giả thuyết. Có phải tất cả chúng tôi chỉ đơn giản là mất thăng bằng trong giây lát? Không, điều đó không có khả năng xảy ra với ba người cùng một lúc. Có một vụ tai nạn xe hơi bên ngoài ngôi nhà? Không, chúng tôi không nghe thấy gì cả. Có phải một tòa nhà đã phát nổ ở xa, ngoài phạm vi nghe thấy, khiến mặt đất rung chuyển? Có thể, nhưng cảm giác không quá run rẩy như một cú tấn công bất thình lình. Còn động đất thì sao? Có thể, nhưng chúng tôi chưa bao giờ ở trong một trận động đất trước đây và trận động đất của chúng tôi chỉ kéo dài trong một giây, ngắn hơn trận động đất mà chúng tôi đã thấy trong các bộ phim thảm họa rất nhiều. Tuy nhiên, sự tăng lên rồi giảm xuống, chuyển động giống như đồ thị hình sin, hoàn toàn phù hợp với hiểu biết của chúng tôi về các trận động đất. Một trận động đất là phù hợp nhất với kiến thức của chúng tôi, vì thế, chúng tôi đã quyết định giả thuyết này. Và giờ đồng hồ sau, chúng tôi biết rằng một trận động đất cường độ 4.5 đã tấn công vào Maine gần đó và dư chấn đến New England.

Bộ não cũng thực hiện quá trình loại trừ tương tự với quá trình gia đình tôi đã thể hiện một cách có ý thức này một cách tự nhiên, tự động, và cực kỳ nhanh chóng. Bộ não có một mô hình tinh thần về thế giới bên ngoài sắp tới, xây dựng dựa trên những kinh nghiệm trong quá khứ. Hiện tượng này chính là giải nghĩa thế giới và các khái niệm dùng cho cơ thể. Trong mọi khoảnh khắc mà bạn thức giấc, não bộ sử dụng các trải nghiệm quá khứ, sắp xếp các khái niệm, để dẫn dắt các hành động của bạn và giải nghĩa các cảm giác của bạn.

Tôi đã gọi quá trình này là “phân loại”, nhưng trong khoa học, nó được biết đến với nhiều cái tên khác. Trải nghiệm. Nhận thức. Khái niệm hóa. Hoàn thành mẫu. Suy luận theo cảm tính. Kí ức. Mô phỏng. Chú ý. Đạo đức. Suy luận về tinh thần. Trong câu chuyện dân gian về tâm lý học trong đời sống hàng ngày, những từ này mang ý nghĩa khác nhau, và các nhà khoa học thường nghiên cứu chúng theo những hiện tượng khác nhau, giả định rằng mỗi thứ đều được tạo ra bởi các quy trình khác biệt trong não bộ. Nhưng, thực ra, chúng đều xuất hiện thông qua những quy trình thần kinh giống nhau.

Khi tôi cảm thấy vui vẻ khi cháu trai Jacob của mình vòng hai cánh tay nhỏ bé của nó quanh cổ tôi để ôm lấy tôi, đây thường được gọi là “một trải nghiệm cảm xúc”. Khi tôi nhìn thấy niềm vui trong nụ cười trên gương mặt thằng bé khi nó ôm lấy tôi, tôi không còn trải nghiệm nữa mà đã “nhận thức”. Khi tôi nhận lấy cái ôm và nó khiến tôi cảm thấy ấm áp, tôi không còn nhận thức nữa mà đã chuyển sang “ghi nhớ”. Khi tôi suy nghĩ xem mình đang hạnh phúc hay đang cảm động, tôi không còn ghi nhớ nữa mà chuyển sang “phân loại”. Quan điểm của tôi là, những thuật ngữ này không có sự khác biệt rõ ràng, và chúng đều có thể được tạo ra từ cùng các nguyên liệu giống nhau trong não bộ để giải nghĩa chúng.

Giải nghĩa là vượt lên trên những thông tin có sẵn. Trái tim đập nhanh có một chức năng thể chất, ví dụ như để bơm đủ oxy cho các chi dưới để bạn có thể chạy, nhưng phân loại cho phép nó trở thành trải nghiệm cảm xúc như vui vẻ hay sợ hãi, cho nó thêm ý nghĩa và các chức năng tùy theo nền văn hóa của bạn. Khi bạn trải nghiệm cảm tính có mức độ khoái lạc khó chịu và mức độ kích động cao, bạn giải nghĩa cho nó tùy theo cách mà bạn phân loại nó: đây là một phân mục cảm xúc sợ hãi chăng? Hay một phân mục thể chất liên quan đến việc có quá nhiều caffeine trong người? Hay một nhận thức rằng người đang nói chuyện với bạn là một tên khốn? Việc phân loại mang lại các chức năng mới cho các dấu hiệu sinh học, không phải dựa trên bản chất thể chất của chúng mà dựa trên kiến thức và bối cảnh xung quanh bạn. Nếu bạn phân loại các cảm giác là sợ hãi, bạn đang giải nghĩa chúng theo cách, “Sợ hãi là nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi thể chất trong cơ thể mình.” Khi các khái niệm bao gồm các khái niệm cảm xúc, não của bạn sẽ kiến tạo ra các phân mục cảm xúc.

Khi bạn nhận thứ được bức tranh các đốm màu trong chương 2 là một con ong, bạn đang giải nghĩa từ các cảm giác thị giác. Bộ não của bạn đã hoàn thành kỳ tích này bằng cách dự đoán một con ong và mô phỏng các đường để kết nối các đốm màu. Trải nghiệm trước đó — nhìn thấy bức ảnh chụp con ong thật — khuyến khích bộ não của bạn không điều chỉnh dự đoán. Kết quả là bạn nhận thức được một con ong trong đốm màu. Những kinh nghiệm trước đây của bạn định hình ý nghĩa của những cảm giác nhất thời. Cũng chính quá trình kỳ diệu này tạo nên cảm xúc.

Cảm xúc chính là ý nghĩa. Chúng giải thích cho các thay đổi nội tại của bạn và các cảm giác cảm tính liên quan, dựa trên tình huống xung quanh. Chúng là liều thuốc cho các hành động. Hệ thống não bộ của bạn sử dụng các khái niệm, như mạng lưới cảm thụ nội tại và mạng lưới kiểm soát, chính là nền tảng sinh học cho việc giải nghĩa.

Do đó, Bây giời bạn đã biết được các cảm xúc được tạo ra trong não như thế nào. Chúng ta dự đoán và phân loại. Chúng ta điều chỉnh nguồn ngân sách cơ thể, như bất kỳ loài động vật nào, nhưng chúng ta bao bọc sự điều chỉnh này trong những khái niệm như “niềm vui” và “sợ hãi”, thứ mà chúng ta kiến tạo ra trong nhất thời. Chúng ta chia sẻ các khái niệm thuần tinh thần này với những người trưởng thành khác, và chúng ta dạy chúng cho con cái của mình. Chúng ta tạo ra một loại thực tại mới và sống với nó mỗi ngày, hầu như không ý thức được rằng chúng ta đang làm điều đó. Đó chính là chủ đề của chương sau. 

0 nhận xét:

Đăng nhận xét