Chương 5
Các khái niệm, Các mục tiêu, và Các từ
ngữ
Khi bạn nhìn vào cầu vồng,
bạn thấy các sọc màu rời rạc, gần giống như hình vẽ bên trái của hình 5-1.
Nhưng về bản chất, cầu vồng không có sọc màu — cầu vồng là dãy quang phổ liên tục
của ánh sáng, với bước sóng nằm trong khoảng từ 400 đến 750 nanomet. Quang phổ
này không có bất kỳ loại biên giới hoặc dải màu nào.
Tại sao chúng ta lại nhìn
thấy các sọc màu? Bởi vì chúng ta có các khái
niệm trong tâm trí về màu sắc như “Đỏ”, “Cam”, và “Vàng”. Bộ não của bạn tự
động sử dụng những khái niệm này để nhóm các bước sóng trong một số phạm vi nhất
định của quang phổ lại với nhau, phân loại chúng thành cùng một màu. Bộ não của
bạn giảm thiểu sự khác biệt giữa các màu trong cùng một danh mục màu sắc và
phóng đại sự khác biệt giữa những danh mục khác nhau, khiến bạn nhận thức được
các dải màu.
Hình 5-1: Cầu vồng, được vẽ bới các dải màu (trái) và được
vẽ liên tục theo bản chất (phải)
Giọng nói của con người
cũng liên tục – là một dòng chảy âm thanh – nhưng khi bạn lắng nghe ngôn ngữ mẹ
đẻ của mình, bạn nghe được các từ rời rạc. Chuyện này xảy ra như thế nào? Một lần
nữa, bạn đã sử dụng những khái niệm để phân loại thông tin đầu vào liên tục. Từ
lúc còn là trẻ sơ sinh, bạn đã học được các quy tắc trong dòng chảy âm thanh
giúp tạo ra các biên giới giữa các âm vị - mẩu nhỏ nhất trong âm thanh mà bạn
có thể phân biệt được trong một loại ngôn ngữ (ví dụ, âm thanh chữ “D” và “P”
trong tiếng Anh). Những quy tắc này trở thành các khái niệm mà sau này não bộ sẽ
sử dụng để phân loại dòng chảy âm thành thành các âm tiết và các từ ngữ.
Quá trình đáng chú ý này
chứa đầy những thách thức vì dòng chảy âm thanh rất không rõ ràng và hay thay đổi.
Các phụ âm thay đổi theo ngữ cảnh: âm “D” khác nhau về mặt âm học trong các từ
“Dad” và “Death”, nhưng bằng cách nào đó chúng ta nghe thấy cả hai từ này với
phụ âm giống nhau “D.” Nguyên âm thay đổi theo độ tuổi, giới tính và kích thước
của người nói, nó cũng thay đổi theo ngữ cảnh dù là cùng một người nói. Khi
không có ngữ cảnh, chúng ta nghe mà không thể hiểu được khoảng 50% số từ ngữ
(khi được trình bày riêng lẻ). Nhưng bằng cách sử dụng các khái niệm, não của bạn
học cách phân loại, kiến tạo các âm vị trong vài chục mili giây với tất cả các
thông tin đa dạng và ồn ào này, cuối cùng nó cho phép bạn giao tiếp với người
khác.
Mọi thứ mà bạn nhận thức
được ở thế giới xung quanh được tạo ra bởi các khái niệm có sẵn trong não bộ của
bạn. Hãy nhìn vào một vật dụng bất kỳ xung quanh bạn. Sau đó hãy nhìn sang phía
bên trái của vật dụng này. Bạn vừa hoàn thành một việc rất đáng chú ý mà thậm
chí là bạn còn không biết mình vừa làm được. Chuyển động của đầu và mắt bạn
trông có vẻ như không quan trọng mấy, nhưng nó đã tạo ra một thay đổi khổng lồ trong những thông tin thị giác
đầu vào đi đến não bộ của bạn. Nếu bạn so sánh trường thị giác của mình như một
TV màn hình lớn, thì chuyển động nhỏ của mắt bạn vừa rồi đã thay đổi hàng triệu
điểm ảnh trên màn hình đó. Tuy nhiên, bạn không nhìn thấy các vệt mờ trên trường
thị giác của mình. Đó là bởi vì bạn không nhìn thế giới xung quanh dưới dạng điểm
ảnh: bạn nhìn dưới dạng các vật thể, mà chúng thay đổi rất ít khi bạn chuyển động
đôi mắt. Bạn nhận thứ được các quy luật cấp độ thấp như các đường nét, đường viền,
các đường sọc và vệt mờ, cũng như các quy luật ở cấp độ cao hơn như các đối tượng
và cảnh tượng phức tạp. Não của bạn học hỏi những quy luật này dưới dạng các
khái niệm từ rất lâu rồi, và nó sử dụng những khái niệm này để phân loại thông
tin thị giác đầu vào liên tục của bạn.
Nếu không có các khái niệm,
thế giới mà bạn trải nghiệm sẽ luôn ồn ào và biến động. Mọi thứ mà bạn gắp phải
đều khác biệt với những thứ khác. Bạn sẽ bị mù về mặt kinh nghiệm, giống như khi
bạn nhìn thấy bức ảnh những đốm màu ở đầu chương 2, nhưng điều này sẽ kéo dài
liên tục vĩnh viễn. Bạn sẽ không thể học hỏi bất kỳ thứ gì.
Mọi thông tin cảm giác đều
là những câu hỏi lớn và luôn luôn thay đổi mà não bộ của bạn phải giải đáp. Những
vật thể mà bạn nhìn thấy, những âm thanh mà bạn nghe được, những mùi hương mà bạn
ngửi thấy, những va chạm mà bạn cảm nhận, những mùi vị mà bạn nếm được, và những
cảm giác nội tại mà bạn trải nghiệm, ví dụ như cơn đau nhức và cảm tính… tất cả
chúng đều chứa đựng các dấu hiệu cảm giác rất đa dạng và không rõ ràng khi
chúng đến não. Nhiệm vụ của não là dự đoán trước khi chúng đến, đổ đầy các chi
tiết còn thiếu, và tìm ra các quy luật khả dụng, để bạn có thể trải nghiệm một
thế giới các vật thể, con người, âm nhạc, và sự kiện, chứ không phải “một sự rối
loạn ồn ào và mù mờ” – thứ thực sự đang diễn ra ở thế giới ngoài.
Để tạo ra được kỳ tích tuyệt
vời này, bộ não của bạn phải sử dụng các khái niệm để giải nghĩa các dấu hiệu cảm
giác, và giải thích về nguồn gốc của chúng, chúng liên quan đến cái gì ở thế giới
bên ngoài và cách bạn sẽ hành động với chúng. Các nhận thức của bạn sống động
và nhanh chóng đến nỗi chúng khiến bạn tin rằng bạn đang trải nghiệm thế giới có sẵn như thế, trong khi thực ra là bạn
đang trải nghiệm một thế giới do chính bạn
kiến tạo nên. Phần lớn những gì bạn trải nghiệm khi thế giới bên ngoài xuất
phát từ bên trong đầu bạn. Khi bạn phân loại bằng cách sử dụng các khái niệm, bạn
vượt ra ngoài lượng thông tin có sẵn, giống như khi bạn nhận ra một con ong từ
các đốm màu.
Trong chương này, tôi sẽ
giải thích thích rằng mỗi khi bạn trải nghiệm cảm xúc hay nhận thức được cảm
xúc từ người khác, là một lần nữa, bạn đang phân loại chúng với các khái niệm, giải
nghĩa các cảm giác từ cảm thụ nội tại và năm giác quan. Đây là chủ đề chính của
lý thuyết kiến tạo cảm xúc.
Điều tôi muốn nói không phải
là, “Bạn kiến tạo nên các phân mục cảm xúc bằng cách phân loại: điều này thật độc
đáo.” Thay vào đó, tôi muốn nói là, sự phân loại đã kiến tạo nên mọi nhận thức, suy nghĩ, ký ức, và những
sự kiện tâm trí mà bạn đã trải nghiệm, vì thế đương nhiên là bạn kiến tạo nên các phân mục cảm xúc cũng theo cách
này. Đây không phải là sự phân loại có ý thức và tốn nhiều công sức, giống như
khi một nhà côn trùng học nghiên cứu một số mẫu vật mới của mọt, quyết định xem
nó là thành viên của họ anthribidae hay nemonychidae. Tôi đang nói về quá trình
phân loại nhanh chóng, tự động được thực hiện liên tục bởi bộ não của bạn,
trong mọi khoảnh khắc mà bạn thức giấc, tính bằng mili giây, để dự đoán và giải
thích thông tin cảm giác đầu vào mà bạn gặp phải. Phân loại là công việc bình
thường đối với bộ não của bạn và nó giải thích cách cảm xúc được tạo ra mà
không cần các dấu vân tay.
Hiện tại chúng ta đang nói
về hoạt động bên trong (tức khoa học thần kinh) của việc phân loại một cách dễ
hiểu, và chúng ta chỉ mới giải quyết một số câu hỏi cơ bản. Các khái niệm là
gì? Chúng được hình thành như thế nào? Khái niệm cảm xúc là những loại khái niệm
nào? Và đặc biệt, trí óc con người phải sở hữu siêu năng lực nào để tạo ra các
ý nghĩa từ con số không? Nhiều câu hỏi trong số này vẫn đang được nghiên cứu
trong các lĩnh vực khoa học. Khi có bằng chứng chắc chắn, tôi trình bày rõ ràng
hơn. Khi có ít bằng chứng, tôi đưa ra những phỏng đoán mang tính giáo dục. Các
câu trả lời không chỉ giải thích cách tạo ra cảm xúc mà còn tiết lộ một cái
nhìn thoáng qua về cốt lõi ý nghĩa của việc là một con người.
Các triết gia và các nhà
khoa học đã định nghĩa một danh mục
là một tập hợp các vật thể, sự kiện, hoặc hành động được nhóm lại với nhau khi
chúng có cùng một mục đích tương đương nào đó. Họ định nghĩa một khái niệm là một sự biểu thị của trí óc
về một danh mục. Theo truyền thống, người ta cho rằng các danh mục thực sự tồn
tại ở thế giới bên ngoài, trong khi các khái niệm chỉ tồn tại bên trong đầu óc
của bạn. Ví dụ, bạn có một khái niệm về “màu đỏ”. Khi bạn ứng dụng khái niệm
nào vào các bước sóng ánh sáng để nhận thức được một đóa hoa hồng đỏ trong công
viên, thì màu đỏ này là một phân mục trong danh mục “Đỏ”. Não của bạn đã giảm
thiểu sự khác biệt giữa các thành viên trong một danh mục, ví dụ như những các
sắc thái khác nhau của những bông hồng đỏ trong vườn sinh thái, xem như các
thành viên đều “đỏ” giống nhau. Não của bạn cũng phóng đại sự khác biệt giữa “thành
viên” trong một danh mục và “không phải thành viên” (ví dụ như, hoa hồng màu đỏ
và hoa hồng màu hồng), do đó bạn có thể nhận thứ được các ranh giới rõ ràng giữa
chúng.
Hãy tưởng tượng rằng bạn
đang đi xuống phố với bộ não đầy ắp các khái niệm. Bạn nhìn thấy nhiều vật thể
cùng một lúc: các bông hoa, cây cối, xe hơi, nhà cửa, những chú chó, những con
chim, con ong. Bạn nhìn thấy nhiều người đang đi bộ, di chuyển cơ thể và gương
mặt của họ. Bạn nghe thấy các âm thanh và ngửi thấy nhiều mùi khác nhau. Não của
bạn đặt các thông tin này cùng nhau để nhận thức về các sự kiện như những đứa
trẻ đang chơi trong công viên, một ai đó đang làm vườn, một cặp đôi già đang nắm
tay trên ghế. Bạn tạo ra trải nghiệm của chính bạn về những vật thể này, những
hành động và sự kiện này bằng các phân loại thông qua việc sử dụng các khái niệm.
Bộ não luôn luôn dự đoán của bạn nhanh chóng suy đoán các thông tin cảm giác đầu
vào, nó hỏi “Cái này thì giống với khái niệm nào mà mình đang có?” Ví dụ, nếu bạn
nhiều thấy một chiếc xe hơi từ phía trước, rồi sau đó lại nhìn chiếc xe hơi này
từ mặt bên, và bạn có khái niệm về chiếc xe hơi này, thì bạn có thể biết được
nó là cùng một chiếc xe hơi dù thông tin thị giác đập vào võng mạc của bạn từ
hai góc độ này là hoàn toàn khác nhau.
Khi não bộ của bạn liên tục
phân loại thông tin cảm giác đầu vào (ví dụ như) một chiếc xe hơi, nó đang tối
ưu hóa khái niệm “xe hơi”. Cụm từ mà bạn những tưởng là đơn giản như “khái niệm
về Xe hơi” đại diện cho một thứ phức tạp hơn rất nhiều so với điều mà bạn nghĩ.
Vậy thì, khái niệm chính xác là gì? Điều này phụ thuộc vào việc bạn đang hỏi
nhà khoa học nào, hay lĩnh vực khoa học nào. Chúng ta phải chuẩn bị cho một số tranh cãi nhất định xung quanh một chủ đề cơ
bản như "cách chúng ta tổ chức các kiến thức và các kiến thức này thể hiện
trong tâm trí con người như thế nào." Và để hiểu được cảm xúc được hình
thành như thế nào, thì câu trả lời ở đây mang tính cốt yếu.
Nếu tôi yêu cầu bạn mô tả
khái niệm “Xe hơi”, có thể bạn sẽ nói rằng đó là một phương tiện vận chuyển thường
có 4 bánh xe, làm bằng kim loại, có một động cơ, và dùng một loại nhiên liệu
nào đó để vận hành. Những phương án tiếp cận mang tính khoa học sớm nhất giả định
rằng, một khái niệm là như thế này: một định nghĩa đến từ từ điển, lưu trữ
trong não của bạn, mô tả các đặc tính đầy đủ và cần thiết. “Một chiếc xe hơi là
một phương tiện giao thông có động cơ, bốn bánh xe, các chỗ ngồi, cửa, và một
mui xe.” “Một con chim là loài động vật biết bay, đẻ trứng và có cánh.” Quan điểm
cổ điển về khái niệm này giả định rằng các danh mục liên quan đều có các ranh
giới rõ ràng. Các phân mục trong danh mục “Ong” không bao giờ xuất hiện trong
danh mục “Chim”. Cũng trong quan điểm này, mỗi một phân mục đều có thể đại diện
cho danh mục. Bất kỳ con ong nào cũng có thể làm đại diện, do đó, bởi vì tất cả
các con ong đều có tính chất chung gì đó, dù là vẻ ngoài của chúng hay việc
chúng làm, hay một dấu vân tay nằm sâu bên trong đặc tính khiến chúng là “ong”.
Bất kỳ sự khác biệt nào giữa các con ong với nhau đều được xem như không liên
quan đến việc chúng đều là ong. Ở đây, bạn có thể nhận thấy sự tương đồng với
quan điểm cổ điển về cảm xúc, trong đó mọi phân mục của danh mục “Sợ hãi” đều
giống nhau và các phân mục “Sợ hãi” đều khác biệt với các phân mục “Giận dữ”.
Các khái niệm cổ điển đã
thống trị triết học, sinh học và tâm lý học từ thời cổ đại đến những năm 1970.
Trong đời sống thực, các phân mục trong cùng một danh mục rất khác nhau. Có những
chiếc xe hơi không có cửa, như xe trên sân golf, hoặc những chiếc xe hơi sáu
bánh như Covini C6W. Và một số phân mục trong danh mục thực sự có tính đại diện
nhiều hơn số khác: không ai gọi một con chim đà điểu là đại diện cho loài chim.
Trong những năm 1970, quan điểm cổ điển về các khái niệm cuối cùng đã sụp đổ. À
thì, trừ lĩnh vực khoa học cảm xúc.
Từ đống tro tàn của các
khái niệm cổ điển, một quan điểm mới đã hình thành. Theo quan điểm này, một
khái niệm được biểu hiện trong não bộ là ví dụ tốt nhất về danh mục, được biết
tới với cái tên nguyên mẫu (prototype).
Ví dụ như, một con chim nguyên mẫu có lông và cánh và có thể bay. Không phải
phân mục “chim” nào cũng có những đặc tính này, như đà điểu và đà điểu emu
(emus), nhưng chúng vẫn là chim. Sự khác biệt giữa các nguyên mẫu hoàn toàn
bình thường, nhưng không quá nhiều: con ong thì không phải chim, dù nó có cánh
và có thể bay. Theo quan điểm này, khi bạn tìm hiểu về một danh mục, bộ não của
bạn được cho là sẽ xem khái niệm đó như một nguyên mẫu duy nhất. Đây có thể là
phân mục thường gặp nhất trong danh mục hoặc là phân mục điển hình nhất, nghĩa
là đây là phân mục trùng khớp nhất hoặc có phần lớn các đặc tính của danh mục.
Khi nói về cảm xúc, người
ta thường dễ dàng mô tả các đặc tính nguyên mẫu của một danh mục cảm xúc nhất định.
Hãy yêu cầu một người Mỹ mô tả nỗi buồn nguyên mẫu và anh ấy sẽ nói các đặc
tính của nó là khuôn mặt nhăn nhó hoặc phụng phịu, tư thế ngồi sụp xuống, khóc
lóc, lê người, giọng nói đều đều và nỗi buồn bắt đầu bằng một sự mất mát nào đó
và kết thúc bằng một cảm giác mệt mỏi hoặc bất lực chung chung. Không phải mọi
phân mục của nỗi buồn đều có tất cả các đặc điểm, nhưng phần mô tả phải là điển
hình của nỗi buồn.
Do đó, các nguyên mẫu có vẻ
là một mô hình khá tốt cho các khái niệm cảm xúc, nếu không tính tới một chi tiết
nghịch lý. Khi chúng ta đo lường các phân mục của nỗi buồn bằng các công cụ
khoa học, nguyên mẫu nhăn nhó/phụng phịu này của nỗi mất mát không phải là
khuôn mẫu thường gặp nhất hay điển hình nhất. Mọi người đều biết tới nguyên mẫu
này, nhưng nó ít khi xuất hiện trong thực tế. Thay vào đó, như bạn đã biết
trong chương 1, chúng ta đã tìm thấy một lượng lớn các khác biệt trong nỗi buồn
và mọi danh mục cảm xúc khác.
Nếu không có các khuôn mẫu
cảm xúc lưu trữ sẵn trong não, làm sao người ta có thể liệt kê các đặc tính này
một cách dễ dàng như vậy? Não của bạn hầu như hoàn toàn có thể kiến tạo các
khuôn mẫu ngay lập tức khi bạn cần tới chúng. Bạn đã trải qua một số lượng đa dạng
các phân mục của khái niệm “Nỗi buồn”, nó nằm thành từng mảnh trong đầu bạn, và
trong nháy mắt, bộ não của bạn tạo ra một bản tóm tắt về nỗi buồn phù hợp nhất
với hoàn cảnh. (Một ví dụ về tư duy quần thể trong não.)
Các nhà khoa học đã cho thấy
rằng người ta có thể kiến tạo các nguyên mẫu tương tự trong phòng thí nghiệm.
In ra một mẫu (pattern) ngẫu nhiên các dấu chấm trên một tờ giấy, sau đó tạo ra
một tá các biến thể của mẫu này, và chỉ cho người tham gia thí nghiệm xem một
tá biến thể này. Người đó có thể tạo ra mẫu của nguyên mẫu gốc ngay cả khi người
ta chưa từng nhìn thấy nó, đơn giản bằng cách tìm các điểm giống nhau giữa các
biến thể. Điều này có nghĩa là một nguyên mẫu không nhất định là phải tồn tại
trong tự nhiên, nhưng bộ não vẫn có thể kiến tạo ra một nguyên mẫu khi cần thiết.
Các nguyên mẫu cảm xúc, nếu chúng thực sự tồn tại, có thể được kiến tạo nên bằng
cách tương tự.
Vì thế, các khái niệm không phải là các định nghĩa cố định trong não, và chúng cũng không phải các nguyên mẫu điển hình nhất hoặc các phân mục thường gặp nhất. Thay vào đó, não của bạn có rất nhiều phân mục – xe hơi, các mẫu dấu chấm, nỗi buồn, và các thứ khác – và nó áp đặt các điểm tương tự giữa chúng, trong từng thời điểm, dựa trên mục đích của bạn trong tình huống nhất định. Ví dụ, mục đích thông thường của bạn cho một phương tiện vận chuyển (vehicle) là dùng để di chuyển, vì thế nếu một vật thể có thể giúp bạn đạt được mục đích đó, thì nó sẽ là phương tiện vận chuyển (vehicle), dù nó là xe hơi, hay trực thăng, hay một miếng ván gắn bốn bánh xe vào. Cách giải thích về khái niệm này đến từ Lawrence W.Barsalou, một trong những nhà khoa học nhận thức hàng đầu thế giới, chuyên nghiên cứu các khái niệm và các danh mục.
Hình 5-2: Suy ra một mẫu “nguyên mẫu” (bước 5) từ các ví
dụ (bước 1–4). Các đối tượng thử nghiệm lần đầu tiên nhìn thấy một loạt các mẫu
9 chấm trên lưới 30 × 30. Họ đã phân loại mỗi mẫu thành một trong hai danh mục,
A và B. Đây được gọi là "giai đoạn học hỏi" của thử nghiệm. Tiếp
theo, họ phân loại nhiều mẫu hơn, một số mẫu cũ và một số mẫu mới, bao gồm các
mẫu nguyên mẫu của danh mục A và B, mà các đối tượng chưa từng thấy. Các đối tượng
dễ dàng phân loại các nguyên mẫu, nhưng họ gặp khó khăn hơn với các biến thể mới
lạ và khác biệt. Điều đó có nghĩa là bộ não của mỗi đối tượng phải đã xây dựng
các nguyên mẫu mặc dù chưa nhìn thấy chúng trong giai đoạn học tập.
Các khái niệm dựa trên mục
đích vô cùng linh hoạt và có thể áp dụng cho nhiều tình huống. Nếu bạn đang ở
trong cửa hàng thú cưng và muốn mua một hồ cá cho gia đình và người bán hàng hỏi
bạn rằng, “Bạn tính loại cá nào?”, có thể bạn sẽ trả lời “một con cá vàng” hoặc
“một con cá mút đá đen", nhưng hẳn là không phải "một con cá hồi bị
săn trộm." Bạn kiến tạo nên các danh mục của khái niệm “cá” phù hợp nhất với
hồ cá của bạn. Nếu bạn đang tham gia một chuyến thám hiểm lặn với ống thở, bạn
sẽ ứng dụng danh mục "cá” cho mục tiêu tìm kiếm động vật hoang dã thú vị, do
đó phân mục tốt nhất có thể là một con cá mập miệng bản lề (nurse shark) lớn hoặc
một con cá nắp hòm (boxfish) có các đốm đầy màu sắc. Các khái niệm không cố định,
chúng rất dễ uốn nắn và phụ thuộc vào bối cảnh, bởi vì mục tiêu của bạn có thể
thay đổi để phù hợp với tình huống.
Một vật thể riêng lẻ cũng
có thể là một phần của các khái niệm khác. Ví dụ, một chiếc xe hơi không phải
luôn luôn phục vụ cho mục đích di chuyển. Đôi khi một chiếc xe hơi là phân mục
cho khái niệm “Dấu hiệu Địa vị”. Trong các hoàn cảnh thích hợp, một chiếc xe
hơi có thể là “Giường ngủ” cho một người vô gia cư, hoặc thậm chí là “Vũ khí Giết
người”. Lái xe xuống biển và nó sẽ trở thành một “rặng san hô nhân tạo”.
Hình 5-3: Các khái niệm và các mục đích. Hàng 1 minh họa
các khái niệm tập trung vào sự giống nhau về mặt tri giác, chẳng hạn như đôi
cánh. Hàng 2 mô tả các danh mục đối tượng dựa trên mục tiêu. Dơi, máy bay trực
thăng và dĩa ném không có chung đặc điểm nhận thức nào nhưng có thể được mô tả
bởi một điểm giống nhau trong tâm trí: mục tiêu chung là di chuyển trong không
trung. Hàng 3 minh họa sự tương đồng hoàn toàn thuộc về tinh thần. Khái niệm
“Tình yêu” có thể được liên kết với các mục tiêu khác nhau tùy thuộc vào ngữ cảnh.
Khi bạn phân loại, có thể
bạn sẽ cảm thấy như thể mình chỉ đơn thuần là quan sát thế giới và tìm kiếm các
điểm chung giữa các vật thể và các sự kiện, nhưng không phải. Các khái niệm chỉ
thuộc về tâm trí và hoàn toàn dựa trên mục tiêu như “những thứ có thể bảo vệ bạn
khỏi bị côn trùng chích” cho thấy rằng việc phân loại không thể đơn giản và rõ
ràng được. Một cái vợt đập muỗi và một cái nhà thì không có bất kì điểm chung
nào mà chúng ta có thể nhận thấy bằng tri giác. Do đó, các khái niệm dựa trên mục
đích sẽ giải phóng bạn khỏi xiềng xích của vẻ bên ngoài vật chất. Khi bạn bước
vào một tình huống hoàn toàn mới lại, bạn sẽ không trải nghiệm nó hoàn toàn dựa
trên vẻ ngoài hay âm thanh hay mùi hương của nó. Bạn trải nghiệm nó dựa trên mục
tiêu của bạn.
Vậy thì, điều gì đang xảy
ra trong não của bạn khi bạn phân loại? Bạn không tìm thấy các điểm giống nhau,
bạn tạo ra chúng. Khi não của bạn cần
một khái niệm, nó kiến tạo một cái ngay lập tức, bằng cách pha trộn và kết hợp
một quần thể các phân mục từ các trải nghiệm quá khứ của bạn, để phù hợp nhất với
các mục tiêu của bạn trong một tình huống cụ thể. Và chính ở điểm này, chúng ta
cũng tìm thấy chìa khóa để hiểu được các cảm xúc được tạo ra như thế nào.
Các khái niệm về cảm xúc
là các khái niệm dựa trên mục tiêu. Ví dụ như, các phân mục của niềm vui rất đa
dạng. Bạn có thể mỉm cười hoặc nức nở khi đang vui, bạn có thể hét lên, giơ tay
lên, đấm lên trời, nhảy lên nhảy xuống và đập tay với mọi người xung quanh khi
bạn đang vui, hoặc thậm chí là, bạn sững sờ hoàn toàn bất động khi đang vui.
Đôi mắt của bạn có thể mở to hoặc thu nhỏ lại, nhịp thở của bạn có thể nhanh hoạc
chậm. Niềm vui của bạn có thể là niềm vui phấn khích với nhịp tim đập mạnh khi
bạn trúng vé số, hoặc niềm vui thư giãn nhẹ nhàng khi bạn đang nằm dài trên tấm
thảm picnic với người yêu mình. Bạn cũng có thể nhận thức được rằng người khác
đang vui theo nhiều cách khác nhau. Nhìn chung, loại trải nghiệm và nhận thức
đa dạng này có thể bao gồm nhiều hành động khác nhau và những thay đổi khác
nhau bên trong cơ thể, chúng có thể cảm thấy khác nhau về mặt cảm quan và chúng
có thể bao gồm các hình ảnh, âm thanh và mùi hương khác nhau. Tuy nhiên, đối với
bạn, trong thời điểm hiện tại, những thay đổi thể chất này tương đương với một
số mục tiêu. Có lẽ mục tiêu của bạn là cảm thấy được thấu hiểu, cảm thấy thích
thú, đạt được tham vọng hoặc tìm thấy ý nghĩa cuộc sống. Khái niệm “Hạnh phúc”
của bạn trong thời điểm này tập trung vào một mục tiêu như thế, gắn kết các phân
mục đa dạng trong quá khứ của bạn lại với nhau.
Hãy cùng khám phá một ví dụ.
Giả sử bạn đang ở sân bay để chờ đợi người bạn thân của mình ghé thăm, đây là lần
đầu tiên hai bạn gặp lại nhau sau một thời gian dài. Khi bạn nhìn chằm chằm vào
cổng ra sân bay và chờ đợi sự xuất hiện của cô ấy, não của bạn đang bận rộn sản
xuất ra hàng nghìn các dự đoán dựa vào các khái niệm của bạn, tính bằng mili
giây, và tất cả điều này xảy ra ngoài nhận thức của bạn. Nói cho cúng, có rất
nhiều cảm xúc khác nhau mà bạn có thể cảm nhận được trong một tình huống như vậy.
Bạn có thể cảm thấy hạnh phúc khi nhìn thấy bạn mình, trông đợi cô ấy xuất hiện,
sợ rằng cô ấy không đến, hay lo lắng rằng hai bạn sẽ không còn điểm chung gì nữa.
Bạn cũng có thể có một trải nghiệm không liên quan đến cảm xúc, ví dụ như cảm
giác kiệt sức khi phải lái xe đường dài đến sân bay, hoặc cảm giác tức ngực như
một dấu hiệu cho thấy bạn sắp bị cảm lạnh.
Thông qua cơn bão của những
dự đoán này, não của bạn giải nghĩa các cảm giác dựa trên các trải nghiệm quá
khứ của bạn ở sân bay, trên bạn bè của bạn, trên các căn bệnh và trên các tình
huống liên quan. Não của bạn cân đo đong đếm những dự đoán của nó dưa trên tính
khả thi; chúng cạnh tranh với nhau để giải thích xem điều gì đang khiến bạn cảm
thấy như thế, và chúng xác định nhận thức của bạn, hành động của bạn, và cảm
xúc của bạn trong tình huống này. Cuối cùng, những dự đoán khả thi nhất sẽ trở
thành nhận thức của bạn: ví dụ như, bạn đang vui và bạn của bạn đang bước ra từ
cổng sân bay ngay lúc này. Không phải mọi phân mục của “hạnh phúc” trong quá khứ
đều phù hợp với tình huống hiện tại, bởi vì “hạnh phúc” là một khái niệm dựa
trên mục tiêu, được tạo ra bởi những phân mục rất khác nhau, nhưng một số chúng
có các mảnh nhỏ đủ phù hợp để thắng trận đấu này. Những dự đoán này liệu có khớp
với thông tin cảm giác đầu vào thực tế từ thế giới bên ngoài và từ bên trong cơ
thể bạn hay không? Hay liệu có một lỗi dự đoán nào phải được chỉnh sửa hay
không? Đó là vấn đề mà các vòng lặp dự đoán sẽ phải giải quyết, và nếu cần thiết,
thì nó sẽ chỉnh sửa.
Giả sử bạn của bạn đã đến
nơi an toàn và sau khi uống cà phê, cô ấy mô tả chuyến bay đầy sóng gió khiến
cô ấy sợ hãi. Cô ấy kiến tạo một phân mục “sợ hãi” với mục tiêu truyền đạt cảm
giác của cô ấy khi bị trói vào ghế máy bay, mắt nhắm nghiền, nóng bức và nôn
nao khi máy bay lao lên và hạ xuống xuống, tâm trí cô ấy chạy đua về sự an toàn
của mình. Khi cô ấy nói ra từ “sợ chết khiếp”, bạn cũng kiến tạo nên một phân mục
“sợ hãi”, nhưng phân mục “sợ hãi” của bạn không nhất thiết phải có những đặc
tính thể chất giống hệt với phân mục “sợ hãi” của cô ấy; ví dụ như, có lẽ bạn
không nhắm nghiền mắt lại. Nhưng bạn vẫn có thể nhận thức được nỗi sợ của cô ấy
và cảm thấy thông cảm cho cô ấy. Miễn là các phân mục của bạn liên quan đến mục
tiêu tương tự (phát hiện ra nguy hiểm) trong tình huống tương tự (một chuyến
bay đầy sóng gió), thì bạn và bạn của mình đều có thể giao tiếp một cách rõ
ràng. Mặt khác, nếu bạn kiến tạo nên một phân mục “sợ hãi” nào đó khác, chẳng hạn
như nỗi sợ hãi tột độ khi đi tàu lượn siêu tốc, thì có thể bạn sẽ khó mà hiểu
được tại sao bạn của mình lại khó chịu với chuyến bay như vậy. Để giao tiếp
thành công đòi hỏi bạn và bạn của mình phải sử dụng những khái niệm đồng điệu với
nhau.
Hãy nghĩ về các ý tưởng của
Darwin về tầm quan trọng của sự đa dạng trong một chủng loài (chương 1). Mỗi một
chủng loài động vật là một quần thể những cá thể riêng biệt và khác biệt với
nhau. Không có tính năng hoặc tập hợp tính năng nào là đầy đủ hoặc cần thiết hoặc
thậm chí là thường gặp và điển hình cho mỗi một sinh vật trong quần thể. Bất kỳ
tóm tắt nào về quần thể đều là một sự hư cấu mang tính thống kê không thể áp dụng
cho bất kỳ cá thể nào. Và quan trọng nhất, sự đa dạng trong một chủ loài liên
quan một cách ý nghĩa với môi trường mà những cá thể này sinh sống. Một số cá
thể thì phù hợp hơn so với một số khác, nên chúng truyền đi các vật chất di
truyền của chúng cho thế hệ tiếp theo. Cũng theo cách tương tự, một số phân mục
của khái niệm có thể hiệu quả hơn trong một bối cảnh cụ thể để đạt được một mục
tiêu cụ thể. Chúng cạnh tranh với nhau trong não bộ của bạn, cũng giống như
thuyết chọn lọc tự nhiên của Darwin, nhưng cuộc cạnh tranh này chỉ diễn ra
trong đơn vị thời gian mili giây, các phân mục phù hợp nhất sẽ tồn tại lâu hơn
các đối thủ của nó để phù hợp nhất với mục tiêu của bạn tại thời điểm đó. Đây
chính là phân loại.
Những khái niệm cảm xúc đến
từ đâu? Làm sao mà một khái niệm như “sững sờ” (awe) lại có nhiều sự đa dạng đến
như vậy: sững sờ trước sự mênh mông của vũ trụ, sững sờ trước Erik Weihenmayer
– người đã chinh phụ đỉnh núi Everest khi bị mù; và sững sờ khi nhìn thấy một
con kiến thợ có thể mang vác khối lượng nặng gấp năm lần trọng lượng của chính
nó. Quan điểm cổ điển cho rằng những khái niệm này đã sẵn có khi bạn được sinh
ra, hoặc não của bạn tìm thấy các dấu vân tay cảm xúc trong biểu cảm của mọi
người và nội tại hóa chúng thành các khái niệm. Nhưng chúng ta biết rằng các
nhà khoa học không tìm ra những dấu vân tay như thế này, và trẻ sơ sinh thì
không cho thấy bất kỳ bằng chứng nào về việc sinh ra đã có biết “sững sờ”.
Hóa ra là, bộ não của con
người đã cài đặt một hệ thống các khái niệm vào mạch thần kinh của nó trong năm
đầu tiên của đời người. Hệ thống này chịu trách nhiệm cho các khái niệm cảm xúc
phong phú mà bạn đang dùng để trải nghiệm và nhận thức các cảm xúc.
Bộ não sơ sinh có khả năng
học được các khuôn mẫu, một quy trình được gọi là nhận biết mang tính thống kê (statistical learning). Khoảnh khắc mà
bạn đến với thế giới dưới hình hài một đứa trẻ, bạn bị đánh bom bởi nhiều dấu
hiệu ồn ào và không rõ ràng từ thế giới bên ngoài và từ bên trong cơ thể bạn.
Các quy luật. Bộ não nhỏ bé của bạn bắt đầu tính toán các khả năng mà các hình ảnh,
âm thanh, mùi hương, các va chạm, các mùi vị và những cảm giác nội tại có thể kết
hợp với nhau, và cái nào thì không kết hợp với nhau được. “Những đường viền này
tạo ra một ranh giới. Những đốm màu này là một phần của một đốm màu lớn hơn. Sự
im lặng ngắn ngủi này chính là sự phân cách.” Từng chút một, nhưng với tốc độ
đáng ngạc nhiên, não của bạn học cách sắp xếp đại dương các cảm giác mơ hồ
thành các khuôn mẫu: các hình ảnh và các âm thanh; các mùi hương và các mùi vị;
các va chạm và các cảm giác nội tại, và từ đó tạo nên những các tập hợp đi cùng
nhau.
Các nhà khoa học đang
tranh cãi với nhau trong hàng trăm năm về điều gì bạn đã có sẵn khi được sinh
ra, và điều gì thì bạn phải học hỏi thì mới biết được, và tôi sẽ không tham gia
vào cuộc chiến này. Hãy cứ cho rằng điều duy nhất là có sẵn trong bạn khi bạn
được sinh ra đó là khả năng cơ bản của việc học hỏi từ những quy luật và những
điều có thể xảy ra xung quanh bạn. (Thực tế, bạn học thống kê từ ngay trong bụng
mẹ, điều này khiến cho việc xác định xem khái niệm nào là bẩm sinh còn khái niệm
nào phải học hỏi trở nên phức tạp.) Năng lực phi thường của bạn trong việc học
thống kê đã đưa bạn đến con đường để đi đến một loại trí óc đặc biệt, với một hệ
thống các khái niệm đặc biệt mà bạn đang có.
Lần đầu tiên người ta khám
phá ra việc học thống kể ở loài người chính là trong các nghiên cứu về sự phát
triển của ngôn ngữ. Các em bé có sẵn sở thích bẩm sinh liên quan đến việc lắng
nghe các giọng nói, có thể là vì các âm thanh xuất hiện cùng với việc lập ngân
sách của cơ thể từ khi vừa sinh ra, hay thậm chí là khi các bé còn ở trong bụng
mẹ. Khi các bé nghe thấy các âm thanh tuôn ra, chúng dần dần nhận ra ranh giới
giữa các âm tiết, âm vị và từ ngữ. Từ những đốm màu âm thanh nghe giống như tớigiờănrồi, conđóichưagiờănsắptớ rồi, giờăntớirồicàrốtngonlành,
trẻ sơ sinh bắt đầu học được các âm tiết nào sẽ dính với nhau nhiều hơn
(“giờ-ăn”, “ngon-lành”) và do đó chúng có thể là một phần của một từ ngữ đơn lẻ.
Các âm tiết ít khi xuất hiện cùng nhau thường là một phần của các từ ngữ khác.
Các em bé học các quy luật này một cách vô cùng nhanh chóng, thậm chí là chỉ cần
vài phút tiếp xúc ngắn ngủi. Quá trình học hỏi này mạnh mẹ đến mức nó thay đổi
thiết lập của não bộ các bé. Từ khi được sinh ra, các em bé đã có khả năng nghe
thấy sự khác biệt giữa mọi âm thanh trong mọi ngôn ngữ, nhưng khi chúng được một
tuổi, việc học thống kê đã làm giảm khả năng này thành những âm thanh chỉ tồn tại
trong những ngôn ngữ mà chúng nghe được trực tiếp từ con người. Các em bé bắt đầu
thiết lập ngôn ngữ mẹ đẻ của chúng bằng cách học thống kê.
Học thống kê không phải là
cách duy nhất để con người thu được kiến thức, nhưng cách học này đã bắt đầu từ
giai đoạn đầu đời và vượt ra ngoài lĩnh vực ngôn ngữ. Các nghiên cứu đã chỉ ra
rằng các em bé học thống kê các quy luật âm thanh và hình ảnh một cách dễ dàng,
và cũng hợp lý khi giả định điều tương tự đối với các giác quan còn lại cộng với
các cảm giác nội tại. Hơn nữa, các em bé có thể học được các quy luật phức tạp
bao gồm nhiều giác quan. Nếu bạn đổ đầy các quả bóng màu xanh và màu vàng vào một
cái hộp, và các quả bóng màu vàng phát ra âm thanh trong khi các quả bóng màu
xanh thì yên lặng, các bé có thể khái quát hóa mối liên hệ giữa màu sắc và âm
thanh.
Các em bé dùng cách học thống
kể để tạo ra các dự đoán về thế giới xung quanh, từ đó dẫn dắt các hành động của
chúng. Giống như những nhà thống kê tí hon, chúng tạo ra các giả định, đánh giá
các khả năng dựa trên kiến thức của chúng, phối hợp với các bằng chứng mới từ
môi trường, và tiến hành thí nghiệm. Trong một nghiên cứu sáng tạo của nhà tâm
lý học phát triển Fei Xu, trẻ em từ mười đến mười bốn tháng tuổi lần đầu tiên
được nhìn thấy kẹo mút màu hồng hoặc màu đen, sau đó, người ta cho chúng xem
hai lọ kẹo: một lọ có nhiều kẹo mút màu đen hơn so với màu hồng, lọ còn lại thì
có nhiều kẹo mút màu hồng hơn so với màu đen. Sau đó, nhà thí nghiệm nhắm mắt lại
rồi rút ra một que kẹo từ mỗi lọ sao cho đứa bé chỉ nhìn thấy phần que kẹo,
không nhìn thấy phần màu sắc của kẹo. Mỗi que kẹo được đặt vào một các cốc khác
nhau, và chỉ lộ mỗi phần que kẹo ra ngoài. Trẻ sơ sinh bò đến các cốc mà theo
thống kê thì có khả có chứa que kẹo mang màu sắc mà chúng thích hơn, bởi vì người
thí nghiệm đã rút chúng ra từ lọ kẹo mà màu sắc chúng thích chiếm ưu thế. Các
thí nghiệm như thế này đã chứng minh rằng trẻ sơ sinh không chỉ phản xạ với thế
giới. Thậm chí ở lứa tuổi rất nhỏ, chúng cũng đã chủ động dự đoán các khả năng
dựa trên các khuôn mẫu mà chúng quan sát và học hỏi, để tối đa hóa kết quả mà
chúng mong muốn.
Con người không phải là
loài động vật duy nhất có thể học thống kê: những sinh vật linh trưởng phi nhân
loại, chó và chuột cũng có thể làm được điều này. Ngay cả những sinh vật đơn
bào cũng có thể học thống kê rồi tạo ra dự đoán: chúng không chỉ phản xạ với
các thay đổi trong môi trường của chúng, mà chúng còn dự đoán các thay đổi này
nữa. Tuy nhiên, trẻ sơ sinh loài người thì làm được nhiều thứ ngoài việc học thống
kê các khái niệm đơn giản. Chúng cũng nhanh chóng học được rằng một số thông
tin mà chúng cần về thế giới xung quanh nằm
trong trí óc của những người xung quanh chúng.
Có thể bạn đang từng chú ý
thấy rằng các em bé hay giả định rằng mọi người xung quanh cũng có các sở thích
giống chúng. Một đứa bé một tuổi thích bánh ngọt hơn bông cải xanh sẽ tin rằng
mọi người khác trên thế giới đều như vậy. Đứa bé sẽ không thể hiểu được các trạng
thái tâm lý của người khác như các cách mà những thính giả của thống đống
Malloy đã hiểu rằng ông ấy đã rất buồn bã trong bài phát biểu của mình về vụ thảm
sát Sandy Hook. Ngay cả như vậy, thì Xu và các sinh viên của cô đã thành công
quan sát được những bước đầu của sự suy luận trí óc, thậm chí là ở trẻ nhỏ khi
chúng học thống kê. Người ta cho những đứa trẻ mười sáu tháng tuổi xem hai cái
tô, một cái chứa đựng những khối vuông màu trắng nhàm chán, và tô còn lại thì
chứa đầu đồ chơi Slinky đầy màu sắc thú vị. Khi những đứa trẻ được cho phép chọn
một món đồ từ mỗi tô, khá chắn là chúng sẽ chọn món đồ chơi Slinky ưa thích cho
chính mình và cho nhà thí nghiệm. Nhưng sau đó, nhà thí nghiệm mang ra một cái
tô thứ ba chứa nhiều đồ chơi Slinky và một ít khối vuông, và dưới quan sát của
trẻ, nhà thí nghiệm chọn cho mình năm khối vuông. Khi đứa trẻ được yêu cầu chọn
lựa từ cái tô đó, các bé chọn cho nhà thí nghiệm một khối vuông! Nói cách khác,
trẻ em có khả năng học được rằng sở thích chủ quan từ nhà thí nghiệm khác với sở
thích của chúng. Phát hiện này – rằng một vật thể cũng có thể mang lại giá trị
tích cực cho người khác – là một ví dụ cho sự suy luận trí óc.
Ngoài sở thích, các em bé
thậm chí còn có thể suy ra mục đích của người khác bằng cách thống kê. Chúng có
thể phân biệt được khi nào nhà thí nghiệm chọn một trái banh có màu sắc một
cách ngẫu nhiên, khi nhà thì nhà thí nghiệm chọn trái banh có màu sắc một cách
cố ý. Trong các tình huống sau đó, chúng có thể suy đoán rằng mục tiêu của nhà
thí nghiệm là chọn những màu sắc cụ thể, và chúng trông đợi nhà thí nghiệm tiếp
tục làm điều đó. Có vẻ như trẻ nhỏ đã cố gắng đoán mục đích đằng sau hành động
của người khác một cách tự động; chúng hình thành một giả định (dựa trên các
trái nghiệm trong quá khứ ở các tình huống tương tự) và dự đoán kết quả sắp tới
trong vài phút sau.
Tuy nhiên, duy chỉ một
mình cách học thống kê thì không đủ để con người học hỏi các khái niệm dựa trên
mục tiêu và thuần trí óc, những khái niệm không có bất kỳ điểm nào tương đồng về
mặt tri giác. Ví dụ như khái niệm “tiền bạc”. Bạn không thể học được nó chỉ đơn
giản bằng cách nhìn một mẫu giấy in màu, một cục vàng, một vỏ sò, hay một đống
lúa mạch hay muối, mỗi một thứ này đều từng được xem là tiền tệ ở một số xã hội
trong lịch sử. Tương tự, các phân mục trong một danh mục cảm xúc như “sợ hãi”
cũng không có đủ các quy luật mang tính thống kê để cho phép não người xây dựng
một khái niệm dựa trên các điểm tương đồng về mặt tri giác – như đã chứng minh
trong chương 1. Để xây dựng nên một khái niệm thuần trí óc, bạn cần phải có một
nguyên liệu bí mật khác: các từ ngữ.
Từ khi còn là trẻ sơ sinh,
những bộ não người nhỏ bé đã đã có sở thích xử lý tín hiệu giọng nói và nhanh
chóng nhận ra rằng giọng nói là một cách để truy cập vào thông tin bên trong
tâm trí của người khác. Chúng đặc biệt thích thú với cách người lớn “nói chuyện
với trẻ con” (baby talk) – tông giọng cao hơn và đa dạng hơn, những câu ngắn gọn
hơn, và giao tiếp bằng mắt mạnh mẽ.
Thậm chí, trước khi trẻ sơ
sinh hiểu được ý nghĩa thông thường của các từ vựng, âm thanh của các từ này đã
tạo ra một quy luật thống kê giúp đẩy nhanh quá trình học hỏi các khái niệm.
Nhà tâm lý học phát triển Sandra R.Waxman và Susan A.Gelman, những người đi đầu
trong lĩnh vực nghiên cứu này, đã giả định rằng các từ ngữ đã mời gọi trẻ sơ
sinh hình thành một khái niệm, nhưng chỉ khi người lớn giao tiếp với chúng một
cách cố ý: “Nhìn kìa, con yêu, đó là một
bông hoa!”
Waxman đã chứng minh năng
lực này của các từ ngữ ở trẻ sơ sinh khoảng ba tháng tuổi. Những đứa tre này lần
đầu tiên được nhìn thấy các bức ảnh của những con khủng long khác nhau. Khi xem
từng bức ảnh, trẻ sơ sinh nghe thấy nhà thí nghiệm nói một từ vựng mà tự họ tạo
ra, “toma”. Khi những đứa trẻ này được cho xem các bức ảnh của một con khủng
long mới và một con không-phải-khủng-long – ví dụ như cá, những trẻ đã được
nghe thấy từ ngữ này có thể phân biệt một các đáng tin cậy hơn rằng bức ảnh nào
mô tả một “toma”, ngụ ý rằng chúng đã xây dựng được một khái niệm đơn giản. Khi
thí nghiệm tương tự được thực hiện với âm thanh audio thay vì giọng nói của con
người, thì hiệu ứng này không bao giờ xuất hiện.
Lời nói cho phép trẻ sơ
sinh tiếp cận các thông tin mà chúng không thể tìm thấy thông qua việc quan sát
thế giới, những thông tin chỉ nằm trong tâm trí của người khác, cụ thể là những
điểm tương đồng về tinh thần: mục
tiêu, ý định, sở thích. Các từ ngữ cho phép trẻ sơ sinh bắt đầu phát triển các
khái niệm dựa trên mục tiêu, bao gồm cả khái niệm cảm xúc.
Một bộ não người nhỏ bé, đắm
mình trong các từ vựng xung quanh nó, thu thập những khái niệm đơn giản. Một số
khái niệm được học mà không cần các từ ngữ, nhưng các từ ngữ mang lại một lợi
thế đặc biệt cho việc phát triển hệ thống khái niệm. Một từ ngữ có thể bắt đầu
dưới dạng một dòng chay âm thanh đơn thuần đến trẻ sơ sinh, một phần nhỏ của
toàn bộ quá trình học thống kê, nhưng nó nhanh chóng trở nên lớn hơn. Nó trở
thành một sự mời gọi trẻ sơ sinh tạo ra các
điểm tương đồng giữa các phân mục khác nhau. Một từ ngữ có thể nói với trẻ rằng,
“Bạn có thấy những vật thể này trông rất khác nhau về mặt thể chất không? Chúng
có một điểm tương đồng – đó là tinh thần.” Sự tương đồng này là nền tảng cho
các khái niệm dựa trên mục tiêu.
Fei Xu và sinh viên của cô
đã chứng minh điều này thông qua các thí nghiệm, họ cho trẻ mười tháng tuổi xem
các vật thể, rồi đặt cho những vật thể này những cái tên vô nghĩa, như “wug”
hay “dak”. Những vật thể này rất khác nhau, bao gồm đồ chơi hình chó con và đồ
chơi hình cá, các hình trụ với nhiều hạt màu, và các hình chữ nhật được bao phủ
bởi các bông hoa bằng xốp. Mỗi món đều tạo ra tiếng chuông reo hoặc tiếng lạo xạo.
Dù vậy, những đứa trẻ đã học được các khuôn mẫu. Trẻ sơ sinh khi nghe thấy những
cái tên vô nghĩa của một số đồ vật, bất kể chúng có hình dạng như thế nào, đều
trông đợi những đồ vật đó phát ra cùng một âm thanh. Tương tự, nếu hai đồ vật
có tên khác nhau, trẻ sẽ dự đoán rằng chúng tạo ra các âm thanh khác nhau. Đây
là một kỳ tích đáng chú ý đối với trẻ sơ sinh vì chúng đã sử dụng các âm thanh
của từ ngữ để dự đoán liệu các vật thể có phát ra một tiếng động giống nhau hay
không, chúng học được khuôn mẫu vượt lên trên vẻ bề ngoài đơn giản. Các từ ngữ
đã khuyến khích trẻ sơ sinh hình thanh các khái niệm dựa trên mục tiêu bằng
cách truyền cảm hứng cho chúng để đánh giá các vật thể là tương đương với nhau.
Thực tế, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng trẻ sơ sinh có thể dễ dàng học được một
khái niệm dựa trên mục tiêu, dựa trên một từ ngữ có sẵn, hơn là một khái niệm đến
từ sự tương đồng về thể chất mà không có từ ngữ nào.
Tôi không biết bạn thì
sao, nhưng mỗi khi tôi nghĩ về điều này, thì tôi lại cảm thấy vô cùng kinh ngạc.
Bất kỳ động vật nào cũng có thể quan sát một đống các vật thể có vẻ ngoài giống
nhau và hình thành khái niệm về chúng. Nhưng bạn có thể cho trẻ sơ sinh loài
người xem một đống vật thể có vẻ ngoài khác nhau, phát ra âm thanh khác nhau,
và tạo ra các cảm giác khác nhau, và chỉ cần thêm vào đó một từ ngữ - một TỪ NGỮ - và những đứa trẻ nhỏ bé này sẽ
hình thành một khái niệm vượt lên trên sự khác biệt ngoại hình của những vật thể
đó. Chúng hiểu được rằng những vật thể có một sự tương đồng về mặt tâm lý, và sự
tương đồng này không thể nhận thức được ngay lập tức thông qua năm giác quan. Sự
tương đồng này là thứ mà chúng ta gọi là mục tiêu của khái niệm. Trẻ sơ sinh tạo
ra một mảnh thực thế mới, một vật thể
gọi là “wug” sẽ có mục tiêu là “phát ra tiếng chuông kêu”.
Từ góc nhìn của trẻ sơ
sinh, khái niệm “wug” không tồn tại trên thế giới trước khi một người lớn dạy
nó cho chúng. Loại thực tại xã hội này –
điều xảy ra khi hai hay nhiều người cùng đồng ý rằng thứ gì đó thực sự tồn tại
trên phương diện tinh thần – là nền tảng cho văn hóa và văn minh loài người. Do
đó, trẻ sơ sinh học được cách phân loại thế giới theo các phương thức nhất
quán, có ý nghĩa và chúng ta (người nói) có thể dự đoán được, và cuối cùng thì
chính chúng cũng có thể dự đoán được. Mô hình tinh thần (mental model) của
chúng về thế giới bên ngoài trở nên giống với mô hình của chúng ta, từ đó chúng
ta có thể giao tiếp với nhau, chia sẻ các trải nghiệm, và nhận thức được một thế
giới giống nhau.
Khi con gái Sophia của tôi
còn là trẻ nhỏ và tôi mua cho con bé một chiếc xe hơi đồ chơi, tôi đã không nhận
ra rằng tôi đang giúp con bé mở rộng các danh mục dựa trên mục tiêu của nó, mài
giũa hệ thống khái niệm của con bé để tạo ra thực tại xã hội. Con bé đặt chiếc
xe gần với chiếc xe tải đồ chơi, và chúng trở thành “mẹ” và “con” rồi con bé
cho hai chiếc xe “hôn nhau”. Đôi khi con gái đỡ đầu của chúng tôi, Olivia, sang
chơi, hai bé gái cùng tuổi sẽ cùng nhau trèo vào bồn tắm và tham gia vào các bộ
phim truyền hình tưởng tượng, phức tạp trong nhiều giờ, áp đặt các chức năng mới
trên đồ chơi, bánh xà phòng, khăn tắm và các vật dụng phòng tắm khác nhau để
làm đạo cụ trong vở opera dưới nước của họ. Một khoảnh khắc đặc trưng của nhân
loại xuất hiện khi một đứa trở thành đấng toàn năng bằng cách đội khăn lên đồng
và vung bàn chải đánh răng, đứa còn lại thì quỳ xuống để cầu xin.
Khi người lớn chúng ta nói
một từ ngữ với một đứa trẻ, một hành động mang ý nghĩa lớn lao sẽ diễn ra mà
không cần báo hiệu. Trong khoảnh khắc này, chúng ta đã cho đứa trẻ một công cụ
để mở rộng thực tại - một điểm tương đồng hoàn toàn mang tính tinh thần – và
chúng sẽ phối hợp điểm tương đồng này vào những khuôn mẫu đang được hình thành
bên trong bộ não của chính mình để sử dụng trong tương lai. Đặc biệt, như bây
giờ chúng ta sẽ thấy, là chúng ta đang giao cho chúng những công cụ để tạo ra
và nhận thức cảm xúc.
Khi được sinh ra, trẻ sơ
sinh không thể nhìn thấy các khuôn mặt. Chúng không có khái niệm nhận thức về
“khuôn mặt”, do đó chúng mù kinh nghiệm về việc này. Tuy nhiên, chúng đã nhanh
chóng học cách nhìn các khuôn mặt người, chỉ bằng các quy luật nhận thức: hai mắt
ở trên, cái mũi ở giữa, và một cái miệng.
Nếu chung ta quan sát điều
này dưới góc nhìn của quan điểm cảm xúc cổ điển, chúng ta có thể kể một câu
chuyện rằng trẻ sơ sinh đã học thống kệ các khái niệm cảm xúc theo cách tương tự,
từ các quy luật nhận thức của các phân mục niềm vui, nỗi buồn, sự ngạc nhiên, sự
giận dữ và các danh mụ cảm xúc tồn tại bên trong cơ thể hoặc bên trong thứ được
gọi là biểu cảm của người khác. Nhiều nhà nghiên cứu, được truyền cảm hứng từ
quan điểm cổ điển, đã giả định một cách đơn giản là các khái niệm cảm xúc của
trẻ được dựng lên từ sự hiểu biết biểu cảm bẩm sinh hoặc phát triển từ rất sớm.
Điều này được cho là đã giải thích cho việc trẻ học các từ ngữ chỉ cảm xúc như
thế nào và cũng giải thích cho nguyên nhân và kết quả của cảm xúc.
Chúng ta đã hiểu được rằng,
trở ngại lớn nhất cho toàn bộ ý tưởng này chính là việc các dấu vân tay nhất
quán cho cảm xúc không tồn tại trên gương mặt hay trên cơ thể. Trẻ em phải học
được các khái niệm cảm xúc bằng cách khác.
Chúng ta cũng đã nhận thấy
rằng các từ ngữ đã mời gọi trẻ sơ sinh đánh đồng các vật thể vô cùng khác nhau.
Các từ ngữ cũng khuyến khích trẻ sơ sinh tìm kiếm điểm tương đồng vượt lên trên
vẻ ngoài của vật thể, những điểm tương đồng này giống như chất keo tinh thần
cho các khái niệm. Các em bé có thể học hỏi các khái niệm cảm xúc một cách hợp
lý theo cách này. Các phân mục của “sự giận dữ” có thể không có bất kỳ điểm
tương đồng nào về mặt nhận thức, nhưng từ “giận dữ” có thể nhóm chúng vào cùng
một khái niệm đơn lẻ, cũng như cái cách mà trẻ đã nhóm các “wug” và các “dak”. Đây
chỉ là suy đoán của tôi, nhưng cách giải thích này hoàn toàn phù hợp với những
dữ liệu mà chúng ta đang bàn tới.
Tôi cố gắng tưởng tượng ra
cách mà con gái Sophia của tôi học hỏi được các khái niệm cảm xúc khi con bé
còn là trẻ sơ sinh, thông qua những từ ngữ chỉ cảm xúc mà tôi và chồng tôi cố ý
nói với con bé. Trong văn hóa của chúng ta, một mục tiêu của “giận dữ” là để vượt
qua một trở ngại mà ai đó rất đáng trách đã đặt lên con đường của bạn. Do đó,
khi một người bạn nhỏ đánh Sophia, đôi khi con bé sẽ khóc và đôi khi con bé sẽ
đánh lại. Khi con bé không thích đồ ăn của nó, đôi khi nó sẽ phun ra và đôi khi
nó sẽ cười rồi lật cái tô xuống sàn nhà. Những hành động thể chất này đi kèm với
các chuyển động khuôn mặt khác nhau, những thay đổi khác nhau trong ngân sách
cơ thể của con bé (để phù hợp với các hành động thể chất của nó), và những
khuôn mẫu cảm xúc nội tại khác nhau. Trong dòng chày các hoạt động này, bố con
bé và tôi sẽ thốt ra những luồng âm thanh: “Sophie, con yêu, con đang giận dữ
sao?” “Đừng giận dữ, con yêu à.” “Sophie, con đang thấy giận dữ.”
Ban đầu, đối với Sophia,
những tiếng ồn này rất mới mẻ, nhưng theo thời gian, nếu giả thuyết của tôi là
chính xác, thì con bé sẽ học thống kê để liên kết những khuôn mẫu cơ thể đa dạng
và bối cảnh với âm thanh “giận-dữ”, cũng giống như cách một đứa trẻ liên kết một
món đồ chơi kêu chít chít với âm thanh “wug”. Cuối cùng, từ ngữ “giận dữ” mời gọi
con gái tôi tìm ra cách thức mà các phân mục này giống nhau, thậm chí nếu chúng
trông có vẻ khác nhau và cảm thấy khác nhau ở vẻ ngoài. Kết quả là, Sophie đã định
hình một khái niệm thô sơ của các phân mục được đặc trưng bởi một mục tiêu
chung: vượt qua một chướng ngại. Và quan trọng nhất, Sophia học được rằng hành
động nào và cảm giác nào sẽ hiệu quả nhất để đạt được mục tiêu trong từng tình
huống.
Bằng cách này, não của
Sophia sẽ xây dựng bộ khung cho khái niệm “sự giận dữ” theo cấu trúc trung tính
của nó. Lần đầu tiên chúng tôi dùng chữ “giận dữ” với Sophia, chúng tôi đã kiến
tạo nên các trải nghiệm giận dữ cho con bé. Chúng tôi đã thu hút sự chú ý của
con bé, dẫn dắt bộ não của nó để lưu trữ mỗi một phân mục với tất cả các chi tiết
liên quan. Từ ngữ giúp con bé tạo ra các điểm tương đồng giữa tất cả các phân mục
của “giận dữ” đã có sẵn trong não con bé. Não của con bé đã nắm bắt được những
điều xảy ra trước và sau trải nghiệm này. Tất cả những điều này trở thành khái
niệm “giận dữ” của con bé.
Trong ví dụ trước của
chúng ta với Thống Đốc Connecticut Malloy, tôi đã diễn tả cách mà các khán giả
đã suy đoán trạng thái cảm xúc của ông – một nỗi buồn sâu sắc – bằng cách quan
sát các chuyển động và giọng nói của ông trong một bối cảnh cụ thể. Tôi nghĩ rằng
trẻ em cũng học được cách làm điều tương tự. Khi chúng học một khái niệm như
“giận dữ”, chúng có thể dự đoán và tạo ý nghĩa cho các chuyển động và chất giọng
của người khác – mỉm cười, nhún vai, la hét, thì thầm, siết chặt quai hàm, mở
to mắt, và thậm chí là khi họ bất động – cũng như các cảm giác cơ thể của chính
họ, để kiến tạo nên nhận thức về sự giận dữ. Hoặc là, chúng có thể tập trung và
việc dự đoán và tạo ý nghĩa cho các cảm giác nội tại của chúng, cùng với các cảm
giác từ thế giới bên ngoài, để tạo nên trải nghiệm cảm xúc. Khi Sophia lớn hơn,
con bé mở rộng khái niệm “giận dữ” của mình đến những người đóng sầm cánh cửa,
thêm các phân mục này vào quần thể của con bé. Và khi con bé gặp ai đó đang xì
mũi và nó nói, “Mẹ ơi, người này đang giận dữ”, và tôi sửa lỗi cho con bé, con
bé sẽ mãi giũa khái niệm “giận dữ” một lần nữa. Não bộ của nó giải nghĩa các cảm
giác, thông qua việc dùng các khái niệm phù hợp với tình huống, để kiến tạo nên
một phân mục của cảm xúc.
Nếu tôi suy luận đúng,
thì, khi trẻ con tiếp tục phát triển khái niệm “giận dữ”, chúng học được rằng
không phải tất cả các phân mục “giận dữ” đều được kiến tạo cho cùng một mục
đích ở mọi tình huống. “Giận dữ” cũng có thể dùng để bảo vệ chính mình trước
hành vi xúc phạm, để đối phó với một người đã hành động không công bằng – khi họ
muốn gây hấn với người khác hay khi họ muốn giành chiến thắng trong một cuộc
thi hoặc để nâng cao hiệu suất theo một cách nào đó, hoặc muốn tỏ ra có sức mạnh.
Theo dòng suy luận này,
Sophia cuối cùng sẽ học được rằng các từ liên quan đến giận dữ như “bực tức”,
“khinh bỉ” và “thù hằn” đều ám chỉ các mục tiêu khác nhau và gắn kết các quần
thể phân mục khác nhau. Và cứ như vậy, Sophia đã phát triển vốn từ vựng chuyên
môn về các khái niệm liên quan đến sự tức giận để chuẩn bị cho con bé bước vào
đời sống của một thiếu niên Mỹ điển hình. (Theo ghi nhận, con bé không thường
xuyên trải nghiệm cảm giác khinh bỉ hoặc thù hằn, nhưng những khái niệm này có
ích với những thanh thiếu niên khác.)
Giả thuyết về sự dẫn dắt của
tôi, như bạn có thể thấy từ câu chuyện về sự phát triển của Sophia, là những từ
ngữ chỉ cảm xúc đã nắm giữ chiếc chìa khóa để chúng ta có thể hiểu được trẻ em
học các khái niệm cảm xúc như thế nào khi các dấu vân tay sinh học không tồn tại,
và khi có quá nhiều sự đa dạng (trong các khái niệm cảm xúc). Hãy nhớ rằng ở
đây, chúng ta không nói về những từ ngữ khi chúng đứng một mình, mà là những từ
ngữ khi chúng được nói ra bởi những người khác trong ngách cảm tính của đứa trẻ
khi họ dùng các khái niệm cảm xúc. Những từ ngữ này đã mời gọi đứa trẻ tạo ra
các khái niệm dựa trên mục tiêu như “vui vẻ”, “buồn bã”, “sợ hãi” và mọi khái
niệm cảm xúc khác trong văn hóa của đứa trẻ.
Cho đến nay, giả thuyết của
tôi về các từ ngữ chỉ cảm xúc chỉ là suy đoán hợp lý bởi vì khoa học về cảm xúc
vẫn đang thiếu một sự khám phá có hệ thống để trả lời cho câu hỏi này. Chắc chắn
rằng, chưa có bất kỳ một nghiên cứu sáng tạo nào giống với nghiên cứu của
Waxman, Xu, Gelman và những nhà tâm lý học phát triển khác dành cho các khái niệm
và danh mục cảm xúc. Nhưng chúng ta có một số bằng chứng thuyết phục và hoàn
toàn nhất quán với giả thuyết này.
Thông qua các thí nghiệm cẩn
thận trên trẻ em được thực hiện trong phòng thí nghiệm, có một số bằng chứng
cho thấy rằng trẻ không phát triển các khái niệm cảm xúc của người lớn như “giận
dữ”, “buồn bã”, “sợ hãi” cho đến khi chúng lên ba tuổi. Những đứa trẻ nhỏ hơn ở
các nền văn hóa phương Tây dùng những từ ngữ như “buồn”, “sợ”, và “giận” thay
thế cho nhau để chỉ cảm xúc “xấu”, chúng đã cho thấy khả năng nhận định chi tiết
cảm xúc thấp (low emotional granularity), cũng giống như các đối tượng thí nghiệm
trong trường học của tôi – những người mà đối với họ, “trầm cảm” và “căng thẳng”
chẳng khác gì nhau, chúng chỉ là cảm giác “khó chịu”. Là cha mẹ, chúng ta có thể
nhìn con mình và nhận thức được các cảm xúc của chúng khi chúng khóc lóc, vặn vẹo
và cười. Chắc chắn là trẻ cảm nhận được niềm vui và sự bực bội (distress) từ
khi mới lọt lòng, và những khái niệm liên quan đến cảm tính khác (dễ chịu/khó
chịu) đã xuất hiện ở độ tuổi ba đến bốn tháng tuổi. Nhưng có rất nhiều nghiên cứu
đã chỉ ra rằng những khái niệm cảm xúc của người lớn chỉ phát triển ở giai đoạn
sau này. Giai đoạn nào sau này thì vẫn còn là một câu hỏi mở.
Một bằng chứng khác cho giả
thuyết của tôi về các từ ngữ chỉ cảm xúc đến từ một nguồn không ngờ: những người
làm việc với tinh tinh. Jennifer Fugate, một cựu nghiên cứu sinh sau tiến sĩ
trong phòng thí nghiệm của tôi, đã thu thập các bức ảnh về cấu hình khuôn mặt của
tinh tinh mà một số nhà khoa học coi là biểu hiện cảm xúc, bao gồm khuôn mặt
"chơi đùa", khuôn mặt "hét lên", khuôn mặt "nhe
răng" và khuôn mặt "hú". Cô đã kiểm tra thử những chuyên gia và
những người mới trong lĩnh vực nghiên cứu tinh tinh để xem liệu họ có thể nhận
ra các cấu hình này hay không, và ban đầu thì không có ai trong số họ có thể
làm được điều này. Do đó, chúng tôi đã thực hiện một thí nghiệm tương tự với
thí nghiệm mà chúng tôi thực hiện với trẻ sơ sinh: phân nửa số chuyên gia và
người mới chỉ xem các bức ảnh gương mặt của tinh tinh, và phân nửa thì xem ảnh
được dán nhãn với những từ ngữ được chúng tôi bịa ra, như “peant” để mô tả
gương mặt vui chơi và “shane” để mô tả gương mặt la hét. Cuối cùng, chỉ có những
đối tượng học các từ ngữ mới có thể phân loại một cách chính xác các cấu hình
gương mặt của tinh tinh, điều này đã chứng minh rằng họ đã thu được các khái niệm
để phân loại các gương mặt.
Khi đứa trẻ lớn lên, chúng
đã định hình toàn bộ hệ thống khái niệm cho cảm xúc. Bao gồm tất cả các khái niệm
cảm xúc mà chúng học được trong đời, được neo lại với các từ ngữ định danh cho
những khái niệm này. Chúng phân loại các cấu hình gương mặt và cơ thể khác nhau
trong cùng một cảm xúc, và mỗi một cấu hình riêng lẻ trong nhiều cảm xúc khác
nhau. Sự đa dạng chính là nguyên tắc. Vậy thì, đâu là quy luật thống kê giúp
nhóm một khái niệm như “vui vẻ” hay “giận dữ”? Đó chính là các từ ngữ. Điểm
chung có thể nhìn thấy rõ ràng nhất ở tất cả các phân mục của “giận dữ” chính
là chúng đều được gọi là “giận dữ”.
Một khi những đứa trẻ có
được khái niệm cảm xúc đầu tiên của chúng, những yếu tố khác ngoài từ ngữ bắt đầu
trở nên quan trọng hơn đối với việc phát triển hệ thống khái niệm cảm xúc.
Chúng bắt đầu nhận ra rằng các cảm xúc là các sự kiện phát triển theo thời
gian. Một cảm xúc sẽ có bắt đầu hoặc có nguyên nhân tạo ra nó (“Mẹ mình bước
vào phòng”). Sau đó là đoạn giữa, bản thân mục tiêu đang xảy ra (“Mình vui khi
nhìn thấy mẹ”). Sau đó là kết thúc, kết quả của việc đạt được mục tiêu – điều
sau xảy sau đó (“Mình sẽ mỉm cười và mẹ mình sẽ cười với mình và ôm mình.”) Điều
này có nghĩa là một phân mục của một khái niệm cảm xúc giúp giải nghĩa dòng chảy
thông tin cảm giác đầu vào liên tục và lâu dài, phân chúng ta thành những sự kiện
riêng biệt.
Bạn nhìn thấy cảm xúc
trong những cái chớp mắt, những hàng chân mày chau lại, và những cơ đang co thắt
khác; bạn nghe thấy cảm xúc trong cao độ và âm vực của giọng nói; bạn cảm nhận
được cảm xúc trong chính cơ thể mình, nhưng thông tin cảm xúc không tồn tại
trong các tín hiệu này. Bộ não của bạn không được lập trình một cách tự nhiên để
nhận ra các biểu cảm gương mặt và những thứ gọi là biểu hiện cảm xúc khác rồi
phản xạ với chúng. Những thông tin cảm xúc nằm trong nhận thức của bạn. Tự
nhiên chỉ cung cấp cho bộ não của bạn các nguyên liệu thô để nó tự thiết lập
cho chính mình một hệ thống khái niệm, với thông tin đầu vào từ một nhóm người
lớn – những người nói cho bạn nghe nhữ từ ngữ chỉ cảm xúc theo một cách cố ý và
có chủ đích.
Chúng ta không chỉ học hỏi
khái niệm khi còn nhỏ - mà chúng ta tiếp tục học hỏi trong suốt cuộc đời mình.
Đôi khi một từ ngữ chỉ cảm xúc mới xuất hiện trong ngôn ngữ mẹ đẻ của bạn, tạo
ra một khái niệm mới. Ví dụ, schadenfreude,
một từ tiếng Đức chỉ cảm xúc “niềm vui có được khi nhìn thấy ai đó gặp xui
xẻo”, bây giờ đã được dùng trong tiếng Anh. Cá nhân tôi muốn thêm từ Hy Lạp stenahoria vào tiếng Anh, từ này dùng để
chỉ cảm giác diệt vong, vô vọng, nghẹt thở và co thắt. Tôi có thể nghĩ đến một
vài mối quan hệ tình cảm mà khái niệm cảm xúc này sẽ có ích.
Những ngôn ngữ khác thường
có các từ ngữ chỉ cảm xúc liên quan đến những khái niệm không có trong tiếng
Anh. Ví dụ như, trong tiếng Nga có hai khái niệm riêng biệt để chỉ thứ cảm xúc
mà người Mỹ gọi chung là “giận dữ”. Tiếng Đức thì có ba cảm xúc “giận dữ” khác
nhau và tiếng Trung Quốc phổ thông thì có năm. Nếu bạn học bất kỳ thứ ngôn ngữ
nào trong số này, bạn cần nắm được những khái niệm cảm xúc mới để kiến tạo nên
các nhận thức và trải nghiệm chúng. Bạn sẽ phát triển các khái niệm này nhanh
hơn nếu bạn sống chung với những người bản địa nói thứ ngôn ngữ mới này. Những
khái niệm mới bị ảnh hưởng bới các khái niệm cũ trong ngôn ngữ mẹ đẻ của bạn.
Ví dụ như, những người bản địa nói tiếng Anh khi học tiếng Nga phải học cách
phân biệt giữa sự giận dữ đối với một người, gọi là serdit’sia, và sự giận dữ đối với một lý do trừu tượng như một tình
huống chính trị, gòi là zlit’sia.
Khái niệm thứ hai thì giống với khái niệm “giận dữ” trong tiếng Anh hơn, nhưng
những người nói tiếng Nga thì dùng khái niệm đầu tiên thường xuyên hơn; kết quả
là, những người nói tiếng Anh cũng dùng serdit’sia
thường xuyên hơn và họ đã áp dụng sai từ ngữ này. Đây không phải là lỗi có ý
nghĩa về mặt sinh học, vì cả hai khái niệm đều không có dấu vân tay sinh học,
nhưng chúng có ý nghĩa thuộc về văn hóa.
Các khái niệm cảm xúc mới
từ ngôn ngữ thứ hai cũng có thể giúp bổ sung vào những cảm xúc đã sẵn có trong
ngôn ngữ mẹ đẻ của bạn. Một nhà khoa học nghiên cứu trong phòng thí nghiệm của
tôi, Alexandra Touroutoglou, đến từ Hy Lạp để học về khoa học thần kinh. Khi cô
ấy nói tiếng Anh trôi chảy hơn, các khái niệm cảm xúc trong tiếng Anh và tiếng
Hy Lạp của cô ấy bắt đầu đan xen vào nhau. Ví dụ, tiếng Hy Lạp có hai khái niệm
để diễn tả cảm giác “tội lỗi”, một dành cho mức độ nhỏ và một dành cho mức độ
nghiêm trọng hơn. Tiếng Anh thì bao trùm cả hai tình huống với duy nhất một từ
“tội lỗi”. Khi Alex nói chuyện với em gái mình – người vẫn còn đang ở Hy Lạp,
Alex sẽ dùng từ ngữ chỉ tội lỗi “nghiêm trọng” (enohi) để diễn đạt khi, ví dụ
như, cô ấy lỡ ăn quá nhiều bánh ngọt ở buổi tiệc ở bãi biển của phòng thí nghiệm.
Với em gái cô ấy, Alex đang hơi kịch tính hóa vấn đề. Trong trường hợp này,
Alex đã kiến tạo trải nghiệm ăn tráng miệng của cô ấy thông qua khái niệm về tội
lỗi trong tiếng Anh.
Tôi hy vọng đến lúc này
thì bạn đã biết được tầm quan trọng của vấn đề đang diễn ra ở đây. Các từ ngữ
chỉ cảm xúc không chỉ là những dữ liệu cố định được lưu trữ trong bộ não về những
sự kiện cảm xúc ở thế giới bên ngoài. Chúng phản ánh nhiều ý nghĩa cảm xúc khác
nhau, bạn tạo ra những cảm xúc này chỉ từ các dấu hiệu vật chất đến từ thế giới
ngoài thông qua các kiến thức cảm xúc của bạn. Bạn thu thập những kiến thức
này, từng chút một, từ tập hợp các kiến thức chứa trong bộ não của những người
chăm sóc bạn, những người nói chuyện với bạn, và giúp bạn tạo ra thế giới xã hội
của chính mình.
Cảm xúc không phải là các
phản ứng với thế giới; mà chính chúng
đã kiến tạo nên thế giới của chính bạn.
Một khi hệ thống khái niệm
của bạn đã được thiết lập trong bộ não, bạn không cần nhớ lại hoặc nói ra một từ
ngữ cảm xúc để kiến tạo nên một phân mục cảm xúc nữa. Trên thực tế, bạn có thể
trải nghiệm và nhận thức một cảm xúc ngay cả khi bạn không có từ ngữ nào để diễn
tả nó. Hầu hết mọi người trong chúng ta, những người nói tiếng Anh, đều có thể
cảm thấy vui vẻ trước vận xui của ai đó trước khi từ schadenfreude du nhập vào ngôn ngữ chúng ta. Tất cả những thứ bạn cần
ở đây là một khái niệm. Làm sao mà bạn có được một khái niệm mà không dùng từ
ngữ? À, hệ thống khái niệm trong não bạn có một năng lực đặc biệt được gọi là kết hợp khái niệm (conceptual combination).
Nó kết hợp các khái niệm có sẵn để tạo ra phân mục đầu tiên trong một khái niệm
cảm xúc mới mẻ.
Bạn tôi, Batja Mesquita,
là một nhà tâm lý học văn hóa người Hà Lan, và lần đầu tiên tôi đến thăm cô ấy ở
Bỉ, cô ấy nói rằng chúng tôi đang có một cùng loại cảm xúc gọi là gezellig. Cuộn người trong phòng khách của
cô ấy, cùng uống rượu và ăn chocolate, cô ấy đã giải thích rằng, cảm xúc này có
nghĩa là cảm giác thoải mái, êm ấm, được ở nhà cùng với những người bạn và những
người thân yêu. Gezellig không phải
là một cảm xúc nội tại mà ai đó có thể đem lại cho người khác, mà là một cách
người đó trải nghiệm chính mình trong thế giới bên ngoài. Không có từ ngữ tiếng
Anh đơn lẻ nào có thể mô tả trải nghiệm cảm giác gezellig, nhưng một khi Batja giải thích từ này cho tôi, tôi lập tức
có thể cảm nhận được nó. Cách cô ấy dùng từ ngữ đã khiến tôi định hình một khái
niệm – giống như trẻ sơ sinh đã làm, nhưng thông qua sự kết hợp khái niệm – tôi
tự động dùng các khái niệm của mình như “bạn thân”, “tình yêu”, và “vui sướng”,
với một chút từ “thoải mái” và “hạnh phúc”. Tuy nhiên, chuyển ngữ như vầy thì
không hoàn toàn chính xác, bởi vì khi tôi dùng tiếng Anh để trải nghiệm gezellig, tôi đã dùng các khái niệm tập
trung nhiều vào cảm giác nội tại hơn là các khái niệm mô ta tình huống xung
quanh.
Kết hợp khái niệm là một
năng lực tiềm ẩn của bộ não. Các nhà khoa học vẫn đang tranh cãi về cơ chế nào
chịu trách nhiệm cho việc này, nhưng họ khá đồng ý rằng nó là một chức năng cơ
bản của hệ thống khái niệm. Nó cho phép bạn kiến tạo nên số lượng vô hạn các
khái niệm mới từ những khái niệm sẵn có. Bao gồm cả những khái niệm dựa trên mục
tiêu như “Những thứ có thể bảo vệ bạn khỏi bị côn trùng chích” – dù mục tiêu của
khái niệm này chỉ tồn tại ngắn ngủi.
Kết hợp khái niệm rất mạnh
mẽ, nhưng nó còn lâu mới hiệu quả như việc có một từ ngữ để diễn đạt khái niệm.
Nếu bạn hỏi tôi rằng tối nay tôi đã ăn gì, thì tôi có thể trả lời rằng “bột nướng
với sốt cà chua và pho mát”, nhưng câu trả lời này ít hiệu quả hơn nhiều so với
trả lời là “pizza”. Nói một cách chính xác, thì bạn bạn không một từ ngữ chỉ cảm
xúc để kiến tạo nên một phân mục của cảm xúc đó, nhưng nếu có một từ ngữ thì sẽ
dễ dàng hơn nhiều. Nếu bạn muốn khái niệm của bạn hiệu quả, và nếu bạn muốn
truyền đạt khái niệm này cho người khác, thì một từ ngữ sẽ rất hữu dụng.
Trẻ sơ sinh có thể hưởng lợi
từ “hiệu ứng pizza” này trước khi chúng biết nói. Ví dụ, những đứa trẻ chưa biết
nói thường nghĩ về ba thứ cùng một lúc. Nếu bạn giấu các món đồ chơi vào một
cái hộp và trẻ nhìn thấy hành động này, thì trẻ có thể nhớ được tối đa ba nơi
giấu đồ. Tuy nhiên, nếu bạn dán nhãn vài món đồ chơi với những từ vô nghĩa như
“dax” và vài món khác với “blicket” trước khi giấu chúng đi – nghĩa là bạn đang
phân loại các món đồ chơi – thì trẻ sơ sinh có thể nhớ đến tối đa sáu món đồ! Điều
này vẫn xảy ra ngay cả khi sáu món đồ này giống hệt nhau, nghĩa là trẻ sơ sinh
có thể hưởng lợi từ kiến thức khái niệm y như người lớn. Sự kết hợp khái niệm cộng
thêm các từ ngữ dẫn đến kết quả là năng lực tạo ra thực tại.
Trong nhiều nền văn hóa, bạn
sẽ thấy nhiều người có hàng trăm, hoặc hàng ngàn khái niệm cảm xúc, nghĩa là, họ
có khả năng nhận định chi tiết cảm xúc cao. Ví dụ, trong tiếng Anh, họ có thể
có những khái niệm cho, ví dụ như, sự giận sữ, nỗi buồn, sự sợ hãi, hạnh phúc,
ngạc nhiên, tội lỗi, ngạc nhiên, xấu hổ, từ bi, ghê tởm, kinh ngạc, phấn khích,
tự hào, mắc cỡ, biết ơn, khinh thường, khao khát, vui mừng, ham muốn, háo hức
và yêu thương. Họ cũng có những khái niệm riêng biệt cho những từ ngữ gắn liền
với nhau như: “tức tối”, “khó chịu”, “thất vọng”, “thù địch”, “thịnh nộ” và “bất
bình”. Người này hẳn là một chuyên gia về cảm xúc. Một sommelier* cảm xúc. (sommelier: chuyên gia thử, nếm rượu rồi kết
hợp thức ăn…) Mỗi từ đều liên quan đến khái niệm cảm xúc của riêng nó, và mỗi
khái niệm đều có thể dùng cho ít nhất một mục tiêu, nhưng thông thường chúng được
dùng cho nhiều mục tiêu khác nhau. Nếu một cảm xúc là một công cụ, thì người
này hẳn là có một hòm công cụ khổng lồ phù hợp với một người thợ thủ công lành
nghề.
Những người có khả năng nhận
định chi tiết cảm xúc trung bình thường có hàng tá các khái niệm cảm xúc, thay
vì hàng trăm khái niệm. Trong tiếng Anh, họ có dùng các khái niệm như giận dữ,
buồn bã, sợ hãi, ghê tởm, vui vẻ, ngạc nhiên, tội lỗi, xấu hổ, tự hào và khinh
bỉ; có thể không nhiều hơn cái gọi là những cảm xúc cơ bản. Đối với những người
này, những từ ngữ như : “tức tối”, “khó chịu”, “thất vọng”, “thù địch”, “thịnh
nộ” và “bất bình”, v.v đều thuộc về khái niệm “giận dữ”. Người này có một hòm
công cụ nhỏ bình thường, chứa đầy những công cụ hữu dụng. Không có gì đặc biệt,
nhưng có thể giúp họ làm tốt việc cần làm.
Những người có khả năng nhận
định chi tiết cảm xúc thấp thường chỉ có vài khái niệm cảm xúc. Trong tiếng
Anh, họ có thể dùng những thứ như “buồn”, “sợ”, “tội lỗi”, “xấu hổ”, “mắc cỡ”,
“thù địch”, “giận dữ” và “khinh bỉ”, nhưng những từ này đều chỉ một khái niệm
giống nhau với mục tiêu là diễn đạt “cảm giác khó chịu” gì đó. Người này chỉ có
một vài công cụ - một cái búa và một con dao Thụy Sĩ. Có thể người này vẫn làm
việc bình thường, nhưng có thêm vài công cụ nữa thì cũng không sao cả, ít nhất
là nếu người này sống trong bối cảnh văn hóa phương Tây. (Chồng tôi hay đùa rằng
trước khi chúng tôi gặp nhau, anh ấy chỉ có ba loại cảm xúc: vui, buồn, và
đói.)
Khi trí óc có một hệ thống
khái niệm cảm xúc nghèo nàn, thì liệu có nó nhận thức được cảm xúc hay không? Từ
các thí nghiệm khoa học trong phòng thí nghiệm của chúng tôi, chúng tôi đã biết
câu trả lời thường là không. Như bạn đã biết từ chương 3, chúng ta có thể dễ
dàng can thiệp vào khả năng nhận thức được sự giận dữ của một người trước vẻ mặt
cau có, nỗi buồn trước vẻ mặt phụng phịu, và niềm vui trước một nụ cười bằng
cách làm suy giảm khả năng tiếp cận các khái niệm cảm xúc của họ.
Nếu người ta không có một
hệ thống khái niệm cảm xúc được phát triển tốt, thì đời sống cảm xúc của họ sẽ
như thế nào? Liệu có phải họ sẽ chỉ cảm nhận được các cảm tính? Những câu hỏi
này khó mà có thể kiểm tra được một cách khoa học. Các trải nghiệm cảm xúc
không có bất kỳ dấu vân tay khách quan nào trên mặt, cơ thể, hay não bộ để mà
giúp chúng ta tính toán ra một câu trả lời. Điều tốt nhất là chúng ta có thể
làm là hỏi một người xem họ cảm thấy như thế nào, nhưng lúc đó họ lại dùng các
khái niệm cảm xúc để trả lời, và như vậy thì mục tiêu thí nghiệm đã bị phá vỡ.
Cách để giải quyết vấn đề
hóc búa này là nghiên cứu những người bẩm sinh đã có một hệ thống khái niệm cảm
xúc nghèo nàn, những người mắc một chứng bệnh gọi là “mất khả năng diễn đạt cảm
xúc” (alexithymia), chứng bệnh được ước tính là ảnh hưởng đến 10% dân số thế giới.
Những người mắc chứng bệnh này gặp nhiều khó khăn trong việc trải nghiệm cảm
xúc, như thuyết kiến tạo cảm xúc đã dự đoán trước. Trong một tình huống mà người
ta phải dùng hệ thống khái niệm để trải nghiệm sự giận dữ, những người mắc chứng
“mất khả năng diễn đạt cảm xúc” thì thường trải nghiệm một cơn đau bao tử. Họ
phàn nàn về các dấu hiệu thể chất và nói rằng họ cảm nhận một cảm tính
(feelings of affect) nhưng không trải nghiệm chúng dưới dạng một cảm xúc. Những
người mất khả năng diễn đạt cảm xúc cũng gặp khó khăn trong việc nhận thức được
cảm xúc của người khác. Nếu một người có hệ thống khái niệm hoạt động bình thường
nhìn thấy hai người đang hét vào mặt nhau, họ có thể suy ra trạng thái tinh thần
và nhận thức được đây là sự giận dữ, trong khi đó, một người mắc chứng mất khả
năng diễn đạt cảm xúc chỉ nói là họ nhận thức được sự la hét mà thôi. Những người
này cũng chỉ có một vốn từ vựng chỉ cảm xúc hạn chế và gặp nhiều khó khăn trong
việc ghi nhớ các từ vựng chỉ cảm xúc. Những manh mối này đã cung cấp bằng chứng
rằng các khái niệm là vô cùng quan trọng để một người có thể trải nghiệm và nhận
thức được cảm xúc.
Các khái niệm được liên kết
với mọi thứ mà bạn nhận thức và hành động. Và như bạn đã biết được từ chương
trước. mọi thứ mà bạn nhận thức và hành động đều liên kết với ngân sách cơ thể
bạn. Do đó, những khái niệm phải liên kết với ngân sách cơ thể bạn. Và, trên thực
tế, chúng thực sự liên kết.
Khi bạn được sinh ra, bạn
không để điều chỉnh nguồn ngân sách của mình, vì thế người chăm sóc bạn sẽ giúp
bạn làm điều đó. Mỗi khi mẹ bạn ôm bạn lên và cho bạn ăn – thì đó là một sự kiện
đa giác quan với nhiều quy luật: hình ảnh gương mặt bạn, âm thanh giọng nói của
bà, mùi mẹ của bà, cái ôm của bạn, vị sữa của bà (hoặc sữa công thức), và các cảm
giác nội tại này liên kết với việc được ôm ấp và được cho ăn. Não của bạn nắm bắt
toàn bộ bối cảnh cảm giác trong lúc này, dưới dạng khuôn mẫu của hình ảnh, âm
thanh, mùi hương, mùi vị và va chạm, và các cảm giác nội tại. Đây là cách mà những
khái niệm bắt đầu định hình. Bạn sẽ học thông qua phương thức đa giác quan. Các
thay đổi bên trong cơ thể bạn và những kết quả nội tại của chúng là một phần của
mọi khái niệm mà bạn học được, dù bạn có ý thức được chúng hay không.
Khi bạn phân loại các khái
niệm đa giác quan, bạn cũng đang điều chỉnh ngân sách cơ thể bạn. Khi bạn chơi
với trái banh, bạn đang phân loại nó không chỉ bằng màu sắc và hình dạng và kết
cấu của nó (và bằng mùi hương trong phòng, cảm giác mà bạn cảm nhận từ sàn nhà
với bàn tay và đầu gối của bạn, mùi vị còn sót lại trong miệng bạn của món cuối
cùng mà bạn ăn, v.v), mà còn thông qua các cảm giác nội tại của bạn trong lúc
đó. Điều này đã cho phép bạn dự đoán hành động của mình, ví dụ như đập vào quả
bóng hay đưa nó vào miệng, và điều này ảnh hưởng đến ngân sách cơ thể bạn.
Khi trở thành người lớn, bạn
học được rằng một sự kiện là một phân mục của một loại cảm xúc nào đó, ví dụ
như “mắc cỡ”, thì, một cách tương tự, bạn cũng sẽ nắm bắt được các hình ảnh, âm
thanh, mùi hương, mùi vị, va chạm và các cảm giác nội tại cùng nhau tạo thành
các khái niệm. Khi bạn tạo ra ý nghĩa thông qua việc sử dụng khái niệm này, bộ
não của bạn một lần nữa lại tính toán toàn bộ tình huống. Ví dụ, nếu bạn trồi
lên từ mặt biển và phát hiện ra áo tắm của mình đã rơi mất, thì não bộ của bạn
sẽ kiến tạo nên một phân mục “xấu hổ”. Hệ thống khái niệm của bạn sẽ lấy mẫu
các phân mục xấu hổ vì khỏa thân trong quá khứ của bạn, và nó sẽ đánh thuế vào
nguồn ngân sách cơ thể bạn nhiều hơn so với việc khỏa thân sảng khoái sau khi
bước ra khỏi phòng xông hơi, hay là sự khỏa thân thoải mái sau một buổi trưa đầy
đam mê với người yêu của bạn. Tùy thuộc vào bối cảnh hiện tại, não bộ của bạn
cũng lấy mẫu từ các phân mục “xấu hổ” mà bạn vẫn mặc đầy đủ quần áo nhưng lại cảm
thấy bị phơi bày – như khi bạn trả lời sai một câu hỏi trong lớp, nhưng nó
không lấy mẫu từ sự “xấu hổ” kín đáo khi bạn lỡ quên sinh nhật bạn thân mình. Não
bộ của bạn lấy mẫu từ hệ thống khái niệm lớn hơn, như bạn đã thấy, tùy theo mục
tiêu của bạn trong tình huống sẵn có. Phân mục nào giành chiến thắng trong cuộc
đua này sẽ dẫn dắt bạn điều chỉnh nguồn ngân sách cơ thể một cách hợp lý.
Tất cả các danh mục đều dựa
trên các khả năng. Ví dụ, khi bạn đang trong kỳ nghỉ dưỡng ở Paris và bạn nhận
thức được rằng có một người lạ đang cau có với bạn trên xe điện ngầm, bạn không
có bất kỳ trải nghiệm quá khứ nào về người lạ này hay chuyến tàu điện ngầm này,
và bạn chưa từng đến Paris, nhưng não của bạn vẫn có những trải nghiệm quá khứ
về những người cau có ở những nơi xa lạ. Não bộ của bạn có thể kiến tạo lên một
mẫu các khái niệm, dựa trên các trải nghiệm quá khứ và các khả năng có thể xảy
ra, và dùng nó để dự đoán. Mỗi một chi tiết của bối cảnh (bạn đang ở một mình
hay chuyến tàu đang đông đúc? Người này là nam hay nữ? Hàng chân mày của họ
đang nhướng lên hay chau lại?) đều sẽ cho phép não của bạn mài giũa các khả
năng có thể xảy ra cho đến khi nó quyết định được khái niệm nào là phù hợp nhất
và có khả năng giảm thiểu lỗi dự đoán nhiều nhất. Bạn không phát hiện ra hay nhận
ra cảm xúc từ gương mặt người khác. Bạn không nhận ra các khuôn mẫu tâm lý từ
cơ thể của chính bạn. Bạn chỉ dự đoán và giải thích ý nghĩa của các cảm giác dựa
trên các khả năng và các trải nghiệm mà bạn đã có. Điều này xảy ra mỗi khi bạn
nghe thấy một từ ngữ chỉ cảm xúc hoặc đối diện với một loạt các cảm xúc.
Tất cả sự phân loại, bối cảnh
và các khả năng này có vẻ khá là đi ngược với nhận thức. Khi tôi đi vào rừng và
nhìn thấy một con rắn quái dị trên đường đi của mình, chắc chắn là tôi sẽ không
từ nói với chính mình rằng, “À, mình chủ động dự đoán về con rắn này thông qua một quần thể các khái niệm đang cạnh
tranh với nhau – những khái niệm đã được kiến tạo từ quá khứ và có một mức độ
tương đồng nhất định với tập hợp các cảm giác hiện tại, từ đó tạo nên nhận thức
của mình.” Tôi chỉ “nhìn thấy con rắn”. Và tôi rón rén quay gót rồi bỏ chạy,
tôi không nghĩ “mình đã mài giũa nhiều dự đoán cho đến khi một phân mục cảm xúc
nào đó trong danh mục “sợ hãi” chiến thắng, khiến mình bỏ chạy.” Không, tôi chỉ
cảm thấy kinh hoàng và mong muốn được thoát khỏi đây. Nỗi sợ đến bất thình lình
và không kiểm soát được; như thể có một lực thúc đẩy (con rắn) đã kích hoạt một
trái bom nhỏ (dấu vân tay thần kinh) để tạo ra một phản ứng (sợ hãi và bỏ chạy).
Khi tôi kể câu chuyện con
rắn với những người bạn của tôi khi chúng tôi đi uống cà phê với nhau, tôi
không kể rằng “Sau khi kiến tạo một phân mục khái niệm “sợ hãi” để phù hợp với
hoàng cảnh xung quanh thông qua việc sử dụng các trải nghiệm quá khứ, bộ não của
tôi đã thay đổi cách hoạt động của các neuron thị giác trước khi con rắn xuất
hiện trên đường, giúp tôi chuẩn bị tinh thần để nhìn thấy con rắn rồi bỏ chạy
theo hướng khác, và một khi dự đoán của tôi được xác nhận, các giác quan của
tôi được phân loại, và tôi đã kiến tạo nên trải nghiệm về nỗi sợ hãi giúp giải
thích cho các giác quan của mình theo hướng mục tiêu, và tôi đã tạo ra một suy
đoán về mặt tâm trí để nhận thức được con rắn là nguyên nhân của các cảm xúc của
mình, và kết quả của hàng loạt chuyện này là tôi bỏ chạy.” Không, câu chuyện của
tôi đơn giản hơn nhiều: “Tôi nhìn thấy một con rắn. Tôi hét lên rồi bỏ chạy.”
Không có bất kỳ chi tiết
nào trong vụ va chạm của tôi và con rắn cho thấy rằng tôi là kiến trúc sư tự tạo
nên toàn bộ trải nghiệm của mình. Dù vậy, thì bản thân tôi chính là kiến trúc
sư đó, dù tôi có cảm nhận được điều này hay không, cũng như khi bạn nhìn thấy
con ong từ những đốm màu. Thậm chí, trước khi tôi ý thức được con rắn, bộ não của
tôi đã bận rộn kiến tạo nên một phân mục sợ hãi. Hoặc là, nếu tôi là một bé gái
8 tuổi hy vọng ngày nào đó mình sẽ có một con rắn làm thú cưng, có thể tôi sẽ
kiến tạo nên một phân mục của sự hưng phấn. Nếu tôi là phụ huynh của con bé –
và tôi chỉ cho phép con bé nuôi rắn trong nhà sau khi tôi chết – thì có thể tôi
sẽ kiến tạo một phân mục của sự bực tức. Một bộ não hoạt động theo kiểu động cơ
– phản hồi chỉ là truyền thuyết, bộ não thực sự hoạt động theo dự đoán – chỉnh
sửa, và chúng ta kiến tạo nên các trải nghiệm cảm xúc mà không ý thức được điều
đó. Giải thích theo cách này hoàn toàn phù hợp với kiến trúc và tổ chức của não
bộ.
Nói đơn giản thì như thế
này: tôi không nhìn thấy con rắn và phân loại nó. Tôi không cảm nhận được cảm
giác thôi thúc bỏ chạy và phân loại nó. Tôi không cảm thấy tim mình đập mạnh và
phân loại nó. Cái tôi phân loại chính là các cảm giác của mình để nhìn thấy con
rắn, cảm thấy tim đập nhanh, và bỏ chạy. Tôi đã dự đoán chính xác những cảm
giác này, và khi làm việc đó, tôi đã giải thích chúng bằng một phân mục của
khái niệm “sợ hãi”. Đây chính là cách mà các cảm xúc được tạo ra.
Ngay lúc này đây, khi mà bạn
đọc những chữ này, bộ não của bạn được thiết lập với một hệ thống khái niệm cảm
xúc mạnh mẽ. Nó bắt đầu đơn giản như một hệ thống thu thập thông tin, thu thập
các kiến thức về thế giới th6ong qua việc học thống kê. Nhưng các từ ngữ cho
phép não bộ của bạn vượt ra ngoài ranh giới của các quy luật vật chất mà bạn học
được, các quy luật trí óc thuần túy giúp bạn kiểm soát ngân sách cơ thể mình để
giải thích về mặt trí óc cho lý do tại sao tim bạn đập mạnh trong ngực, tại sao
mặt bạn đỏ lên, và tại sao bạn cảm thấy và hành động theo những cách nhất định
trong các tình huống nhất định. Khi chúng ta chia sẻ những điều trừu tượng này
với nhau, đồng điệu hóa các khái niệm thông qua việc phân loại, chúng ta có thể
nhận thức được cảm xúc của người khác và giao tiếp với nhau.
Nói tóm lại, đây là lý
thuyết kiến tạo cảm xúc – một lý thuyết giải thích cho cách mà bạn trải nghiệm
và nhận thức cảm xúc dễ dàng mà không cần các dấu vân tay cảm xúc. Những hạt giống
của cảm xúc được gieo trồng từ khi bạn còn là trẻ sơ sinh, khi bạn nghe đi nghe
lại một từ ngữ chỉ cảm xúc (ví dụ như, “bực mình”) trong những tình huống rất
khác nhau. Từ “bực mình” mang giữ một quần thể các phân mục đa dạng phối hợp với
nhau tạo thành một khái niệm “sự bực mình”. Từ ngữ nào mời gọi bạn tìm kiếm các
đặc tính chung của các phân mục, thậm chí nếu các điểm tương đồng này chỉ tồn tại
trong tâm trí của người khác. Một khi bạn hình thành khái niệm này trong hệ thống
khái niệm của bạn, bạn có thể kiến tạo nên các phân mục của “sự bực mình” với sự
tồn tại của các thông tin cảm giác đầu vào đa dạng. Nếu sự chú ý của bạn tập
trung vào chính bạn trong quá trình phân loại này, thì bạn sẽ kiến tạo nên một
trải nghiệm về cảm giác bực mình. Nếu sự chú ý của bạn tập trung vào người
khác, thì bạn sẽ kiến tạo nên một nhận thức về cảm giác bực mình. Và trong mỗi
trường hợp, các khái niệm của bạn đều điều chỉnh ngân sách cơ thể bạn.
Khi bạn bị chặn đầu xe bởi
một người tài xế khác và huyết áp bạn tăng lên, tay bạn đổ mồ hôi, và bạn la
lên khi bạn đạp thắng và bạn cảm thấy bực mình… đây là một hành động phân loại.
Khi đứa con nhỏ của bạn chộp lấp một con dao sắc nhọn, và bạn thở chậm, tay bạn
khô ran, bạn mỉm cười, bạn nhẹ nhàng yêu cầu con bé đặt con dao xuống trong khi
bạn cảm thấy bực mình trong lòng… đây cũng là một hành động phân loại. Khi bạn
nhìn thấy một người khác nhìn bạn chằm chằm một cách kỳ quặc với đôi mắt mở to
và bạn nhận thấy anh ta đang bực mình, đây cũng là một hành động phân loại.
Trong tất cả các phân mục này, kiến thức của bạn về khái niệm “bực mình” đã dẫn
dắt sự phân loại, và bộ não của bạn đã diễn giải cho ý nghĩa buộc chặt vào bối
cảnh. Câu chuyện của tôi ở chương 2 về một chàng trai ở trường học tiến sĩ, người
đã mời tôi ăn trưa, khi tôi nghĩ rằng mình cảm thấy bị thu hút nhưng hóa ra là
tôi bị cảm, là một ví dụ khác cho sự phân loại. Ngân sách cơ thể của tôi bị
virus gây rối, nhưng tôi trải nghiệm kết quả đến từ sự thay đổi cảm tính này dưới
dạng cảm giác bị thu hút bởi người đang ăn trưa cùng mình bởi vì tôi đã kiến tạo
nên một phân mục của sự mê đắm. Nếu tôi phân loại các dấu hiệu của mình trong một
bối cảnh khác, có thể tôi đã xem chúng là một thứ gì đó mà vài viên Tylenol và
vài ngày nghỉ ngơi sẽ chữa lành.
Gene của bạn cho bạn một bộ
não có thể tự thiết lập môi trường thể chất và xã hội cho chính nó. Những người
xung quanh bạn, trong văn hóa của bạn, duy trì môi trường này với các khái niệm
của họ và giúp bạn sống trong môi trường này thông qua việc truyền đạt các khái
niệm trong bộ não của họ đến bộ não của bạn. Và sau đó, bạn truyền đạt những
khái niệm trong bộ não của bạn đến bộ não của thế hệ sau. Chúng ta cần nhiều
hơn một bộ não để tạo ra trí óc nhân loại.
Tuy nhiên, điều mà tôi
chưa giải thích là cách thức mà những hoạt động này vận hành trong não: nền tảng
sinh học cho sự phân loại. Các mạng lưới não bộ nào liên quan đến việc này? Và
quá trình này liên quan như thế nào đến khả năng dự đoán nội tại của bộ não và
nó ảnh hưởng như thế nào đến nguồn ngân sách cơ thể vô cùng quan trọng của bạn?
Đó là những gì chúng ta sẽ thảo luận trong chương tiếp theo khi bạn tìm hiểu mảnh
ghép cuối cùng của câu đố về cách thức mà cảm xúc được tạo ra trong não bộ.



0 nhận xét:
Đăng nhận xét