Chương 4
Nguồn Gốc Của Cảm Xúc
Hãy nghĩ về lần cuối cùng
mà bạn đắm chìm trong khoái cảm. Tôi không có ý chỉ về khoái cảm tình dục mà là
về sự vui sướng trong cuộc sống hàng này: khi ngắm nhìn bình minh, uống một hớp
nước lạnh khi bạn đang nóng bức và đổ mồ hôi, hay khi bạn tận hưởng một khoảnh
khắc yên bình sau một ngày dài rắc rối.
Giờ hay so sánh cảm giác
này với cảm giác khó chịu, như trong lần cuối cùng mà bạn bị bệnh cảm cúm, hay
sau khi bạn cãi nhau với một người bạn thân. Sự dễ chịu (pleasure) và sự khó chịu
(displeasure) tạo cho bạn những cảm giác hoàn toàn khác biệt. Tôi và bạn có thể
không đồng ý với nhau về việc thứ gì khiến chúng ta dễ chịu hay gây khó chịu
cho chúng ta – tôi thấy hạt óc chó rất ngon, còn chồng tôi thì gọi chúng là một
hành vi chống lại thiên nhiên – nhưng về nguyên tắc, mỗi người chúng ta đều có
thể phân biệt cảm giác dễ chịu và cảm giác khó chịu. Những cảm xúc này là phổ
quát, thậm chí khi các cảm xúc như hạnh phúc và giận dữ thì không có tính phố
quát, và chúng chảy như một dòng điện xuyên suốt mọi khoảnh khắc mà bạn đang thức
giấc trong suốt cuộc đời bạn.
Những cảm giác dễ chịu và
khó chịu đơn giản thường đến từ các quá trình bên trong bạn, được gọi là cảm thụ nội tại (interoception). Cảm thụ
nội tại là sự thể hiện của não bộ về tất cả các cảm giác từ các cơ quan nội tạng
và mô, các hormone trong máu và hệ thống miễn dịch của bạn. Hãy nghĩ về những
gì đang diễn ra bên trong cơ thể của bạn ngay lúc này. Phần bên trong của bạn
đang chuyển động. Tim của bạn đang bơm máu chạy khắp các tĩnh mạch và động mạch
của bạn. Phổi của bạn đầy lên rồi cạn xuống. Dạ dày của bạn đang tiêu hóa thức
ăn. Các hoạt động nội tại này tạo ra một phổ (spectrum) các cảm giác cơ bản kéo dài từ cảm giác dễ chịu đến
cảm giác khó chịu.
Trên thực tế, cảm thụ nội
tại là một trong những nguyên liệu cốt lõi cho cảm xúc, giống như bột và nước
là nguyên liệu cốt lõi của bánh mì, nhưng các cảm xúc đến từ cảm thụ nội tại
thì đơn giản hơn rất nhiều so với những trải nghiệm đầy cảm xúc như niềm vui
(joy) và nỗi buồn (sadness). Trong chương này, bạn sẽ hiểu được cách hoạt động
của cảm thụ nội tại, và nó đã tham gia vào các trải nghiệm và nhận thức cảm xúc
như thế nào. Trước tiên, chúng ta cần có một hiểu biết chung về não bộ và việc
não bộ đang dùng nguồn năng lượng của cơ thể như thế nào để giữ cho bạn sống
sót và sống tốt. Việc này sẽ giúp bạn hiểu được ý chính của cảm thụ nội tại, thứ
sẽ là nguồn gốc của cảm xúc. Sau đó, chúng ta sẽ khám phá những ảnh hưởng không
ngờ, và cực kỳ đáng kinh ngạc của cảm thụ nội tại đối với các suy nghĩ, quyết định,
và hành động hàng ngày của chúng ta.
Dù bạn là một người vô
cùng điềm tĩnh, không vướng bận thể sự, trôi nổi nhẹ nhàng trong sự thanh bình,
không bị ảnh hưởng bởi những thăng trầm trong cuộc sống; hay bạn là một người
phản ứng nhanh, đắm chìm trong dòng sông của sự đau khổ và sung sướng, dễ bị
lay động bởi những thay đổi nhỏ ở môi trường xung quanh; hay bạn ở đâu đó đoạn
giữa hai thái cực này, thì nền tảng khoa học đằng sau cảm thụ nội tại, được xây
dựng trên các mạch thần kinh trong não bộ của bạn, cũng sẽ giúp bạn nhìn nhận
chính mình dưới một cách nhìn khác. Và nó cũng chứng minh rằng bạn có thể kiểm
soát các hành vi của mình mà không bị lệ thuộc vào các cảm xúc nảy sinh. Bạn là
kiến trúc sư cho những trải nghiệm này. Bạn có thể cảm giác như thể dòng sông cảm
xúc chảy xuyên qua mình, nhưng thực ra thì bạn chính là nguồn gốc của dòng sông
đó.
Trong phần lớn lịch sử
loài người, những thành viên uyên bác nhất của loài chúng ta đã đánh giá thấp
khả năng của bộ não con người. Điều này có thể hiểu được, vì não của bạn chỉ
chiếm khoảng 2% khối lượng cơ thể, và nó trông giống như một đốm chất dẻo
(gelatin) màu xám. Người Ai Cập cổ đại coi nó là một cơ quan vô dụng và họ hút
nó ra khỏi các pharaoh đã chết thông qua đường mũi.
Cuối cùng thì bộ não cũng
đã được đánh giá đúng giá trị của mình: là trụ sở của tâm trí, nhưng nó vẫn
chưa được ghi nhận đủ công lao cho những khả năng đáng kinh ngạc của mình. Các
vùng não chủ yếu được cho là có tính “phản ứng”, dành phần lớn thời gian của
chúng ở trạng thái không hoạt động và chỉ thức tỉnh để bùng nổ (firing) khi có
kích thích từ thế giới bên ngoài. Quan điểm phản ứng các kích thích này đơn giản
và trực quan, và, trên thực tế, các neuron trong các cơ của bạn hoạt động theo
cách này, chúng nằm im cho đến khi bị kích thích, sau đó thì bùng nổ (firing) để
khiến các tế bào ở cơ phản hồi. Do đó, các nhà khoa học giả định rằng các
neuron trong não bộ cũng hoạt động như vậy. Người ta cho rằng, khi có một con rắn
khổng lồ uốn lượn trên đường bạn đi, thì sự kích thích này sẽ khởi động hàng loạt
phản ứng trong não bộ của bạn. Các neuro sẽ bùng nổ ở các vùng cảm giác, khiến
cho các neuron ở vùng nhận thức hoặc vùng cảm xúc bùng nổ theo, kéo theo sự
bùng nổ của các neuron vận động, và từ đó tạo ra phản ứng của bạn. Quan điểm
kinh điển này tiêu biểu cho lối tư duy rằng: khi một con rắn xuất hiện, một “mạch
thần kinh sợ hãi” trong đầu bạn – thường nó đang ở chế độ “tắt”, sẽ bật sang chế
độ “mở”, tạo ra một bộ các thay đổi trên gương mặt và cơ thể bạn. Mắt bạn sẽ mở
to ra, bạn sẽ la hét, và bạn bỏ chạy.
Quan điểm kích thích-phản ứng
này dù rất trực quan, nhưng hoàn toàn sai lệch. 86 tỉ neuron trong não của bạn
được kết nối thành một mạng lưới khổng lồ, và chúng không bao giờ nằm yên để chờ
đợi để được khởi động. Các neuron của bạn luôn kích thích lẫn nhau, đôi khi việc
này xảy ra ở hàng triệu neuron cùng một lúc. Với đủ lượng oxy và các chất dinh
dưỡng, những kích thích khổng lồ này, được biết đến với tư cách là hoạt động nội tại của não bộ, hoạt động
liên tục từ khi con người được sinh ra cho đến khi họ chết đi. Hoạt động này
không hề giống với một phản ứng được kích thích từ môi trường bên ngoài. Nó
cũng giống như việc hít thở, một quá trình không cần chất xúc tác bên ngoài.
Hoạt động nội tại trong
não bộ của bạn không phải ngẫu nhiên; nó được tạo ra bởi những tập hợp neuron
khi chúng bùng nổ nhất quán với nhau, được gọi là các mạng lưới nội tại (intrinsic networks). Những mạng lưới này được
tổ chức giống như những đội bóng. Mỗi đội có một nhóm các cầu thủ; vào bất kỳ
lúc nào, một số cầu thủ thì đang chơi còn số khác thì ngồi trên băng ghế, luôn
sẵn sàng để nhảy vào khi cần thiết. Tương tự, một mạng lưới nội tại có một nhóm
các neuron có sẵn. Mỗi khi mạng lưới thực hiện công việc của nó, các nhóm
neuron khác nhau của nó sẽ chơi (bùng nổ) một cách đồng bộ để lấp đầy những vị
trí trong nhóm. Bạn có thể xem hành vi này là sự thoái hóa, bởi vì những tập hợp
neuron khác nhau trong mạng lưới đầu sản sinh ra một chức năng cơ bản giống
nhau. Các mạng lưới nội tại được xem là một trong những khám phá vĩ đại của
khoa học thần kinh trong thập kỷ trước.
Bạn có thể tự hỏi rằng,
cái lò lửa cháy liên tục của những hoạt động nội tại này đang cố thực hiện điều
gì, ngoại trừ việc giữ cho tim bạn đập, phổi bạn thở, và vận hành trơn tru những
chức năng nội bộ khác. Thật ra, hoạt động não bộ nội tại chính là nguồn gốc của
các giấc mơ, của sự mơ mộng, tưởng tượng, tâm trí lang thang (mind wandering),
và sự mơ màng, thứ mà chúng ta gọi chung là sự mô phỏng trong chương 2. Nó cũng
liên tục tạo ra các cảm giác mà bạn cảm nhận được, bao gồm các cảm giác nội tại
bên trong cơ thể (interoceptive sensations) – nguồn gốc của những cảm xúc cơ bản
như dễ chịu, khó chịu, điềm tĩnh, bồn chồn.
Để hiểu lý do cho chuyện
này, hãy thử nhìn dưới góc nhìn của não bộ. Giống như các xác ướp pharaoh Ai Cập
cổ đại, não bộ vĩnh viễn được chôn vùi trong một cái hộp tối tăm và im lặng. Nó
không thể ra ngoài để tận hưởng các kỳ quan thế giới một cách trực tiếp; nó chỉ
biết được chuyện gì đang xảy ra ở bên ngoài một cách gián tiếp thông qua các
thông tin vụn vặt từ ánh sáng, các rung động và các hóa chất và biến chúng trở
thành các hình ảnh, âm thanh, mùi hương, v.v. Não của bạn phải tìm hiểu ý nghĩa
của những ánh chớp và những rung động, và những manh mối chính yếu mà nó có được
chính là các trải nghiệm của bạn trong quá khứ, thứ mà nó đã kiến tạo thành những
mô phỏng trong mạng lưới khổng lồ các liên kết thần kinh của nó. Não bộ của bạn
đã học được sàng một manh mối cảm giác đơn lẻ, như tiếng “bùm” lớn, có thể đến
từ nhiều nguyên nhân khác nhau: như khi một cái cửa bị đập mạnh, một quả bóng
bay bị nổ tung, tiếng vỗ tay, tiếng súng. Nó phân biệt xem giữa các nguyên nhân
này thì cái này khả dĩ nhất thông qua việc tiếng “bùm” này xảy ra trong bối cảnh
như thế nào. Nó sẽ hỏi rằng, các trải nghiệm nào trong quá khứ sẽ trùng khớp nhất
với âm thanh này, dựa trên tình huống cụ
thể này cùng với những hình ảnh, mùi hương, và các cảm giác khác.
Và như thế, dù bị nhốt
trong sọ, và chỉ được hướng dẫn từ các trải nghiệm trong quá khứ, não bộ của bạn
đã tạo ra các dự đoán. Chúng ta thường
nghĩ về các dự đoán như những tuyên bố về tương lai, như “ngày mai trời sẽ mưa”
hay “Đội Red Sox sẽ thắng Cúp Thế Giới” hay “Bạn sẽ gặp được một người lạ cao lớn
da ngăm đen.” Nhưng, ở đây, tôi đang xem xét các dự đoán ở quy mô vi mô khi hàng
triệu tế bào thần kinh nói chuyện với nhau. Những đoạn hội thoại thần kinh này
cố dự đoán tất cả các phần tử hình ảnh, âm thanh, mùi hương, mùi vị và cảm giác
xúc giác (touch) mà bạn trải nghiệm, và tất cả các hành động mà bạn sẽ làm. Những
dự đoán này là những đoán mò tốt nhất mà não bộ của bạn tạo ra, về việc chuyện
gì đang xảy ra ở thế giới xung quanh bạn, và nên xử lý chúng như thế nào để sống
sót và sống tốt.
Ờ mức độ tế nào não, dự
đoán có nghĩa là những neuron ở đây, trong phần não bên này, điều chỉnh các tế
bào thần kinh ở đó, trong phần não bên kia, mà không cần bất kỳ kích thích nào
từ thế giới bên ngoài. Hoạt động nội tại của não là hàng triệu triệu dự đoán
không ngừng nghỉ.
Thông qua dự đoán, não của
bạn đã kiến tạo thế giới mà bạn đang trải nghiệm. Nó kết hợp những mẩu và mảnh
nhỏ từ quá khứ và ước tính khả năng mà mỗi mẫu nhỏ đó có thể ứng dụng trong
tình huống hiện tại. Đây là điều đã xảy ra khi bạn mô phỏng con ong trong
chương 2; một khi bạn đã nhìn thấy trọn vẹn bức ảnh, não bộ của bạn sẽ tạo ra một
kinh nghiệm mới để có thể dựa vào, do đó, nó có thể kiến tạo con ong từ các đốm
màu ngay tức thì. Và ngay lúc này, mỗi một từ mà bạn đọc được, não của bạn sẽ dự
đoán xem từ nào sẽ là từ tiếp theo, dựa trên trải nghiệm đọc của bạn trong suốt
cuộc đời. Nói một cách ngắn gọn thì, trải nghiệm hiện tại của bạn được dự đoán
bởi nào bộ của bạn trong một khoảnh khắc trước đó. Sự dự đoán là một hoạt động
cơ bản của não bộ, cơ bản đến mức một vài nhà khoa học cho rằng nó là trạng
thái hoạt động chính của não bộ.
Các dự đoán không chỉ giúp
đoán trước thông tin cảm giác đầu vào từ thế giới bên ngoài sọ não, mà còn giúp
giải thích nó. Hãy làm một thí nghiệm
suy nghĩa nhanh để xem điều này xảy ra như thế nào. Hãy mở mắt và tưởng tượng về
một trái táo đỏ, giống như chúng ta đã từng làm ở chương 2. Nếu bạn giống với
đa số mọi người, bạn sẽ không gặp bất kỳ vấn đề gì trong việc gợi lên một hình ảnh
mơ hồ nào đó về một vật thể tròn, màu đỏ trong đôi mắt của tâm trí bạn. Bạn
nhìn thấy hình ảnh này bởi vì các neuron trong vỏ não thị giác của bạn đã thay
đổi khuôn mẫu hoạt động (firing pattern) của chúng để mô phỏng một trái táo. Nếu
bạn đang ở khu bán trái cây trong siêu thị, thì những neuron bùng nổ này sẽ trở
thành một dự đoán thị giác. Các trải nghiệm quá khứ của bạn trong bối cảnh này
(ở quầy siêu thị) sẽ dẫn dắt não bộ của bạn dự đoán rằng thứ mà bạn sẽ nhìn thấy
là một trái táo thay vì một trái bóng màu đo hay cái mũi tròn của chú hề. Một
khi sự dự đoán này được xác nhận bởi một trái táo thật, thì trên thực tế, dự
đoán đã giải thích các cảm giác thị giác đến từ một trái táo.
Nếu bộ não của bạn dự đoán
một cách hoàn hảo - giả sử bạn đã dự đoán về một quả táo McIntosh khi bạn đến
nhìn chúng - thì thông tin thị giác đầu vào thực tế của quả táo, thứ được võng
mạc của bạn ghi lại, không mang lại thông
tin mới nào ngoài dự đoán. Thông tin đầu vào thị giác chỉ xác nhận rằng dự
đoán là chính xác, vì thế thông tin đầu vào không cần đi đến chỗ nào khác trong
não bộ. Các neuron trong võ não thị giác đã luôn sẵn sàng bùng nổ như thường lệ.
Quá trình dự đoán hiệu quả này chính là hoạt động mặc định của não bộ để định
hướng thế giới và giải nghĩa nó. Nó đã tạo ra các dự đoán nhận thức và giải
thích mọi thứ mà bạn nhìn thấy, nghe thấy, nếm được, ngửi được và chạm được.
Não của bạn cũng dùng sự dự
đoán để kích hoạt các chuyển động của cơ thể, chẳng hạn như vươn cánh tay ra để
nhặt một quả táo hoặc lao khỏi con rắn. Những dự đoán này xuất hiện trước khi bạn
ý thức được và dự định chuyển động cơ thể mình. Các nhà khoa học thần kinh và
các nhà tâm lý học gọi hiện tượng này là “ảo giác ý chí tự do” (freewill). Từ “ảo
giác” có hơi gây hiểu lầm, không phải não bộ của bạn đang hành động mà không
cho bạn biết. Bạn chính là não bộ của
mình, và toàn bộ chuỗi sự kiện là do khả năng dự đoán của bộ não của bạn tạo
ra. Nó được gọi là ảo giác vì chúng ta có
cảm giác rằng các chuyển động là một quá trình gồm hai bước — quyết định,
sau đó di chuyển — trong khi thực tế, bộ não của bạn đưa ra các dự đoán về vận
động để cơ thể bạn di chuyển trước khi bạn nhận thức được ý định di chuyển của
mình. Và thậm chí trước khi bạn thực sự chạm trán với quả táo (hoặc con rắn)!
Nếu não bộ của bạn chỉ phản
xạ, thì khó mà giữ cho bạn sống sót được. Bạn luôn bị dội bom bởi các thông tin
cảm giác đầu vào. Võng mạc của bạn truyền tải lượng thông tin thị giác trong mỗi
khoảnh khắc bạn thức giấc cũng nhiều như một mạng lưới kết nối máy tính được tải
đầy đủ; giờ hãy nhân nó với mọi con đường cảm giác (sensory pathway) mà bạn có.
Một bộ não chỉ thuần túy phản ứng sẽ nghẽn mạng giống như đường truyền Internet
nhà bạn khi có quá nhiều hàng xóm đang xem phim từ Netflix. Nói về mặt trao đổi
chất, một bộ não phản ứng cũng có giá quá đắt đỏ, bởi vì nó sẽ đòi hỏi nhiều kết
nối nội bộ nhiều hơn mức mà hệ thống trao đổi chất có thể duy trì.
Sự tiến hóa đã lập trình (wire) não bộ của bạn theo đúng
nghĩa đen để nó có thể dự đoán tốt hơn. Một ví dụ cho sự lập trình này là hệ
thống thị giác của bạn, hãy nhìn vào hình 4-1, nó sẽ cho bạn thấy não của bạn
đã dự đoán nhiều hơn lượng thông tin thị giác đầu vào mà nó nhận được.
Hãy xem điều này có nghĩa
là gì: các sự kiện ở thế giới bên ngoài, ví dụ như khi một con rắn trườn qua
chân bàn, chỉ điều chỉnh (tune) các dự
đoán của bạn lên, giống như tập thể dục sẽ điều chỉnh việc hít thở của bạn vậy.
Ngay lúc này, khi bạn đọc được những từ ngữ này và hiểu chúng có nghĩa là gì, mỗi
một từ hầu như không gây bất kỳ xáo trộn nào trong hoạt động nội tại khổng lồ của
bạn, chỉ giống như một hòn đá lướt trên sóng biển cuộn trào. Trong cái trải nghiệm
hình ảnh não bộ, khi chúng tôi đưa các bức ảnh cho các đối tượng thí nghiệm rồi
yêu cầu hỏi thực hiện nhiệm vụ, chỉ một phần nhỏ trong số các tín hiệu mà chúng
tôi đo được là do các bức ảnh và nhiệm vụ đó tạo ra; hầu hết các tín hiệu khác
đều đại diện cho hoạt động nội tại. Có thể bạn cho rằng nhận thức của bạn về thế
giới được kích thích bởi các sự kiện xảy ra ngoài thế giới, nhưng thực ra,
chúng được neo vào các dự đoán của bạn, những dự đoán sau đó được kiểm tra thông
qua việc so sánh chúng với những thông tin cảm giác đầu vào nhỏ bé như những
hòn đá lướt trên sóng biển cuộn trào kia.
Hình 4-1: Bộ não của bạn chứa các bản đồ hoàn chỉnh về thị
giác của bạn. Một bản đồ nằm trong vỏ não thị giác chính của bạn, được gọi là
V1. Nếu não của bạn chỉ phản ứng với các sóng ánh sáng chạm vào võng mạc của bạn
và truyền đến vỏ não thị giác chính (V1) qua đồi thị (thalamus), thì nó sẽ có
nhiều tế bào thần kinh để mang thông tin thị giác đó đến V1. Nhưng trên thực tế,
chúng có ít hơn rất nhiều so với mức mà người ta dự đoán (ảnh trên cùng) và các
phép chiếu đi theo hướng khác thì lại nhiều hơn gấp mười lần, chúng mang các dự
đoán trực quan từ V1 đến đồi thị (ảnh giữa). Tương tự như vậy, 90% các kết nối
mang theo các dự đoán từ các tế bào thần kinh ở các phần khác của vỏ não đến V1
(hình dưới). Chỉ một phần nhỏ mang theo đầu vào trực quan từ thế giới bên
ngoài.
Thông qua các dự đoán và
chỉnh sửa, não bộ của bạn liên tục tạo ra và sửa đổi mô hình về thế giới trong
tâm trí của bạn. Nó là một sự mô phỏng liên tục và khổng lỗ về tất cả mọi thứ
mà bạn nhận thức được và quyết định xem bạn sẽ hành động như thế nào. Nhưng những
dự đoán này không phải lúc nào cũng đúng, khi so sánh với thông tin cảm giác đầu
vào thực tế, và bộ não phải chỉnh sửa. Đôi khi một hòn đá nhỏ lướt trên sóng
kia có thể đủ lớn để tạo ra một vụ tung tóe. Hãy xem xét câu sau:
Ngày
xửa ngày xưa, ở một vương quốc thần bí xa xôi, xa hơn mọi ngọn núi, có một công
chúa xinh đẹp bị chảy máu tới chết.
Bạn có cảm thấy năm chữ cuối
hoàn toàn không ngờ tới không? Đó là bởi vì não bộ của bạn đã dự đoán sai dựa
trên kiến thức về các câu chuyện mà nó đã lưu trữ - nó đã tạo ra một lỗi dự đoán – và sau đó nó tự điều chỉnh
dự đoán này trong chớp mắt dựa trên những từ cuối cùng: một vài hòn đá nhỏ đến
từ thông tin thị giác.
Quy trình tương tự cũng xảy
ra khi bạn nhìn nhầm gương mặt của một người lạ thành một người quen, hoặc khi
bạn bước xuống khỏi băng chuyền trong sân bay và cảm thấy ngạc nhiên với tốc độ
di chuyển đã thay đổi của mình. Não của bạn tính toán các lỗi dự đoán một cách
nhanh chóng bằng cách so sánh dự đoán với thông tin đầu vào cảm giác thực tế,
và sau đó nó giảm thiểu lỗi dự đoán này một cách nhanh chóng và hiệu quá. Ví dụ
như, não của bạn có thể thay đổi dự đoán rằng: người lạ kia trông rất khác người
quen của bạn, bạn đã đi hết băng chuyền rồi.
Lỗi dự đoán không phải vấn
đề. Chúng là một phần bình thường trong các hướng dẫn vận hành của bộ não khi
nó tiếp nhận thông tin đầu vào của các giác quan. Không có lỗi dự đoán, cuộc đời
này sẽ rất đáng chán. Sẽ không có gì mới mẻ và bất ngờ, do đó não của bạn sẽ
không bao giờ học được thứ gì mới. Trong hầu hết thời gian, ít nhất là khi bạn
đã trở thành người lớn, các dự đoán của bạn sẽ không quá khác thực tế. Nếu
chúng quá khác thực tế, thì bạn sẽ trải qua cuộc sống với cảm giác thường xuyên
giật mình, bất định. . . hoặc ảo giác.
Các dự đoán và điều chỉnh
trong não bộ của bạn có thể được xem như một cơn bão khổng lồ, liên tục, bao gồm
hàng tỷ giọt nhỏ. Mỗi một giọt đại diện cho một cách sắp xếp mạch thần kinh nhất
định mà tôi sẽ gọi là vòng dự đoán
(prediction loop), được thể hiện trong hình 4-2. Sự sắp xếp này diễn ra ở nhiều
cấp độ trong toàn bộ bộ não của bạn. Các neuron này tham tham vào các vòng dự
đoán với các neuron khác. Các vùng não bộ này tham gia vào vòng dự đoán với các
vùng não bộ khác. Hàng hà sa số các vòng dự đoán hoạt động trong một quy trình
song song khổng lồ, chúng cứ tiếp tục hoạt động không ngừng nghỉ trong suốt cuộc
đời của bạn, tạo nên hình ảnh, âm thanh, mùi vị, mùi hương và cảm giác xúc giác
– thứ làm nên trải nghiệm của bạn và điều khiển hành động của chính bạn.
Hình 4-2: Cấu trúc của một vòng dự đoán. Các dự đoán sẽ tạo
thành các mô phỏng về cảm giác và chuyển động. Những mô phỏng này sau đó được
so sánh với thông tin cảm giác đầu vào thực tế từ thế giới bên ngoài. Nếu chúng
khớp với nhau, thì các dự đoán này là chính xác và sự mô phỏng trở thành trải
nghiệm của bạn. Nếu chúng không khớp, não bộ của bạn phải giải quyết các lỗi
này.
Ví dụ như khi bạn đang
chơi bóng chày. Ai đó ném bóng về hướng của bạn, và bạn chồm ra ngoài ra bắt
nó. Trong hầu hết các tình huống, bạn sẽ trải nghiệm hai sự kiện: nhìn thấy quả
bóng và bắt lấy nó. Tuy nhiên, nếu não của bạn thực sự phản ứng như thế này,
bóng chày sẽ không phải là một môn thể thao. Trong một trận đấu điển hình, não
của bạn có khoảng nửa giây để chuẩn bị bắt bóng. Nhiêu đây thời gian là hoàn
toàn không đủ để xử lý thông tin đầu vào, tính toán xem quả bóng sẽ đáp xuống
đâu, quyết định di chuyển, kết hợp các chuyển động cơ, và gửi mệnh lệnh vận động
để di chuyển bạn đến vị trí bắt bóng.
Sự dự đoán làm nên trận đấu.
Não của bạn tạo ra những dự đoán trước khi bạn nhận thức được mình đang nhìn thấy
quả bóng, giống như khi nó dự đoán một quả táo đỏ trong cửa hàng thực phẩm, nó
sử dụng các trải nghiệm quá khứ của bạn. Khi mỗi dự đoán truyền qua hàng triệu
vòng dự đoán, não của bạn sẽ mô phỏng cảnh tượng, âm thanh và các cảm giác khác
mà các dự đoán này thể hiện, cũng như các hành động bạn sẽ phải thực hiện để bắt
bóng. Sau đó, bộ não của bạn sẽ so sánh các mô phỏng này với thông tin cảm giác
đầu vào trên thực tế. Nếu chúng trùng khớp. . . thành công! Dự đoán chính xác,
và các thông tin cảm giác đầu vào sẽ không tiếp tục vào não của bạn nữa. Cơ thể
của bạn bây giờ đã chuẩn bị để đón bóng, và nó chuyển động dựa trên dự đoán của
bạn. Cuối cùng, bạn ý thức được rằng mình nhìn thấy quả bóng, và bạn bắt lấy
nó.
Đây là điều sẽ xảy ra nếu
dự đoán là chính xác, giống như khi tôi ném quả bóng chày cho chồng tôi – một
người hơi có năng khiếu trong môn thể htao này. Mặt khác, khi anh ấy ném trái
bóng về phía tôi, các dự đoán mà não bộ tôi tạo ra không tốt lắm, vì tôi không
thể chơi bóng chày để cứu mạng mình. Các dự đoán của tôi trở thành các mô phỏng
về cú bắt bóng mà tôi hy vọng mình có thể làm được, như khi so sánh với các
thông tin mà tôi thực sự nhận được từ thế giới bên ngoài, thì chúng không ăn khớp
với nhau. Đây là lỗi dự đoán. Sau đó, não bộ của tôi sẽ điều chỉnh những dự
đoán trước đó của nó để tôi có thể (về lý thuyết là) bắt được bóng. Toàn bộ
vòng dự đoán này được lặp đi lặp lại, dự đoán và điều chỉnh nhiều lần khi trái
bóng bay về phía tôi. Tất cả các hoạt động này xảy ra một vài phần triệu giây.
Cuối cùng, trong hầu hết tình huống, tôi sẽ nhận thức được rằng quả bóng đang
lướt qua cánh tay đang dang rộng của mình.
Khi xảy ra lỗi dự đoán,
não bộ có thể giải quyết chúng theo hai cách chung. Đầu tiên, điều mà chúng ta
vừa nhìn thấy trong nỗ lực kém cỏi của tôi khi bắt quả bóng chày, là não bộ có
thể linh hoạt và thay đổi dự đoán.
Trong tình huống này, các neuron vận động của tôi sẽ điều chỉnh chuyển động cơ
thể của tôi, và các neuron cảm giác của tôi sẽ mô phỏng các cảm giác khác, tạo
ra những dự đoán xa hơn bao gồm các vòng dự đoán. Ví dụ, tôi có thể nhào qua
bên khác để bắt quả bóng khi nó ở một nơi khác với tôi dự đoán.
Phương án giải quyết thứ
hai của não bộ là cứng đầu và giữ vững dự đoán nguyên bản của nó. Nó lọc thông tin cảm giác đầu vào để có thể
nhất quán với dự đoán của mình. Trong tình huống này, tôi có thể dứng trên sân
bóng nhưng mơ mộng (dự đoán và mô phỏng) khi quả bóng bay về phía mình. Thậm
chí ngay cả khi quả bóng hoàn toàn trong tầm nhìn của mình, tôi vẫn không nhận
ra nó cho đến khi nó đập vào bàn chân của tôi. Một ví dụ khác, những chiếc tã
lót đầy thức ăn trong bữa tiệc sinh nhật chủ đề đồ ăn ghê tởm của con gái tôi:
dự đoán của khách chúng tôi về mùi hương của phân trẻ con đã chi phối thông tin
cảm giác đầu vào thực tế của họ đối với món cà rốt nghiền.
Nói ngắn gọn là, não bộ
không phải là một cỗ máy đơn giản chỉ phản ứng với các kích thích từ thế giới
bên ngoài. Nó được cấu tạo bởi hàng tỉ các vòng dự đoán – thứ tạo ra hoạt động
nội tại của não bộ. Các dự đoán thị giác, thính giác, vị giác, xúc giác và khứu
giác, và các dự đoán vận động, chúng di chuyển khắp não bộ, gây ảnh hưởng lên
nhau và kềm chế lẫn nhau. Những dự đoán này được kiểm soát bởi thông tin cảm
giác đầu vào từ thế giới bên ngoài – thứ mà não bộ của bạn có thể ưu tiên xem
xét, hoặc hoàn toàn phớt lờ.
Nếu nói về dự đoán và chỉnh
sửa theo cách này có vẻ không trực quan lắm, thì hãy nghĩ theo cách này: não của
bạn hoạt động giống như một nhà khoa học vậy. Nó luôn tạo ra vô số các dự đoán,
cũng như một nhà khoa học tạo ra các giả định. Như một nhà khoa học, não của bạn
sử dụng các kiến thức (những trải nghiệm trong quá khứ) để ước tính xem bạn có
thể tự tin đến mức nào về độ chính xác của một dự đoán. Sau đó não của bạn sẽ
kiểm tra những dự đoán của nó bằng cách so sánh nó với các thông tin cảm giác đầu
vào từ thế giới bên ngoài, cũng giống như một nhà khoa học so sánh các giả định
của mình với dữ liệu từ thí nghiệm. Nếu não của bạn dự đoán tốt, thì thông tin
đầu vào sẽ xác nhận dự đoán của bạn. Tuy nhiên, thông thường sẽ có một số lỗi dự
đoán, và não của bạn, cũng như một nhà khoa học, sẽ có vài lựa chọn. Nó có thể
là một nhà khoa học có trách nhiệm và thay đổi các dự đoán của nó dựa trên dữ
liệu. Hoặc nó có thể là một nhà khoa học thiên vị và lựa chọn các thông tin khớp
với các giả định, bỏ qua mọi thứ khác. Bộ não của bạn cũng có thể là một nhà
khoa học vô đạo đức và phớt lờ hoàn toàn các dữ liệu, kiên quyết rằng những dự
đoán của nó mới là thực tế. Hoặc, trong những khoảnh khắc học hỏi hoặc khám
phá, bộ não của bạn có thể là một nhà khoa học tò mò và tập trung vào đầu vào.
Và giống như nhà khoa học tinh túy, bộ não của bạn có thể chạy thử các thí nghiệm
hoàn toàn dựa trên kinh nghiệm (mà không cần thí nghiệm trên đối tượng thực tế)
(armchair experiments) để tưởng tượng
thế giới: mô phỏng thuần túy mà không có thông tin cảm giác đầu vào hoặc lỗi dự
đoán.
* hiệu ứng placebo: hiệu quả của một hành vi xảy ra không phải vì bản thân
hành vi đó, mà là vì chúng ta tin rằng vì thực hiện hành vi nên mới xảy ra hiệu
quả đó: ví dụ như những loại giả dược, vốn chỉ là những liều thuốc vô hại và vô
dụng – nhưng chúng tạo ra hiệu quả thực sự với sức khỏe vì người dùng thuốc tin
là chúng có tác dụng.
** LSD trip: chất gây ảo giác với tên gọi “chất thức thần” – một loại ma túy tổng
hợp, phức tạp hơn so với ma túy, khi sử dụng sẽ tạo ra những hiệu ứng “thức tỉnh”,
“hòa nhập với thần linh”… gọi là những chuyến “trip”. Có good trip và bad trip. Đọc thêm trên google đi nha.
Sự cân bằng giữa dự đoán và lỗi dự đoán, như trong hình
4-3, xác định số lượng trải nghiệm của bạn bắt nguồn từ thế giới bên ngoài so với
số lượng trải nghiệm của bạn bên trong đầu bạn. Như bạn đã thấy, trong nhiều
trường hợp, thế giới bên ngoài hoàn toàn không liên quan đến trải nghiệm của bạn.
Theo một nghĩa nào đó, điều này có nghĩa là não bộ của bạn được lập trình để ảo
tượng: thông qua việc não bộ liên tục dự đoán, bạn trải nghiệm một thế giới do
chính bạn tự tạo ra – và nó được kiểm soát bởi thế giới giác quan. Một khi các
dự đoán của bạn đủ chính xác, thì chúng không chỉ tạo ra nhận thức cho bạn và
khiến bạn hành động, mà chúng còn giải thích ý nghĩa cho các cảm giác của bạn nữa.
Đâu chính là chế độ mặc định của não bộ. Và, một cách thần kỳ, não của bạn
không chỉ dự đoán tương lai: nó còn có thể tượng tượng ra tương lai theo ý muốn.
Theo những gì chúng ta biết, không có loài động vật nào khác có bộ não có thể
làm được điều đó.
Não bộ của bạn luôn luôn dự đoán, và nhiệm vụ quan trọng nhất
của nó là dự đoán nguồn năng lượng mà cơ thể của bạn cần, để cho bạn có thể sống
sót và sống tốt. Những dự đoán quan trọng này, và lỗi dự đoán liên quan, đã trở
thành nguyên liệu chính để tạo ra các cảm xúc. Trong hàng trăm năm, các học giả
đã tin rằng các “phản xạ” cảm xúc được tạo ra ở các vùng não bộ nhất định. Như
bạn sẽ biết, những vùng não đó hoạt động ngược lại với những gì mọi người mong
đợi, chúng tạo ra cảm xúc theo một cách hoàn toàn đảo ngược so với niềm tin
khoa học đã tồn tại hàng thế kỷ. Và một lần nữa, câu chuyện bắt đầu với chuyển
động – không phải những chuyển động quy mô lớn trong một trận đấu bóng chày, mà
là chuyển động bên trong cơ thể của bạn.
Bất kỳ chuyển động nào của
cơ thể bạn cũng đều kèm theo chuyển động bên
trong cơ thể bạn. Khi bạn chuyển vị trí một cách nhanh chóng để bắt quả
bóng chày, bạn phải thở sâu hơn. Để thoát khỏi một con rắn độc, tim bạn phải
bơm máu nhanh hơn qua các mạch máu đang giãn ra để đưa glucose đến các cơ, điều
này sẽ khiến nhịp tim của bạn tăng lên và thay đổi huyết áp của bạn. Não bộ của
bạn thể hiện những cảm giác đến từ những chuyển động bên trong này, sự thể hiện
này – như bạn có thể vẫn còn nhớ - được gọi là cảm thụ nội tại (interoception).
Các chuyển động bên trong cơ thể của bạn, và các kết quả cảm
thụ nội tại, xảy ra trong mỗi một khoảnh khắc của cuộc đời bạn. Não của bạn phải
giữ cho tim bạn đập và máu của bạn được bơm và phổi của bạn hít thở và glucose
của bạn được chuyển hóa – ngay cả khi bạn không chơi thể thao hay chạy trốn khỏi
một con rắn, ngay cả khi bạn đang ngủ hay đang nghỉ ngơi. Do đó, cảm thụ nội tại
kéo dài liên tục, giống như cơ chế nghe và nhìn luôn luôn được vận hành, ngay cả
khi bạn không chủ động lắng nghe hay nhìn ngắm bất kỳ thứ gì cụ thể.
Từ góc nhìn của não bộ - thứ bị nhốt bên trong sọ não, cơ
thể của bạn chỉ là một phần khác của thế giới bên ngoài mà nó phải giải thích.
Trái tim đang đập của bạn, hay lá phổi đang giãn ra, hay nhiệt độ cơ thể và hệ
tiêu hóa đang thay đổi của bạn, chúng đều gửi các thông tin cảm giác đầu vào đến
não, và những thông tin này vừa ồn ào vừa không rõ ràng. Một dấu hiệu cảm thụ nội
tại đơn lẻ, như một cơn đau bụng, có thể đến từ chứng đau bao tử, một cơn đói,
hoặc do bạn đang căng thẳng, hoặc do bạn mang một cái thắt lưng quá chật, hoặc
do hàng trăm nguyên nhân khác. Não bộ của bạn phải giải thích các cảm giác cơ
thể để giải nghĩa chúng, và công cụ chính của nó để làm điều này chính là dự
đoán. Vì thế, não của bạn mô hình hóa thế giới từ góc nhìn của một người nào đó
với cơ thể của bạn. Cũng như khi não
của bạn dự đoán hình ảnh, mùi hương, âm thanh, cảm giác xúc giác, và mùi vị của
thế giới bên ngoài dựa trên các chuyển động của đầu và chân tay của bạn, nó
cũng dự đoán các kết quả của giác quan dựa trên các chuyển động bên trong cơ thể
của bạn.
Trong hầu hết thời gian, bạn không ý thức được các chuyển động
như những xoáy nước thu nhỏ bên trong bạn. (Bạn có bao giờ nghĩ rằng, “Hmm, hôm
nay dường như gan của mình tiết ra rất nhiều mật”?) Đương nhiên, cũng có lúc bạn
trực tiếp cảm giác được một cơn đau đầu, hay no bụng, hay tim đập mạnh trong ngực.
Nhưng hệ thống thần kinh của bạn không được tạo ra để cho bạn trải nghiệm những
cảm giác này một cách chính xác, điều này là khá may mắn – bởi vì nếu không,
chúng sẽ lấn át sự tập trung của bạn.
Thông thường, bạn sẽ trải nghiệm cảm thụ nội tại theo các
thuật ngữ chung: những thứ cảm giác đơn giản như cảm giác dễ chịu, khó chịu,
kích động, điềm tĩnh, những cảm giác mà tôi đã đề cập trước đó. Tuy nhiên, thi
thoảng, bạn trải nghiệm những khoảnh khắc mà bạn có các cảm giác nội tại mãnh
liệt như các cảm xúc. Trong mỗi một khoảnh khắc khi bạn thức giấc, não của bạn
đều giải nghĩa các cảm giác. Một số cảm giác là cảm giác nội tại, ý nghĩa của
chúng có thể tạo ra một phân mục cảm xúc.
Để hiểu được các cảm xúc được tạo ra như thế nào, bạn cần
phải hiểu một chút về các vùng não chính. Cảm thụ nội tại thường là quy trình của
toàn bộ bộ não, nhưng một số vùng kết hợp với nhau theo một cách đặc biệt – và
chúng rất quan trọng với cảm thụ nội tại. Phòng thí nghiệm của tôi đã khám phá
ra rằng các vùng này đã định hình một mạng
lưới nội tại bên trong não bộ, tương tự như mạng lưới của bạn cho thị giác,
thính giác và các giác quan khác. Mạng lưới nội tại này đưa ra các dự đoán về
cơ thể của bạn, kiểm tra kết quả mô phỏng dựa trên thông tin cảm giác đầu vào từ
cơ thể bạn và cập nhật mô hình trong não bộ về cơ thể bạn ở thế giới ngoài.
Để đơn giản hóa một cách nhanh chóng cuộc thảo luận của
chúng ta, tôi sẽ mô tả mạng này gồm hai phần chính với các vai trò riêng biệt.
Một phần là tập hợp các vùng não gửi các dự đoán đến cơ thể nhằm kiểm soát môi
trường bên trong: tăng tốc độ tim, làm chậm nhịp thở, giải phóng nhiều
cortisol, chuyển hóa nhiều glucose hơn, v.v. Chúng tôi sẽ gọi chúng là vùng lập ngân sách cơ thể của bạn. Phần
thứ hai là vùng biểu thị cảm giác bên trong cơ thể bạn, được gọi là vỏ não cảm thụ nội tại sơ cấp (primary
interoceptive cortex) của bạn.
Hình
4-4: các vùng vỏ não trong mạng lưới cảm thụ nội tại. Các vùng lập ngân sách được
tô màu xám đậm, còn vùng vỏ não cảm thụ nội tại sơ cấp – theo tên khoa học của
nó – thùy đảo sau (posterior insula). Các vùng dưới vỏ của mạng này không được
hiển thị. Mạng tương tác bao gồm hai mạng thường được gọi là mạng nổi bật
(salience network) và mạng chế độ mặc định (default mode network). Vỏ não thị
giác được hiển thị để tham khảo.
Hai phần mạng lưới cảm thụ nội tại này tham gia vào một
vòng dự đoán. Mỗi khi các vùng lập ngân sách dự đoán về một sự thay đổi liên
quan đến vận động, như tăng tốc nhịp tim, chúng cũng sẽ dự đoán về kết quả cảm
giác đến từ thay đổi này, như cảm giác tim đập mạnh trong ngực. Những dự đoán cảm
giác này được gọi là các dự đoán cảm thụ
nội tại, và chúng chảy đến vỏ não cảm thụ nội tại sơ cấp của bạn, ở nơi này
chúng được mô phỏng theo cách thông thường. Vỏ não cảm thụ nội tại sơ cấp cũng
nhận các thông tin cảm giác đầu vào từ tim, phổi, thận, da, cơ, mạch máu, và những
cơ quan nội tạng khác, trong hoạt động hàng ngày của chúng. Các neuron trong vỏ
não cảm thụ nội tại sơ cấp so sánh các mô phỏng này với thông tin cảm giác đầu
vào, tính toán các lỗi dự đoán liên quan, hoàn thành vòng dự đoán, và luôn tạo
ra các cảm giác nội tại khác.
Các vùng lập ngân sách trong cơ thể của bạn đóng vai trò
quan trọng trong việc giữ cho bạn sống sót. Mỗi khi nạo của bạn chuyển động bất
kỳ phần nào trong cơ thể bạn, vào trong hay ra ngoài, nó đều dùng đến nguồn
năng lượng của nó: thứ mà nó dùng để vận hành các cơ quan nội tạng, hệ tiêu
hóa, hệ miễn dịch của bạn. Bạn bổ sung nguồn lực cơ thể thông qua việc ăn, uống,
và ngủ, và bạn giảm mức tiêu thụ của cơ thể mình bằng việc thư giãn bên cạnh những
người mà bạn yêu quý, thậm chí là, quan hệ tình dục. Để quản lý tất cả việc
tiêu thụ và bổ sung nguồn lực này, não của bạn phải liên tục dự đoán nhu cầu
năng lượng của cơ thể, như một ngân sách dành cho cơ thể vậy. Giống như một
công ty phải có phòng tài chính để theo dõi các khoản thu chi và di chuyển dòng
tiền giữa các tài khoản, để nguồn ngân sách chung được cân bằng, não của bạn
cũng có hệ thống mạch thần kinh chịu trách nhiệm chính để lập ngân sách cho cơ
thể. Hệ thống mạch thần kinh này nằm trong mạng lưới cảm thụ nội tại của bạn.
Các vùng lập ngân sách cơ thể tạo ra các dự đoán để ước tính nguồn lực cần thiết
cho việc sống còn và phát triển, và chúng dùng các trải nghiệm quá khứ như các
hướng dẫn để làm việc này.
Tại sao điều này lại liên quan đến cảm xúc? Bởi vì mỗi vùng
não bộ mà người ta cho là ngôi nhà của cảm xúc đều là vùng lập ngân sách cho cơ
thể bên trọng mạng lưới cảm thụ nội tại. Tuy nhiên, những vùng này, không phản ứng
bằng cảm xúc. Chúng hoàn toàn không phản ứng. Về bản chất, chúng dự đoán để điều
chỉnh ngân sách cho cơ thể của bạn. Chúng tạo ra các dự đoán hình ảnh, âm
thanh, suy nghĩ, trí nhớ, trí tưởng tượng, và, vâng, các cảm xúc. Ý tưởng về một
vùng não cảm xúc là ảo tưởng (illusion) được tạo ra bởi các niềm tin lỗi thời về
một bộ não phản ứng. Ngày nay, các nhà khoa học thần kinh đã hiểu được điều
này, nhưng thông điệp này vẫn chưa đến được với nhiều nhà tâm lý học, bác sĩ
tâm thần, nhà xã hội học, nhà kinh tế học và những người nghiên cứu về cảm xúc
khác.
Bất cứ khi nào não của bạn dự đoán về một chuyển động, dù
là rời giường vào buổi sáng hay hớp một chút cà phê, các vùng lập ngân sách cho
cơ thể sẽ điều chỉnh nguồn ngân sách của bạn. Khi não bộ dự đoán rằng cơ thể của
bạn sẽ cần một lượng năng lượng lớn trong thời gian ngắn, những vùng này chỉ đạo
tuyến thượng thận trong thận của bạn giải phóng hormone cortisol. Người ta gọi
cortisol là “hormone gây stress”, nhưng đây là một sai lầm. Cortisol được giải
phóng bất kỳ khi nào bạn cần đến lượng năng lượng lớn, mà điều này thường xảy
ra khi bạn bị stress. Mục tiêu chính của nó là đẩy glucose đi khắp các mạch máu
của bạn để tạo ra nguồn năng lượng tức thời đến các tế bào, ví dụ như các tế
bào ở cơ bắp để co giãn cơ và giúp bạn chạy. Các vùng lập ngân sách cho cơ thể
cũng khiến bạn thở sâu hơn để có nhiều oxy trong máu của bạn hơn và làm giãn động
mạch của bạn để đưa oxy đến cơ bắp nhanh hơn để cơ thể bạn có thể di chuyển. Tất
cả các chuyển động bên trong này đi kèm với các cảm giác nội tại, dù bạn vốn
không được lập trình để trải nghiệm chúng một cách chính xác. Do đó, mạng lưới
cảm thụ nội tại của bạn vừa kiểm soát cơ thể bạn, vừa lên ngân sách cho nguồn
năng lượng của bạn, vừa biểu thị các cảm giác nội tại của bạn, nó làm tất cả điều
này trong cùng một lúc.
Chi tiêu từ ngân sách cơ thể không đòi hỏi phải có vận động
thể chất thực sự. Giả sử bạn nhìn thấy sếp bạn, giáo viên của bạn, hay huấn luyện
viên bóng chày của bạn đang đi về phía bạn. Bạn tin là cô ấy đang đáng giá mọi
điều bạn nói và mọi thứ bạn làm. Thậm chí khi không có bất kỳ chuyển động thể
chất nào, não của bạn vẫn dự đoán rằng cơ thể của bạn cần nhiều năng lượng hơn
và nó tạo ra một chi tiêu từ nguồn ngân sách cơ thể, giải phóng cortisol và khiến
cho mạch máu của bạn tràn ngập glucose. Các cảm giác nội tại của bạn cũng sẽ
gia tăng. Hãy ngừng lại và suy nghĩ về điều này. Ai đó chỉ bước về phía bạn khi
bạn đang đứng yên, và não của bạn dự đoán rằng bạn cần năng lượng! Theo cách
này, bất kỳ sự kiện nào ảnh hưởng đáng kể đến ngân sách cơ thể của bạn đều tạo
ra một ý nghĩa cá nhân cho bạn.
Cách đây không lâu, phòng thí nghiệm của tôi đánh giá một
thiết bị di động để theo dõi tim. Bất cứ khi nào nhịp tim của người đeo tăng
15% so với bình thường, thiết bị sẽ phát ra tiếng bíp. Một trong những sinh
viên tốt nghiệp của tôi, Erika Siegel, đang đeo thiết bị này khi cô ấy im lặng
làm việc tại bàn của cô, và thiết bị này đã im lặng trong một thời gian. Khi
tôi bước vào phòng, Erika quay lại và nhìn thấy tôi (cố vấn Tiến sĩ của cô ấy),
thiết bị phát ra tiếng bíp lớn, trước sự ngạc nhiên xấu hổ của cô ấy và trước sự
thích thú của những người khác. Cuối ngày, tôi dành thời gian đeo thiết bị, và
trong cuộc họp với Erika, nó phát ra tiếng bíp nhiều lần khi tôi nhận được
email từ một cơ quan cấp phép. (Do đó, vào ngày hôm đó, Erika cuối cùng cũng đã
bật cười.)
Phòng thí nghiệm của tôi đã thực hiện hàng trăm thí nghiệm
để mô tả các nỗ lực trong việc lập ngân sách của não (các phòng thí nghiệm khác
cũng vậy), chúng tôi đã quan sát thấy hệ thống các mạch thần kinh lập ngân sách
cho cơ thể di chuyển các nguồn lực từ nơi này đến nơi khác, và đôi khi chúng
tôi cũng quan sát thấy các ngân sách cơ thể của họ dao động một cách cân bằng
hoặc mất cân bằng.Chúng tôi yêu cầu các tình nguyện viên ngồi im hoàn toàn bất
động trước màn hình máy vi tính và nhìn những bức hình của động vật, hoa lá,
các em bé, thức ăn, tiền, súng, lướt sóng, nhảy dù, các vụ đụng xe, và nhiều cảnh
tượng cũng như hình ảnh khác. Những bức ảnh này đã ảnh hưởng đến ngân sách cơ
thể họ; nhịp tim của họ tăng lên, huyết áp của họ thay đổi, mạch máu của họ
giãn ra. Những thay đổi trong ngân sách này chuẩn bị cho cơ thể sẵn sàng chiến
đấu hoặc chạy trốn, chúng xuất hiện ngay cả khi các tình nguyện viên không di chuyển và không có bất kỳ kế hoạch di chuyển có ý thức nào. Trong thí nghiệm
dùng fMRI, các tình nguyện viên xem các bức ảnh này và chúng tôi quan sát thấy
các vùng lập ngân sách cho cơ thể của họ đang kiểm soát các chuyển động bên
trong cơ thể họ. Và ngay cả khi các đối tượng thí nghiệm này nằm xuống, hoàn
toàn bất động, chúng cũng mô phỏng các chuyển động vận động (motor movement)
như chạy hoặc lướt sóng, cũng như các cảm giác đến từ vận động của các cơ, khớp
và gân. Những bức ảnh này cũng làm thay đổi các cảm xúc của các tình nguyện
viên khi những thay đổi nội tại trong cơ thể họ đang được mô phỏng và sửa chữa.
Dựa trên những thí nghiệm này và hàng trăm thí nghiệm khác, hiện nay chúng tôi
đã có bằng chứng về việc não của bạn dự đoán các phản ứng cơ thể thông qua việc
rút tỉa từ các kinh nghiệm trong quá khứ mà bạn có trong các tình huống và đối
với vật thể tương tự, ngay cả khi bạn hoàn toàn không chuyển động. Và kết quả
chính là cảm giác nội tại.
Để xáo trộn ngân sách cơ thể, bạn không cần tới sự hiện diện
của một người nào đó khác hoặc một vật thể nào đó. Bạn chỉ cần tưởng tượng về sếp của bạn, giáo viên,
huấn luyện viên, hay bất kỳ thức gì liên quan đến bạn. Mỗi một mô phỏng, dù nó
có trở thành cảm xúc hay không, đều ảnh hưởng đến nguồn ngân sách trong cơ thể
bạn. Kết quả là, người ta dành ít nhất phân nửa lượng thời gian tỉnh táo của
mình để mô phỏng thay vì chú ý vào thế giới xung quanh họ, và sự mô phỏng thuần
túy này mạnh đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến cảm xúc của họ.
Khi nói về việc quản lý nguồn ngân sách cơ thể, não của bạn
không hoạt động một mình. Những người khác cũng điều khiển nguồn ngân sách cơ
thể bạn nữa. Khi bạn tương tác với bạn bè, cha mẹ, con cái, người yêu, đồng đội,
bác sĩ trị liều, hoặc những người thân quen khác, bạn và họ trở nên đồng điệu
trong hơi thở, nhịp tịm, và những dấu hiệu thể chất khác, điều này tạo ra lợi
ích nhìn thấy được. Nắm tay với người bạn yêu thương, hay thậm chí là để ảnh của
họ trên bàn làm việc, đều giúp giảm thiểu sự kích hoạt các vùng lập ngân sách
cơ thể và khiến bạn ít đau đớn hơn. Nếu bạn đứng dưới chân núi cùng với bạn bè
mình, thì có vẻ như ngọn núi ít dốc hơn và dễ leo lên hơn so với khi bạn chỉ có
một mình. Nếu bạn lớn lên trong nghèo khó – điều dẫn đến sự mất cân bằng mãn
tính trong việc lập ngân sách cơ thể và một hệ miễn dịch hoạt động quá mức, những
vấn đền về lập ngân sách cơ thể sẽ giảm bớt nếu bạn có ai đó ủng hộ và động
viên bạn trong đời. Ngược lại, nếu bạn mất đi một người thân yêu và cảm thấy mệt
mỏi thực sự về điều đó, một phần lý do chính là vì người thân yêu đó đã không
còn ở bên cạnh để giúp bạn cân bằng ngân sách của mình. Bạn cảm thấy như thể bị
mất một phần của chính mình bởi vì – theo nghĩa nào đó, bạn thực sự đã mất đi một
phần của chính mình.
Mỗi một người mà bạn gặp, mỗi một dự đoán mà bạn tạo ra, mỗi
một ý tưởng mà bạn có, và mỗi một hình ảnh, âm thanh, mùi vị, mùi hương và va
chạm mà bạn không đoán trước được đều tạo ra những hậu quả trong việc lập ngân
sách và dự đoán cảm thụ nội tại tương ứng. Não của bạn phải đối mặt với dòng cảm
giác nội tại thay đổi đến từ các dự đoán liên tục không ngừng nghỉ này để giúp
bạn sống sót. Đôi khi bạn ý thức được chúng, đôi khi bạn không ý thức được,
nhưng chúng luôn là cách mà não bộ của bạn mô hình hóa thế giới bên ngoài. Như
tôi đã nói, chúng là nền tảng khoa học cho những cảm xúc đơn giản như cảm gíac
dễ chịu, khó chịu, bình tĩnh và kích thích – những loại cảm giác mà bạn trải
nghiệm hàng ngày. Đối với một số người, dòng chảy này giống như một dòng suối
yên tĩnh, đối với một số người khác, nó giống như một con sông đang cuồng nộ. Đôi
khi các cảm giác được chuyển thành cảm xúc, nhưng như bạn đang biết được, rằng
thậm chí khi chúng chỉ là phông nền, chúng cũng gây ảnh hưởng đến điều mà bạn
làm, điều mà bạn nghĩ, và điều mà bạn nhận thức được.
Khi bạn thức giấc vào buổi
sáng, bạn cảm giác sảng khoái hay bức bối? Vào giữa trưa, bạn cảm thấy mệt mỏi
hay tràn đầy năng lượng? Hãy xem thử bây giờ bạn đang cảm thấy như thế nào.
Bình tĩnh? Hưng phấn? Đầy năng lượng? Buồn chán? Mệt mỏi? Cáu bẳn? Đó là những
cảm xúc đơn giản mà chúng ta đã bàn luận ở đầu chương. Các nhà khoa học gọi
chúng là cảm tính (affect-tạm dịch).
Cảm tính là ý nghĩa chung
của các cảm giác mà bạn trải nghiệm trong mỗi một ngày. Nó không phải là cảm
xúc mà là một thứ cảm giác đơn giản hơn rất nhiều gồm hai đặc tính. Đầu tiên là
bạn cảm thấy dễ chịu hay khó chịu – và ở mức độ nào, các nhà khoa học gọi nó là
mức độ khoái lạc (valence – tạm dịnh).
Cảm giác dễ chịu đến từ những ánh nắng trên da bạn, những món ngon trong miệng
bạn, và cảm giác khó chịu khi dạ dày bạn bị đau hay bạn bị nhéo, đều là các ví
dụ về mức độ khoái lạc của cảm tính (affective valence). Đặc tính thứ hai của cảm
tính là mức độ bình tĩnh hay kích động mà bạn đang có, được gọi là mức độ kích động (arousal). Cảm giác
tràn đầy năng lượng khi dự đoán một tin tức tốt lành, cảm giác bồn chồn khi uống
quá nhiều cà phê, cảm giác mệt mỏi sau khi chạy bộ, và cảm giác kiệt quệ khi
thiếu ngủ là các ví dụ cho mức độ kích động cao và thấp. Bất kỳ khi nào bạn trực
giác được một vụ đầu tư là nguy hiểm hay sẽ sinh lời, hay cảm giác rằng ai đó
là một người đáng tin cậy hay tên lừa đảo, thì đó đều là cảm tính. Ngay cả một
cảm xúc trung tính cũng là một cảm tính (affect).
Các triết gia phương Tây
và phương Đông đã mô tả mức độ khoái lạc và mức độ kích động như những đặc tính
cơ bản thuộc về trải nghiệm của con người. Các nhà khoa học khá đồng ý rằng cảm
tính là một món quà từ khi người ta mới sinh ra và trẻ em có thể cảm thấy và nhận
thức được cảm giác dễ chịu và khó chịu, ngay cả khi họ không đồng ý về việc trẻ
sơ sinh có được sinh ra với trọn vẹn các cảm xúc đã định hình sẵn.
Bạn có thể nhớ lại rằng, cảm
tính (affect) phụ thuộc vào cảm thụ nội tại. Điều này có nghĩa là, cảm tính là
một dòng chảy (current) liên tục trong cuộc đời bạn, ngay cả khi bạn đang hoàn
toàn bất động hay khi bạn đang ngủ. Nó không bật lên hay tắt đi để phản ứng với
các sự kiện mà bạn trải nghiệm một cách có cảm xúc. Theo nghĩa này, cảm tính là
một khía cạnh ý thức cơ bản, như ánh sáng (brightness) và âm thanh (loudness).
Khi não của bạn biểu thị các bước sóng ánh sáng phản chiếu từ các vật thể, bạn
trải nghiệm được ánh sáng và bóng tối. Khi não của bạn biểu thị sự thay đổi của
áp suất không khí, bạn trải nghiệm âm thanh lớn nhỏ khác nhau. Và khi não bạn
biểu thị các thay đổi trong cảm thụ nội tại, bạn trải nghiệm sự dễ chịu và khó
chịu, sự kích động và sự bình tĩnh. Cảm tính, ánh sáng, âm thanh, tất cả đều
đính kèm với bạn từ khi sinh ra đến khi chết đi.
Hãy làm rõ một điều: cảm
thụ nội tại không phải là một cơ chế dùng để tạo ra cảm tính. Cảm thụ nội tại
là một đặc tính cơ bản của hệ thống thần kinh con người, và lý do tại sao bạn
trải nghiệm những cảm giác này dưới dạng cảm tính là một bí ẩn lớn mà khoa học
chưa lý giải được. Cảm thụ nội tại không tiến hóa để tạo ra cảm xúc cho bạn mà
chỉ dùng để điều chỉnh ngân sách cơ thể bạn. Nó giúp não bộ của bạn theo dõi
nhiệt độ cơ thể, mức độ glucose mà bạn đang dùng, liệu rằng có mô nào nào bị tổn
thương hay không, liệu rằng tim bạn có đang đập mạnh hay không, các cơ của bạn
có giãn ra, và những điều kiện thể chất khác, tất cả xảy ra cùng một lúc. Các cảm
xúc cảm tính dễ chịu và khó chịu, bình tĩnh và kích động, là những tóm tắt đơn
giản của trạng thái chi tiêu ngân sách cơ thể của bạn. Bạn có bị dội ngược
(flush) hay không? Bạn có đang thấu chi hay không? Bạn có cần một khoản đặt trước
hay không, và nếu vậy, thì cần thiết đến mức độ nào?
Khi ngân sách của bạn mất
cân bằng, cảm tính của bạn sẽ không chỉ điểm để bạn hành động theo một cách cụ
thể nào cả, mà nó chỉ thúc đẩy não của bạn tìm ra các lời giải thích. Não của bạn
luôn luôn dùng các trải nghiệm quá khứ để dự đoán xem các vật thể nào và các sự
kiện nào sẽ ảnh hưởng đến ngân sách cơ thể bạn, thay đổi cảm tính của bạn. Những
vật thể và những sự kiện này được gọi chung là ngách cảm tính của bạn (affective
niche: tạm dịch). Về mặt trực quan, ngách cảm tính bao gồm tất cả mọi thứ
có bất kỳ mối liên hệ nào với ngân sách cơ thể bạn ở thời điểm hiện tại. Ngay
lúc này đây, cuốn sách này đang ở trong ngách cảm tính của bạn, những ký tự
này, những ý tưởng mà bạn đang đọc, những ký ức mà những con chữ của tôi đang
đem đến cho tâm trí bạn, nhiệt độ không khí xung quanh bạn, bất kỳ vật thể nào,
con người nào, bất kỳ sự kiện nào trong quá khứ đã ảnh hưởng đến ngân sách cơ
thể bạn trong tình huống tương tự. Bất kỳ thứ gì nằm ngoài ngách cảm tính của bạn
đều chỉ là tiếng ồn: não của bạn không tạo ra bất kỳ dự đoán nào về nó, và bạn
cũng không chú ý đến nó. Cảm giác quần áo chạm vào da bạn thường không nằm
trong ngách cảm tính của bạn (tuy nhiên, bây giờ thì có, bởi vì tôi vừa nhắc đến
nó), trừ phí nó vô tình liên quan đến, ví dụ như, sự thoải mái về thể chất của
bạn.
Nhà tâm lý học James
A.Russell đã phát triển một phương thức để theo dõi cảm tính, và nó đã trở nên
rất phổ biến trong giới bác sĩ, giáo viên, và các nhà khoa học. Ông đã cho thấy
rằng bạn có thể mô tả cảm tính của mình trong một khoảnh khắc bằng một điểm duy
nhất trên một không gian hai chiều được gọi là đường tròn phức hợp (circumplex- tạm dịch), một cấu trúc đường tròn
với hai chiều, như trong hình 4-5. Mô hình hai chiều này của Russell biểu thị
cho mức độ khoái lạc và mức độ kích động, với khoảng cách từ điểm gốc đại diện
cho cường độ.
Cảm tính của bạn luôn luôn
là sự kết hợp của các mức độ khoái lạc và kích động, biểu thị bằng một điểm
trong đường tròn phức hợp cảm tính của bạn. Khi bạn đang ngồi yên, cảm tính của
bạn nằm ở điểm trung tâm của hình tròn phức hợp - “mức độ khoái lạc trung bình,
mức độ kích động trung bình”. Nếu bạn đang vui vẻ ở một bữa tiệc sống động, cảm
tính của bạn có thể ở khung phần tư “dễ chịu, kích động cao”. Nếu bữa tiệc đáng
chán, cảm tính của bạn có thể là “khó chịu, kích động thấp”. Những người trẻ tuổi
ở Mỹ thường thích phần góc tư phía trên bên phải: dễ chịu, kích động cao. Những
người turng niên và người lớn tuổi hơn thì thường thích góc tư phía dưới bên phải:
dễ chịu, kích động thấp, và những người từ những nền văn hóa phương Đông như
Trung Quốc và Nhật Bản cũng vậy. Hollywood là một ngành công nghiệp trị giá
$500 triệu bởi vì người ta sẵn sàng chi tiền để xem những bộ phim mà có thể
giúp họ chu du trong bản đồ cảm tính này trong vài giờ đồng hồ. Bạn thậm chí
còn không cần phải mở mắt để có một cuộc phiêu lưu cảm tính. Khi bạn mơ mộng và
có sự biến động lớn trong cảm thụ nội tại, não của bạn sẽ khuấy đảo với đầy cảm
tính.
Cảm tính tạo ra những hậu
quả sâu rộng vượt ngoài thứ cảm xúc đơn giản. Hãy tưởng tượng bạn là một thẩm
phán chủ tọa trong một tòa án ân xá cho tù nhân. Bạn đang nghe câu chuyện của
người tù, nghe kể về hành vi của anh ta trong tù, và bạn có một cảm xúc tồi tệ.
Nếu bạn đồng ý ân xá, anh ta có thể gây tổn thương cho ai đó khác. Linh cảm của
bạn là nên nhốt anh ta lại. Vì vậy, bạn từ chối ân xá. Cảm xúc tồi tệ của bạn, đến
từ cảm tính khó chịu của bạn, giống như một bằng chứng để bạn cảm thấy phán quyết
của mình là chính xác. Nhưng cảm tính có thể đã đánh lừa bạn hay không? Tình huống
này chính là chủ đề của nghiên cứu thẩm phán năm 2011. Các nhà khoa học ở
Israel đã phát hiện ra rằng các thẩm phán đặc biệt có xu hướng phủ quyết ân xá
tù nhân khi phiên tòa diễn ra trước giờ ăn trưa. Các thẩm phán đã trải nghiệm cảm
giác nội tại của mình – và không xem nó là cơn đói mà là bằng chứng cho phán
quyết ân xá của họ. Ngay sau khi được ăn trưa, các thẩm phán bắt đầu ân xá với
tần suất thông thường của họ.
Khi bạn trải nghiệm một cảm
tính mà không biết nguyên nhân của cảm tính đó, bạn thường xem cảm tính như một
mẩu thông tin về thế giới xung quanh, thay vì là trải nghiệm của chính bạn về
thế giới xung quanh. Nhà tâm lý học Gerald L.Clore đã bỏ qua hàng thập kỷ để thực
hiện các thí nghiệm xuất sắc để tìm hiểu xem hàng ngày người ta tạo ra các quyết
định dựa trên trực giác của mình như thế nào. Hiện tượng ngày được gọi là hiện thực hóa cảm tính (affective realism), bởi
vì chúng ta trải nghiệm như thứ trông có
vẻ như là sự thật (supposed facts) về thế giới bên ngoài – những thứ này được
tạo ra bởi cảm xúc của chúng ta. Ví dụ, nhiều người nói rằng họ cảm thấy vui vẻ
và hài lòng về cuộc sống hơn vào những ngày trời nắng ấm, nhưng chỉ khi người
ta không hỏi họ một cách rõ ràng về thời tiết. Khi bạn ứng tuyển vào một công
việc hay vào trường đại học hay vào trường y, hãy chắc chắn rằng bạn được phỏng
vấn trong một ngày nắng đẹp, vì các nhà phỏng vấn có xu hướng đánh giá ứng viên
thấp hơn trong những ngày mưa. Và lần tới khi một người bạn tốt bỗng dưng cãi
nhau với bạn, hãy nhớ về việc hiện thực hóa cảm tính này. Có thể là bạn của bạn
phát cáu với bạn thật, hoặc cũng có thể là vì đêm qua cô ấy ngủ không ngon, hoặc
có thể là sắp đến giờ ăn trưa. Sự thay đổi trong ngân sách cơ thể của cô ấy –
thứ mà cô ấy trải nghiệm như cảm tính – có thể không liên quan gì đến bạn cả.
Cảm tính khiến chúng ta
tin rằng những vật thể và những con người trong thế giới bên ngoài có tính tích
cực chay tiêu cực. Hình chụp mèo con được cho là khiến người dễ chịu. Hình
chúng các xác chết thối rữa thì được cho là khiến người ta khó chịu. Nhưng bản
thân những bức hình này không có các đặc tính thuộc về cảm tính bên trong
chúng. Cụm từ “bức hình gây khó chịu” là phiên bản ngắn cho “một bức hình ảnh
hưởng đến ngân sách cơ thể tôi, tạo ra những cảm giác mà tôi trải nghiệm một
cách khó chịu.” Trong những khoảnh khắc chúng ta hiện thực hóa cảm tính, chúng ta
trải nghiệm cảm tính như thể nó là một vật thể hoặc một sự kiện ở thế giới bên
ngoài, thay vì là chính trải nghiệm của chúng ta. “Tôi cảm thấy tồi tệ, vì thế,
hẳn là bạn đã làm gì đó rất tệ với tôi. Bạn là người xấu.” Trong phòng thí nghiệm
của tôi, khi chúng tôi thao túng cảm tính của người khác mà họ không biết,
chúng tôi đã gây ảnh hưởng lên việc họ nhận định một người lạ là đáng tin cậy,
có năng lực, thu hút, hay đáng mến, và thậm chí họ cảm thấy gương mặt người này
khác hẳn đi.
Người ta thường xem cảm
tính như một loại thông tin, họ thực tế hóa cảm tính trong suốt cuộc sống hàng
ngày của họ. Thức ăn “ngon” hay “lạt”. Các bức tranh “đẹp” hay “xấu”. Người ta
“tử tế” hay “xấu xa”. Phụ nữ ở một số nền văn hóa phải mang mạng che mặt và tóc
giả để không “cám dỗ đàn ông” khi để lộ ra một chút tóc. Đôi khi việc thực tế
hóa cảm tính cũng có ích, nhưng nó cũng định hình một số vấn đề rắc rối nhất của
loài người. Đối thủ là “ác quỷ”. Phụ nữ bị cưỡng hiếp bị cho là “họ muốn bị như
thế”. Nạn nhân của bạo hành gia đình bị cho là “tự làm tự chịu”.
Vấn đề là, một cảm xúc tồi
không phải luôn có ý nghĩa là có điều gì đó xấu đang xảy ra. Nó chỉ có người là
bạn đang đánh thuế ngân sách cơ thể mình. Ví dụ, khi người ta tập thể dục đến mức
thở gấp, họ cảm thấy mệt mỏi và bực bội trước khi hết năng lượng. Khi người ta
giải quyết các vấn đề toán học và thực hiện những công việc khó khăn liên quan
trí nhớ, họ có thể cảm thấy tuyệt vọng và đau khổ, ngay cả khi họ đang hoạt động
tốt. Bất kỳ sinh viên tốt nghiệp nào của tôi mà chưa bao giờ cảm thấy đau khổ
thì rõ ràng là họ đang đi sai hướng.
Hiện thực hóa cảm tính
cũng có thể dẫn đến các hậu quả bi kịch. Vào tháng 7 năm 2007, một tay súng người
Mỹ trên chiếc trực thăng Apache ở Iraq đã giết nhầm một nhóm 11 người không vũ
trang, trong đó có một số phóng viên ảnh của Reuters. Người lính này đã nhìn nhầm
máy chụp ảnh của phóng viên thành một cây súng. Vụ việc này có thể được giải
thích rằng việc hiện thực hóa cảm tính trong lúc nóng nảy đã khiến người lính
nhìn một vật hoàn toàn vô hại (máy ảnh) và nhuộm màu nó với mức độ khoái lạc
khó chịu. Hàng ngày, các binh sĩ phải đưa ra quyết định nhanh chóng về những
người khác, cho dù họ có tham gia vào một đơn vị trong thời chiến, thực hiện
nhiệm vụ gìn giữ hòa bình, đàm phán trong một môi trường đa văn hóa hay cộng
tác với các thành viên trong đơn vị trên một căn cứ của bang. Những phán xét
nhanh chóng này cực kỳ khó thương lượng, đặc biệt là trong những môi trường có
mức đánh cược cao - nơi mà các sai sót thường phải trả giá bằng mạng sống của một
người nào đó.
Trong phạm vi gần với
chúng ta hơn, hiện thực hóa cảm tính có thể đóng vai trò lớn trong những vụ việc
cảnh sát bắn nhầm thường dân không vũ trang. Bộ Tư pháp Hoa Kỳ đã phân tích các
vụ xả súng của các sĩ quan cảnh sát Philadelphia từ năm 2007 đến năm 2013 và
phát hiện ra rằng 15% nạn nhân không có vũ khí. Trong phân nửa số trường hợp
này, một sĩ quan báo cáo rằng mình đã xác định nhầm “một vật thể không đe dọa
(ví dụ: điện thoại di động) hoặc một chuyển động (ví dụ: giật dây thắt lưng)”
là vũ khí hoặc hành động lấy vũ khí. Có nhiều yếu tố có thể góp phần vào những
thảm kịch này, từ bất cẩn đến thành kiến chủng tộc, nhưng nguyên nhân cũng có
thể là một số tay súng thực sự cảm nhận được vũ khí trong khi thực sự không có
vũ khí nào xuất hiện, do họ đã hiện thực hóa cảm tính trong bối cảnh áp lực cao
và nguy hiểm. Bộ não con người được thiết lập để tạo ra loại ảo tưởng này, một
phần vì cảm thụ nội trong từng khoảnh khắc đều truyền cảm tính cho chúng ta, sau
đó chúng ta sử dụng thứ cảm tính này để làm bằng chứng về thế giới bên ngoài.
Người ta hay nói là, “nhìn
thấy mới tin” (seeing is believing), nhưng việc hiện thực hóa cảm tính đã chứng
mình rằng “tin thì mới nhìn thấy”. Thế giới bên ngoài thường ngồi ghế sau so với
dự đoán của bạn. (Nó vẫn ở trong xe, như nó hầu như chỉ là hành khách đi cùng
mà thôi). Và bạn sắp được biết rằng, sự sắp xếp chỗ ngồi này không chỉ giới hạn
ở thị giác.
Hãy tưởng tượng rằng bạn
đang đi bộ một mình trong rừng, và bạn nghe thấy tiếng lá xào xạc và bạn nhìn
thấy một chuyển động mơ hồ trên mặt đất. Như thường lệ, các vùng lập ngân sách
cơ thể của bạn bắt đầu dự đoán – ví dụ như, có một con rắn ở gần đó. Những dự
đoán này khiến bạn chuẩn bị nhìn thấy và nghe thấy một con rắn. Cùng lúc đó,
các vùng này dự đoán rằng nhịp tim của bạn nên tăng lên và các mạch máu của bạn
nên giãn ra để chuẩn bị bỏ chạy. Trái tim đập mạnh và máu sôi trào sẽ tạo ra
các cảm giác nội tại, vì thế não của bạn cũng sẽ phải dự đoán các cảm giác này.
Kết quả là, não của bạn mô phỏng con rắn, các thay đổi trong cơ thể, các cảm
giác đến từ cơ thể. Những dự đoán này được phiên dịch thành cảm xúc; trong trường
hợp này, bạn sẽ bắt đầu cảm thấy kích động.
Chuyện gì sẽ xảy ra tiếp
theo? Có thể là sẽ có một con rắn trườn ra khỏi bụi rậm. Trong trường hợp này,
các thông tin cảm giác đầu vào đã khớp với dự đoán của bạn và bạn bỏ chạy. Hoặc
là, không có con rắn nào cả - những chiếc lá chỉ xào xạc vì gió thổi – nhưng dù
sao đi nữa thì bạn cũng nhìn thấy một con rắn. Đó là hiện thực hóa cảm tính. GIờ
hay xem xét đến khả năng thứ ba: không có con rắn nào cả, và bạn cũng không
nhìn thấy con rắn nào cả. Trong trường hợp này, các dự đoán thị giác của bạn về
một con rắn được chỉnh sửa một cách nhanh chóng; tuy nhiên, các dự đoán cảm thụ
nội tại của bạn thì không. Các vùng lập ngân sách cơ thể của bạn vẫn tiếp tục dự
đoán các điều chỉnh để chi tiêu ngân sách trong một thời gian dài sau khi nhu cầu
dự đoán kết thúc. Do đó, bạn cần phải mất một khoảng thời gian lâu lắc để bình
tĩnh lại, ngay cả khi bạn biết rằng mọi thứ đều ổn cả. Bạn có còn nhớ khi tôi
so sánh não của bạn với một nhà khoa học đang kiểm tra các giả định không? Các
vùng lập ngân sách cơ thể của bạn cũng giống như một nhà khoa học bị điếc vậy: họ
đưa ra các dự đoán nhưng lại gặp khó khăn khi lắng nghe các bằng chứng thu được.
Đôi khi, các vùng lập ngân
sách cơ thể của bạn quá lười để chỉnh sửa các dự đoán của chúng. Hãy nghĩ về lần
gần đây nhất mà bạn ăn quá nhiều rồi cảm thấy bị đầy hơi. Bạn có thể đổ lỗi cho
các vùng lập ngân sách cơ thể của mình. Một trong những nhiệm vụ của chúng là dự
đoán mức độ tuần hoàn glucose của bạn – thứ giúp bạn xác định xem mình cần bao
nhiêu thức ăn, nhưng chúng không nhận được tin nhắn là “tôi no rồi” từ cơ thể kịp
thời, nên bạn cứ ăn tiếp. Nếu bạn đã từng nghe lời khuyên, “hãy chờ 20 phút trước
khi ăn miếng thứ hai, để xem liệu mình còn đói hay không”, thì giờ bạn đã hiểu
tại sao người ta lại khuyên như thế rồi đấy. Bất cứ khi nào bạn bỏ và hay rút
ra từ ngân sách cơ thể bạn – ăn, tập thể dục, bị thương – bạn phải chờ não bạn
bắt kịp thông tin này. Những vận động viên chạy marathon đều biết điều này; họ
cảm thấy mệt mỏi trong giai đoạn đầu của cuộc đua khi nguồn ngân sách cơ thể của
họ vẫn còn khả năng thanh toán, vì thế họ tiếp tục chạy cho đến khi cảm giác mệt
mỏi này biến mất. Họ phớt lờ việc hiện thực hóa cảm tính – thứ đang cho rằng họ
đã cạn năng lượng rồi.
Hãy dừng lại một chút và
suy nghĩ xem điều này có ý nghĩa gì trong cuộc sống hàng ngày của bạn. Bạn vừa
mới biết được rằng các cảm giác mà bạn cảm thấy từ cơ thể mình không phải lúc
nào cũng phản ánh đúng trạng thái thực sự của cơ thể. Đó là bởi vì các cảm giác
quen thuộc như tim đập trong ngực hay phổi đầy không khí, và, quan trọng nhất,
những cảm giác dễ chịu, khó chịu, kích động, và điềm tĩnh của cảm tính không thực sự đến từ bên trong cơ thể.
Chúng được dẫn dắt bởi các mô phỏng trong mạng lưới cảm thụ nội tại của bạn.
Nói ngắn gọn là, bạn cảm
thấy thứ mà não của bạn tin là bạn đang cảm thấy. Cảm tính chủ yếu đến từ dự
đoán.
Bạn đã biết được rằng bạn
nhìn thấy những thứ mà não bạn tin là bạn đã nhìn thấy – đó là hiện thực hóa cảm
tính. Giời bạn cũng biết thêm là, hầu hết những cảm xúc mà bạn trải nghiệm
trong đời cũng y như vậy. Ngay cả cảm giác của mạch máu ở cổ tay của bạn cũng
là một mô phỏng, được xây dựng trong các vùng cảm giác của não và được điều chỉnh
bằng các thông tin cảm giác đầu vào (mạch máu thực của bạn). Mọi thứ bạn cảm thấy
đều dựa trên dự đoán từ kiến thức và kinh nghiệm trong quá khứ của bạn. Bạn thực
sự là kiến trúc sư xây dựng nên trải nghiệm của chính mình. Tin thì mới cảm
giác thấy.
Những ý tưởng này không chỉ
là suy đoán. Các nhà khoa học với những thiết bị chính xác có thể thay đổi cảm
tính của người khác bằng cách trực tiếp thao thúng các vùng lập ngân sách cơ thể
- những vùng tạo ra các dự đoán. Helen S.Mayberg, một nhà thần kinh học tiên
phong, đã phát triển một liệu pháp kích thích não sâu cho những người mắc chứng
trầm cảm kháng trị. Những người này không chỉ trải qua nỗi thống khổ của chứng
trầm cảm nghiêm trọng — họ còn đau đớn, bị mắc kẹt trong hố sâu của sự ghê tởm
bản thân và sự dằn vặt không dứt. Một số người còn không thể di chuyển. Trong
quá trình phẫu thuật, Mayberg làm việc với một nhóm các bác sĩ phẫu thuật thần
kinh, họ khoan những lỗ nhỏ trên sọ và đặt các điện cực vào các vùng dự đoán chính
trong mạng lưới cảm thụ nội tại của bệnh nhân. Khi các bác sĩ phẫu thuật thần
kinh bật các điện cực này lên, các bệnh nhân của Mayberg nói rằng họ giảm đau ngay lập tức. Khi dòng điện bật lên rồi
tắt xuống, sự sợ hãi của bệnh nhân đến rồi đi như những cơn sóng bấp bênh đồng
bộ với kích thích điện này. Nghiên cứu đáng kinh ngạc của Mayberg có thể đại diện
cho lần đầu tiên trong lịch sử khoa học, người ta chứng minh được rằng sự kích
thích trực tiếp vào não người đã liên tục thay đổi cảm xúc của con người, điều
này có thể đưa đến các phương pháp điều trị mới cho các chứng bệnh tâm thần.
Dù hệ thống mạch thần kinh
dự đoán của não rất quan trọng đối với cảm tính, nó cũng không cần thiết lắm.
Hãy xem xét trường hợp của Roger, một bệnh nhân năm mươi sáu tuổi, hệ thống mạch
thần kinh liên quan của ông đã bị hủy hoại bởi một căn bệnh hiếm gặp. Ông có chỉ
số IQ cao hơn mức bình thường, ông tốt nghiệp đại học, nhưng ông cũng gặp rất
nhiều khó khăn về trí óc, chẳng hạn như chứng hay quên trầm trọng và ông gặp
khó khăn trong việc ngửi và nếm. Tuy nhiên, Roger vẫn trải nghiệm được các cảm
tính. Cảm tính của ông thường được dẫn dắt bởi các thông tin cảm giác đầu vào
thực tế từ cơ thể; những vùng não khác có thể cung cấp dự đoán – một ví dụ cho
sự thoái hóa (nhiều tập hợp neuron khác nhau tạo ra cùng một kết quả). Tình huống
ngược lại cũng có thể xảy ra. Các bệnh nhân bị tổn thương tủy sống hoặc mắc chứng
Suy giảm tự chủ thuần túy – một bệnh thoái hóa của hệ thần kinh tự chủ, họ có
các dự đoán cảm thụ nội tại nhưng không nhận được thông tin cảm giác đầu vào từ
các cơ quan nội tạng và mô của họ. Những bệnh nhân này có thể trải nghiệm cảm
tính chủ yếu dựa trên các dự đoán chưa được điều chỉnh.
Hình 4-6: kích thích não sâu
Mạng lưới cảm thụ nội tại
không chỉ giúp xác định bạn đang cảm thấy thế nào. Các vùng lập ngân sách cơ thể
trong mạng lưới này là một trong những nhà dự đoán mạnh mẽ và kết nối tốt nhất
trong toàn bộ não bộ của bạn. Những vùng này rất ồn ào và hách dịch, chúng giống
như một nhà khoa học bị điếc có một cái loa lớn. Chúng phát ra các dự đoán cho
thị giác, thính giác, và các giác quan khác; những vùng cảm giác chính của bạn,
chúng không tạo ra dự đoán cho chính chúng mà chỉ biết nghe theo.
Tôi sẽ giải thích cho bạn
điều này có ý nghĩa gì. Bạn có thể nghĩ rằng trong cuộc sống hàng ngày, những
thứ mà bạn thấy được và nghe được ảnh hưởng đến cảm xúc của bạn, nhưng thật ra
là ngược lại mới đúng: chính cảm xúc của bạn thay đổi thứ mà bạn nhìn thấy và
nghe được. Cảm thụ nội tại ảnh hưởng đến nhận thức và hành vị của bạn nhiều hơn
là thế giới bên ngoài.
Bạn có thể tin rằng mình
là một sinh vật đầy lý trí, biết cân đo đong đếm lợi ích và thiệt hại trước khi
quyết định hành động, nhưng cấu trúc của vỏ não khiến điều này trở thành một điều
hư cấu không thể tin được. Não của bạn được thiết lập để lắng nghe ngân sách cơ
thể bạn. Cảm tính ngồi ở ghế tài xế và lý trí thì chỉ ngồi ở ghế hành khách. Dù
bạn đang chọn lựa giữa hai món ăn vặt, hai thư mời trúng tuyển, hai sự đầu tư,
hay hai cuộc phẫu thuật tim – mỗi một quyết định trong cuộc sống hàng ngày của
bạn được dẫn dắt bởi một nhà khoa học vừa điếc vừa to mồm – người nhìn thế giới
thông qua tấm kính mang màu sắc cảm tính.
Antonio Damasio, trong cuốn
sách bán chạy Lỗi của Descartes, đã
quan sát thấy rằng lý trí cần có đam mê (thứ mà chúng ta gọi là cảm tính) có được
sự khôn ngoan. Ông đã ghi nhận rằng, những người bị tổn thương mạng lưới cảm thụ
nội tại, đặc biệt là ở những vùng lập ngân sách cơ thể, khả năng quyết định của
họ bị suy yếu đi. Khi bị cướp mất khả năng tạo ra các dự đoán cảm thụ nội tại,
các bệnh nhân của Damasio giống như đã bị mất bánh lái. Những kiến thức mới về
giải phẫu não bộ mà chúng ta có được giờ buộc chúng ta tiến thêm một bước xa
hơn. Cảm tính không chỉ cần thiết để có được sự khôn ngoan; mà có còn là một loại
chỉ dệt không thể thay thế được để dệt nên tấm vải của mọi quyết định.
Sức mạnh của hệ thống mạch
thần kinh lập ngân sách cơ thể có ảnh hưởng nghiêm trọng đến thế giới tài
chính. Nó đã góp phần đẩy lùi những thảm họa kinh tế lớn nhất trong thời đại
chúng ta, gần đây nhất là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 khiến vô
số gia đình rơi vào cảnh điêu tàn về kinh tế.
Khoa học kinh tế từng sử dụng
một khái niệm gọi là con người kinh tế lý trí (homo economicus), chỉ những người
kiểm soát cảm xúc của mình để đưa ra các phán đoán kinh tế hợp lý. Khái niệm
này là nền tảng của lý thuyết kinh tế phương Tây, và mặc dù nó đã không còn được
các nhà kinh tế hàn lâm ưa chuộng, nó vẫn tiếp tục hướng dẫn các hoạt động kinh
tế. Tuy nhiên, nếu các vùng lập ngân sách cơ thể dẫn dắt các dự đoán đến mọi mạng
lưới não bộ khác, thì mô hình con người kinh tế lý trí này sẽ dựa trên một ngụy
biện sinh học. Bạn không thể là một con người lý trí được, nếu bộ não của bạn
chạy theo các dự đoán mang đầy tính cảm thụ nội tại. Một mô hình kinh tế làm nền
tảng của nền kinh tế Hoa Kỳ - một số người có thể nói là nền kinh tế toàn cầu –
lại bắt nguồn từ một câu chuyện cổ tích về thần kinh.
Mọi khủng hoảng kinh tế
trong ba mươi năm gần đây đều liên quan – hoặc ít nhất là liên quan một phần
nào đó – tới mô hình con người kinh tế lý trí. Theo phóng vưa Jeff Madrick, tác
giá của cuốn Bảy ý tưởng tồi tệ: Cách các
nhà kinh tế chính thống đã gây thiệt hại cho nước Mỹ và thế giới, một số ý
tưởng cơ bản nhất của các nhà kinh tế học tạo ra hàng loại các khủng hoảng tài
chính dẫn đến cuộc Đại Khủng Hoảng. Một chủ đề chung xuyên suốt những ý tưởng
này là các nền kinh tế thị trường tự do không được kiểm soát sẽ hoạt động tốt.
Trong những nền kinh tế này, các quyết định liên quan đến đầu tư, sản xuất và
phân phối sẽ được dựa trên cung và cầu mà không cần sự điều tiết hay quản lý của
chính phủ. Các mô hình toán học đã chỉ ra rằng trong những điều kiện nhất định,
các nền kinh tế thị trường tự do không bị điều phối thực sự hoạt động tốt.
Nhưng một trong những “điều kiện nhất định” đó là con người phải là tạo ra các
quyết định một cách lý trí. Tôi không thể đếm được số lượng những thí nghiệm
trong 50 năm gần đây đã chỉ ra rằng con người không phải là sinh vật lý trí. Bạn
không thể vượt qua cảm xúc để suy nghĩ một cách lý trí, bởi vì tình trạng ngân
sách cơ thể của bạn là cơ sở cho mọi suy nghĩ và nhận thức mà bạn có, vì thế, cảm
thụ nội tại và cảm tính được tạo ra trong từng giây từng phút. Thậm chí khi bạn
cảm thấy bản thân mình đang rất lý trí, thì ngân sách cơ thể của bạn và các
liên kết của nó với cảm tính vẫn đang tồn tại, ẩn giấu bên dưới bề mặt.
Nếu ý tưởng về sự lý trí của
con người quá độc hại đối với nền kinh tế và nó không được hỗ trợ bởi khoa học
thần kinh, tại sao nó vẫn tồn tại? Đó là bởi vì con người chúng ta từ lâu đã
tin rằng lý trí là thứ khiến chúng ta trở nên đặc biệt trong vương quốc động vật.
Huyền thoại này phản ánh về một trong những câu chuyện được ưa chuộng nhất
trong tư tưởng phương Tây, rằng tâm trí con người là một chiến trường nơi nhận
thức và cảm xúc đấu tranh để giành quyền kiểm soát hành vi. Ngay cả tính từ mà
chúng ta thường sử dụng để mô tả bản thân là vô cảm hoặc ngu ngốc trong khi
nóng nảy - “thiếu suy nghĩ” – cũng biểu thị việc thiếu kiểm soát nhận thức và
không thể điều khiển Ngài Spock* bên trong chúng ta.
(*ngài Spock: nhân vật trong Star trek, nhân vật luôn vật lộn giữa cảm xúc
và lý trí.)
Câu chuyện huyền thoại này
được khẳng định mạnh mẽ đến mức các nhà khoa học thậm chí đã tạo ra một mô hình
bộ não dựa trên nó. Mô hình bắt đầu với các mạch thần kinh bên dưới vỏ não cổ đại
đại diện cho sự tồn tại cơ bản – nơi mà chúng ta cho là chúng ta đã được thừa
hưởng từ loài bò sát. Ở trên đỉnh các mạch thần kinh này là một hệ thống được
cho là quản lý cảm xúc, được gọi là "hệ limbic" – thứ mà chúng ta cho
là đã con người đã được thừa hưởng từ các loài động vật có vú thời sơ khai. Và
được bao bọc xung quanh cái gọi là hệ thống limbic này, giống như lớp kem bao bọc
một chiếc bánh bông lan, là thứ được cho là vỏ não lý trí độc quyền của con người
chúng ta. Sự sắp xếp ảo tưởng này, đôi khi được gọi là “bộ não ba ngôi”, vẫn là
một trong những quan niệm sai lầm thành công nhất trong sinh học của con người.
Carl Sagan đã phổ biến nó trong Những con
rồng ở Eden, cuốn sách bán chạy nhất của ông (một số người sẽ nói phần lớn
cuốn sách là hư cấu) kể về cách trí thông minh của con người đã phát triển như
thế nào. Daniel Goleman đã sử dụng nó trong cuốn Trí tuệ cảm xúc bán chạy nhất của mình. Tuy nhiên, con người không
có bộ não động vật được gói gọn trong khả năng nhận thức, như bất kỳ chuyên gia
nào trong lĩnh vực tiến hóa não đều biết. Nhà khoa học thần kinh Barbara L.
Finlay, biên tập viên của tạp chí Behavior
and Brain Sciences, cho biết: “Việc lập bản đồ cảm xúc vào phần giữa của
não, còn lý trí và logic vào vỏ não thì thật là ngớ ngẩn. Ở tất cả các động vật
có xương sống đều có tất cả các bộ phận của não." Vậy bộ não tiến hóa như
thế nào? Chúng tổ chức lại khi chúng mở rộng ra, cũng giống như các công ty, để
giữ cho mình hoạt động hiệu quả và nhanh nhẹn.
Hình 4-7: “bộ não ba ngôi”, thứ được gọi là hệ thống mạch
thần kinh nhận thức nằm ở phía trên thứ được gọi là hệ thống mạch thần kinh cảm
xúc. Sự sắp xếp ảo tưởng này đã mô tả việc lý trí được cho là điều khiển cảm
xúc như thế nào.
Điểm mấu chốt ở đây là: về
mặt giải phẫu, bộ não con người được cấu trúc để không có quyết định hay hành động
nào có thể thoát khỏi cảm thụ nội tại và cảm tính, dù con người có kể cho nhau
nghe những câu chuyện hư cấu như thế nào về việc chúng ta hành động lý trí. Các
cảm giác thể chất của bạn ngay lúc này sẽ dự báo bạn sẽ cảm thấy như thế nào và
sẽ làm gì trong tương lai. Đó là một lời tiên tri tự hoàn thành, được dàn dựng
một cách trang nhã trong cấu trúc bộ não của bạn.
Có rất nhiều thứ đang xảy
ra bên trong não của bạn, với hàng tỷ neuro của nó, nhiều hơn so với những gì
tôi đã phác thảo trong chương này. Hầu hết các nhà khoa học thần kinh đều đồng
ý rằng chúng ta còn cần hàng chục năm nữa mới biết được sự phức tạp về cách thức
hoạt động của một bộ não, chứ chưa nói đến cách nó tạo ra ý thức. Tuy nhiên,
chúng ta có thể khá chắc chắn về một số điều.
Ngay lúc này đây, não của
bạn đang giải nghĩa những từ ngữ này, nó dự đoán sự thay đổi trong ngân sách cơ
thể của bạn. Mỗi một suy nghĩ, ký ức, nhận thức, hay cảm xúc mà bạn kiến tạo
nên đều bao gồm thứ gì đó về trạng thái cơ thể của bạn: một mẫu cảm thụ nội tại.
Ví dụ, một dự đoán thị giác không chỉ trả lời cho câu hỏi “Lần trước tôi đã
nhìn thấy cái gì trong tình huống này?” mà nó trả lời cho câu hỏi “Lần trước
tôi đã nhìn thấy cái gì trong tình huống này khi cơ thể tôi đang ở trạng thái này?” Bất kỳ sự thay đổi nào trong
cảm tính khi bạn đọc những từ ngữ này – mức độ khoái lạc nhiều hay ít, mức độ
bình tĩnh nhiều hay ít – đều là kết quả của các dự đoán cảm thụ nội tại. Cảm
tính chính là sự dự đoán tốt nhất của não bạn về trạng thái ngân sách cơ thể của
bạn.
Cảm thụ nội tại là một
trong những nguyên liệu quan trọng nhất trong việc bạn trải nghiệm thực tế xung
quanh như thế nào. Nếu bạn không có cảm thụ nội tại, thì đối với bạn, thế giới
vật chất sẽ chỉ là những tiếng ồn vô nghĩa. Hãy xem xét điều này: các dự đoán cảm
thụ nội tại của bạn, thứ tạo ra cảm xúc và cảm tính, chúng xác định xem bạn sẽ
quan tâm đến điều gì trong thời điểm này – ngách cảm tính của bạn. Từ góc nhìn
của não bộ, bất kỳ thứ gì nằm trong ngách cảm tính của bạn đều có thể ảnh hưởng
đến ngân sách cơ thể bạn, và ngoài nó ra thì chẳng có thứ gì khác trong vũ trụ
này quan trọng nữa. Trên thực tế, điều này có nghĩa là bạn đã kiến tạo nên môi trường xung quanh bạn. Chúng ta hay nghĩ về
môi trường như một thứ tồn tại sẵn ở thế giới bên ngoài, tách rời khỏi bản thân
chúng ta, nhưng đó chỉ là một câu chuyện huyền thoại. Bạn (và nhiều sinh vật
khác) không chỉ là tồn tại trong một môi trường và hoặc là thích nghi, hoặc là
chết. Bạn kiến tạo nên môi trường của mình – bạn kiến tạo nên hiện thực của
chính mình – bằng cách dùng những thông tin cảm giác đầu vào từ môi trường vật
chất mà não bạn đã chọn lọc ra; nó thừa nhận một số thông tin và bỏ qua một số
khác, xem chúng như những tiếng ồn vô nghĩa. Và sự chọn lọc này liên kết mật
thiết với cảm thụ nội tại. Não của bạn mở rộng kho dự đoán của nó để chứa bất kỳ
thứ gì có thể ảnh hưởng đến ngân sách cơ thể bạn, nhằm đáp ứng nhu cầu trao đổi
chất của cơ thể bạn. Đây là lý do tại sao cảm tính là một thuộc tính của ý thức.
Cảm thụ nội tại, một phần
cơ bản của quy trình dự đoán, là nguyên liệu chính của cảm xúc. Tuy nhiên, một
mình cảm thụ nội tại thì không thể giải thích cảm xúc. Một danh mục cảm xúc như
sự giận dữ và nỗi buồn thì phức tạp hơn rất nhiều so với một cảm xúc đơn giản
như khó chịu hay kích động.
Khi giọng nói của Thống đốc
bang Connecticut - Dannel Malloy, dao động trong bài phát biểu của ông sau vụ
thảm sát ở trường tiểu học Sandy Hook, ông ấy không khóc, không bĩu môi và có
lúc ông ấy thực sự mỉm cười. Tuy nhiên, bằng cách nào đó, người xem suy luận rằng
ông ấy đang trải qua nỗi buồn dữ dội. Chúng ta không thể dùng cảm giác và những
cảm xúc đơn giản để giải thích cho cách mà hàng nghìn khán giả đã nhận thức được
nỗi thống khổ sâu sắc của Malloy.
Duy chỉ một mình cảm tính
thì không đủ để giải thích cách mà chúng ta đã kiến tạo nên các trải nghiệm của
chính mình về nỗi buồn; hay cách mà một phân mục nỗi buồn này khác biệt với một
phân mục nỗi buồn khác. Cảm tính cũng không cho bạn biết ý nghĩa của các cảm
giác và không chỉ cho bạn nên làm gì với chúng. Đó là lý do tại sao người ăn
khi họ cảm thấy mệt mỏi hay quyết định kết tội ai đó khi họ đói bụng. Bạn phải
khiến cho cảm tính trở nên có ý nghĩa,
từ đó não bạn có thể thực hiện một hành động cụ thể hơn. Một cách để tạo ra ý
nghĩa chính là kiến tạo nên một phân mục cảm xúc.
Vậy thì, các cảm giác nội
tại trở thành các cảm xúc như thế nào? Và tại sao chúng ta trải nghiệm những cảm
giác (sensations) này (những dự đoán
thực sự) theo những cách rất khác nhau: như là các triệu chứng cơ thể, các nhận
thức về thế giới, hay đơn giản là các cảm giác liên quan đến cảm tính (affective feelings), và đôi khi là cảm
xúc (emotion)? Đây chính là bí ẩn tiếp theo mà chúng ta sẽ nói tới.







0 nhận xét:
Đăng nhận xét