Chủ Nhật, 29 tháng 1, 2023

How Emotions Are Made - chương 3

 

Chương 3

THẦN THOẠI VỀ NHỮNG CẢM XÚC PHỔ QUÁT

Hãy nhìn người phụ nữ ở hình 3-1, đang la hét trong hoảng loạn. Nhiều người được sinh ra và lớn lên trong văn hóa phương Tây có thể nhìn ra loại cảm xúc này trên gương mặt mà không cần bất kỳ cố gắng nào, thậm chí không cần biết đến bối cảnh của tấm ảnh.




Ngoài trừ việc… cô ấy không phải đang hoảng loạn. Bức ảnh này chụp Serena Williams, ngay sau khi cô ấy đánh bại người em gái Venus của cô ấy trong trận chung kết giải quần vợt mở rộng Mỹ năm 2008. Hãy lật đến trang 310 (phụ lục C) để nhìn thấy toàn bộ bức ảnh. Trong bối cảnh, cấu hình khuôn mặt tạo ra một ý nghĩa mới.

Nếu bạn cảm thấy gương mặt của Williams thay đổi đột ngột ngay trước mắt bạn khi bạn nhìn vào bối cảnh – thì không chỉ có mỗi mình bạn cảm thấy như vậy đâu. Đây là một trải nghiệm phổ biến. Não của bạn đã tạo ra sự thay đổi này như thế nào? Từ ngữ chỉ cảm xúc đầu tiên mà tôi đã dùng, “hoảng loạn”, khiến cho não bộ mô phỏng các cấu hình khuôn mặt của những người đang sợ hãi mà bạn đã thấy trong quá khứ. Bạn hầu như không nhận ra những mô phỏng này, nhưng chúng đã định hình nhận thức của bạn về khuôn mặt của Williams. Sau đó, khi tôi giải thích bối cảnh của bức ảnh – chiến thắng một trận đấu tennis quan trọng – não của bạn áp dụng các kiến thức về tennis và chiến thắng để mô phỏng cấu hình gương mặt mà bạn đã nhìn thấy ở những người đang phấn khích tột độ. Những mô phỏng này một lần nữa đã ảnh hưởng đến cách bạn nhận thức khuôn mặt của Williams. Trong mỗi trường hợp, khái niệm cảm xúc của bạn đã giúp bạn tạo nên ý nghĩa từ hình ảnh.

Trong thực tế, chúng ta thường nhìn các gương mặt trong bối cảnh, gắn liền với cơ thể và giọng nói, mùi hương, và những chi tiết xung quanh. Những chi tiết này chỉ bảo bộ não của bạn để sử dụng các khái niệm cụ thể để mô phỏng và kiến tạo nhận thức của bạn về cảm xúc. Đó là lý do tại sao trong bức ảnh trọn vẹn của Serena Williams, bạn nhận thức được sự chiến thắng, chứ không phải sự hoảng loạn. Thật ra, bạn phụ thuộc vào các khái niệm cảm xúc mỗi khi bạn nhìn nhận cảm xúc của người khác. Bạn cần có các kiến thức về các khái niệm như “nỗi buồn” để nhìn nhận cái bĩu môi là buồn bã, kiến thức về “sự sợ hãi” để nhìn nhận đôi mắt mở to là sợ hãi, v.v.

Theo quan điểm cổ điển, bạn không cần tới các khái niệm để nhận thức cảm xúc, bởi vì các cảm xúc được cho là có các dấu vân tay phổ quát mà bất kỳ ai trên khắp thế giới đều có thể nhận biết từ khi mới sinh ra. Bạn sắp được biết một điều hoàn toàn ngược lại. Bằng cách áp dụng lý thuyết kiến tạo cảm xúc, kết hợp với một chút kỹ thuật đảo ngược, bạn sẽ thấy rằng các khái niệm là nguyên liệu chính để nhận thức các cảm xúc. Chúng ta sẽ bắt đầu với kỹ thuật thí nghiệm tốt nhất dùng trong việc chứng minh rằng các cảm xúc nhất định có tính phổ quát: phương thức cảm xúc cơ bản được thực hiện bởi Silvan Tomkins, Carroll Izard và Paul Ekman (chương 1). Sau đó, chúng ta sẽ giảm dần một cách hệ thống số lượng hiểu biết về khái niệm cảm xúc ở các đối tượng thí nghiệm. Nếu nhận thức cảm xúc của họ càng lúc càng suy giảm, thì chúng ta có thể chứng minh rằng các khái niệm là vô cùng quan trọng trong việc kiến tạo nên nhận thức cảm xúc. Chúng ta cũng sẽ hiểu được tại sao mà các cảm xúc trông có vẻ có thể nhận biết một cách phổ quát trong những điều kiện nhất định, và nó sẽ mở ra một cánh cửa đưa chúng ta đến với một sự hiểu biết tốt hơn, mới hơn trong việc các cảm xúc được tạo ra như thế nào.

Bạn có thể nhớ lại rằng, phương pháp cảm xúc cơ bản được thiết kế nhằm để nghiên cứu “sự nhận biết cảm xúc” (emotion recognition). Trong mỗi lần thí nghiệm, đối tượng thí nghiệm xem những bức ảnh chụp gương mặt, trong đó những diễn viên chuyên nghiệp được chụp một cách cẩn thận, họ biểu diễn cái gọi là biểu cảm từ các cảm xúc nhất định: mỉm cười khi hạnh phúc, cau có khi tức giận, bĩu môi khi buồn bã, v.v. Đi kèm với tấm hình là một tập hợp nhỏ những từ ngữ chỉ cảm xúc bằng tiếng Anh, như trong hình 3-2, và đối tượng thí nghiệm sẽ phải chọn từ ngữ phù hợp nhất với gương mặt. Những từ ngữ giống nhau lặp đi lặp lại trong mỗi lần thí nghiệm. Trong một phiên bản khác của phương pháp cảm xúc cơ bản, một đối tượng thí nghiệm chọn lựa giữa hai hay ba bức ảnh – để xem bức nào phù hợp nhất với câu chuyện ngắn hoặc một đoạn văn mô tả mà họ được đọc, như “Mẹ cô ấy đã mất, và cô ấy cảm thấy rất buồn.”

Các đối tượng thí nghiệm ở khắp nơi trên thế giới (Đức, Pháp, ý, Anh, Scotland, Thụy Sĩ, Thụy Điển, Hy Lạp, Estonia, Argentina, Brazil, và Chile) đã chọn một từ ngữ hoặc gương mặt đúng với dự đoán với mức trung bình 85%. Trong các nền văn hóa không giống với Mỹ, như Nhật Bạn, Malaysia, Ethiopia, Trung Quốc, Sumatra, và Thổ Nhĩ Kỳ, các đối tượng thí nghiệm ít khi chọn các từ ngữ và gương mắt khớp với dự đoán hơn, với mức trung bình là 72%. Hàng trăm nghiên nghiên đã dùng những kết quả này để kết luận rằng biểu cảm trên gương mặt là có thể nhận biết một cách phổ quát và vì thế, nó được tạo ra một cách phổ quát, ngay cả với những người ở các nền văn hóa xa xôi, nơi có rất ít liên hệ với văn minh phương Tây. Trong nhiều thập kỷ, những kết quả về “sự nhận biết” cảm xúc này càng được lặp đi lặp lại nhiều lần đến mức cuối cùng, những cảm xúc phổ quát dường như đã trở thành một trong số những sự thật khoa học hiếm hoi không thể phản bác* (nguyên văn: bulletproof: chống đạn), giống như định luật vạn vật hấp dẫn.

Vấn đề là, các định luật phổ quát này thường có một xu hướng rất gây khó chịu: chúng thường đánh mất tính phổ quát của chúng. Định luật vạn vật hấp dẫn của Newton chỉ phổ quát cho đến khi thuyết tương đối chỉ ra rằng nó không hề phổ quát.

Hãy nhìn xem điều gì sẽ xảy ra khi chúng ta thay đổi phương pháp cảm xúc cơ bản một chút: chỉ cần bỏ đi danh sách các từ ngữ chỉ cảm xúc. Các đối tượng thí nghiệm giờ đây có thể tự do đặt tên cho những bức ảnh giống nhau, họ có thể dùng hàng tá (hay thậm chí là hàng trăm) những từ ngữ chỉ cảm xúc mà họ biết, như trong hình 3-3, thay vì chọn một câu trả lời có sẵn từ danh sách, như trong hình 3-2. Khi chúng tôi làm điều này, mức độ thành công (trong việc “nhận biết cảm xúc”) của các đối tượng thí nghiệm giảm hẳn đi. Một trong những thí nghiệm đầu tiên mà chúng tôi tiến hành - trong đó đối tượng thí nghiệm được tự do đặt tên cảm xúc, chỉ có 58% số lần họ đã đặt tên cho các gương mặt với từ ngữ chỉ cảm xúc đúng theo dự đoán, và trong những thí nghiệm sau đó, kết quả này còn thấp hơn. Thực tế, nếu bạn hỏi một câu hỏi trung lập hơn mà không nói về cảm xúc – “Từ ngữ nào sẽ mô tả đúng nhất về chuyện đang xảy ra với người này?” – thì kết quả sẽ còn kém hơn.



Tại sao chỉ một thay đổi nhỏ như vậy lại có thể tạo ra một khác biệt lớn đến thế? Bởi vì danh sách các từ ngữ chỉ cảm xúc ngắn gọn trong phương pháp cảm xúc cơ bản – một kỹ thuật được gọi là lựa chọn bắt buộc – là một bảng gian lận không chủ ý cho các đối tượng thí nghiệm. Những từ ngữ không chỉ giới hạn các lựa chọn khả dĩ, mà còn thúc giục đối tượng mô phỏng các cấu hình khuôn mặt (trong đầu họ) cho các khái niệm cảm xúc tương ứng, nó khiến họ chuẩn bị tình thần để nhìn thấy một số cảm xúc nhất định chứ không phải cảm xúc khác. Quá trình này được gọi là cò mồi. Lần đầu tiên bạn nhìn thấy gương mặt của Serena William, tôi đã mồi cho bạn theo cách tương tự - bằng cách nói với bạn rằng người phụ nữ này đang “la hét trong hoảng loạn”. Sự mô phỏng của bạn ảnh hưởng đến cách bạn đã phân loại thông tin cảm giác đầu vào từ gương mặt của cô ấy để nhìn thấy một biểu cảm có ý nghĩa. Tương tự, các đối tượng thí nghiệm khi nhìn thấy danh sách các từ ngữ chỉ cảm xúc sẽ bị mồi (nghĩa là, họ mô phỏng) các khái niệm cảm xúc tương ứng để phân loại gương mặt trong bức ảnh mà họ thấy. Kiến thức của bạn về các khái niệm chính là nguyên liệu cốt yếu để trải nghiệm cảm xúc của người khác, và những từ ngữ chỉ cảm xúc khơi gợi lên các nguyên liệu này. Và chúng có thể đóng vai trò rất lớn trong việc tạo ra một thứ giống như nhận thức cảm xúc phổ quát trong hàng trăm các nghiên cứu dùng phương pháp cảm xúc cơ bản.

Việc đối tượng thí nghiệm tự do đặt tên đã làm giảm các nguyên liệu của hiểu biết khái niệm này, nhưng chỉ ở một mức độ nào đó thôi. Trong phòng nghiên cứu của tôi, chúng tôi đã đi xa hơn bằng cách xóa bỏ hết các từ ngữ chỉ cảm xúc, dù là in ra hay nói đến. Nếu lý thuyết kiến tạo cảm xúc là đúng, thì sự thay đổi này sẽ làm giảm nhận thức cảm xúc nhiều hơn nữa. Trong mỗi phiên thí nghiệm, chúng tôi cho đối tượng xem hai bức ảnh không chữ kế bên nhau (hình 3-4), và hỏi hỏ “LIệu hai người này đang có những cảm xúc như nhau hay không?” Câu trả lời dự đoán của chúng tôi chỉ là “có” hoặc “không”. Kết quả của nhiệm vụ khớp mặt này là: các đối tượng trả lời trùng khớp với đáp án chỉ có 42%.



Tiếp theo, nhóm của chúng tôi còn giảm nhiều lượng nguyên liệu hơn nữa. Chúng tôi chủ động can thiệp vào việc các đối tượng tiếp cận với các khái niệm cảm xúc của riêng họ, thông qua một kỹ thuật thí nghiệm đơn giản. Chúng tôi yêu cầu họ lặp đi lặp lại từ ngữ chỉ cảm xúc như “giận dữ” (anger). Cuối cùng, từ ngữ này chỉ còn là một âm thanh đối với đối tượng (“giận-dữ”, ang-gurr), trong lý trí của họ, nó đã hoàn toàn tách khỏi ý nghĩa của nó. Kỹ thuật này cũng có hiệu quả tương tự như việc tạo ra một tổn thương não bộ tạm thời, nhưng nó hoàn toàn an toàn và nó chỉ kéo dài trong ít hơn một giây. Sau đó chúng tôi lập tức cho đối tượng xem hình ảnh hai gương mặt không chữ kế bên nhau, như thí nghiệm trước. Kết quả giảm chỉ còn 36%: gần 2 phần 3 số đối tượng trả lời không chính xác cho câu hỏi có/không này.

Chúng tôi cũng kiểm tra các đối tượng bị tổn thương não vĩnh viễn, những người mắc một chứng bệnh thoái hóa thần kinh gọi là chứng mất trí nhớ ngữ nghĩa. Những bệnh nhân này gặp vấn đề trong việc ghi nhớ các từ ngữ và các khái niệm, bao gồm những thứ chỉ cảm xúc. Chúng tôi đưa cho họ 36 bức ảnh: 6 diễn viên, mỗi người chụp 6 kiểu cấu hình khuôn mặt cảm xúc cơ bản khác nhau (mỉm cười để mô tả niềm vui, bĩu môi để mô tả nỗi buồn, cau có để mô tả sự giận dữ, nín thở mở to mắt để mô tả sự sợ hãi, nhăn mũi mô tả sự ghê tởm, và trung lập.) Các bệnh nhân sẽ phân loại các bức ảnh nào thành các chồng theo bất kỳ cách nào mà họ thấy có ý nghĩa. Họ đã không thể nhóm tất cả các gương mặt cau có vào nhóm giận dữ, hay tất cả các gương mặt bĩu môi vào nhóm buồn bã, v.v. Thay vào đó, các bệnh nhân chỉ nhóm được các bức ảnh chỉ cảm giác tích cực, tiêu cực và trung lập – một sự sắp xếp chỉ phản ánh được cảm giác vui vẻ và cảm giác không vui vẻ. Bây giờ, chúng ta đã có một bằng chứng vững chắc rằng các khái niệm cảm xúc là cần thiết trong việc nhìn thấy cảm xúc trên các gương mặt.

Những phát hiện của chúng ta được củng cố thêm nhờ nghiên cứu trên trẻ nhỏ và trẻ sơ sinh – chúng chưa hình thành các khái niệm cảm xúc. Một loạt các thí nghiệm từ các nhà tâm lý học James A.Russell và Sherri C.Widen đã chỉ ra rằng, khi họ cho trẻ từ 2 đến 3 tuổi xem những cấu hình gương mặt của các cảm xúc cơ bản, trẻ không thể đặt tên cho những cảm xúc một cách tự do cho đến khi trẻ sở hữu được các khái niệm khác nhau như “giận dữ”, “buồn bã”, “sợ hãi”, v.v. Những trẻ nhỏ này dùng những từ như “buồn”, “giận”, và “sợ” thay thế cho nhau, giống như những người lớn thể hiện khả năng nhận định chi tiết cảm xúc thấp (low emotional granularity). Đây không phải vấn đề đến từ việc trẻ có vốn từ ngữ chỉ cảm xúc còn ít ỏi, thậm chí khi những đứa trẻ này học được ý nghĩa của từ ngữ, chúng vẫn gặp khó khăn trong việc nhóm chung hai gương mặt đang bĩu môi, trong khi chúng dễ dàng khớp một gương mặt bĩu môi với từ “buồn”. Kết quả đến từ nghiên cứu trẻ sơ sinh cũng tương tự. Ví dụ như, các trẻ sơ sinh từ 4 đến 8 tháng tuổi, có thể phân biệt khuôn mặt đang cười với khuôn mặt đang cau có. Tuy nhiên, khả năng này hóa ra không hề liên quan đến riêng cảm xúc. Trong những thí nghiệm này, gương mặt chỉ sự vui vẻ thì để lộ răng, còn gương mặt chỉ sự cau có thì không, và đó là chi tiết mà trẻ sơ sinh dùng để chọn lựa.

Từ loạt thí nghiệm này – xóa bỏ danh sách các từ ngữ cảm xúc, sau đó dùng các hình ảnh không từ ngữ, tiếp theo là tạm thời làm tê liệt các khái niệm cảm xúc, rồi thí nghiệm trên các bệnh nhân bị tổn thương não bộ - những người không còn có thể xử lý các khái niệm cảm xúc, và cuối cùng là thí nghiệm trên trẻ sơ sinh – những người chưa sở hữu rõ ràng các khái niệm cảm xúc – chúng ta đã có được bức tranh tổng quan. Càng cách xa các khái niệm cảm xúc, người ta càng không thể nhận biệt các cảm xúc được biểu hiện trong các hình chụp khuôn mẫu. Quá trình này là bằng chứng mạnh mẽ cho thấy mọi người chỉ nhìn thấy một cảm xúc trên khuôn mặt nếu họ sở hữu khái niệm cảm xúc tương ứng, bởi vì họ cần có loại kiến thức đó để kiến tạo nên các nhận thức vào thời điểm đó.

Để thực sự hiểu được quyền năng của các khái niệm cảm xúc, phòng thí nghiệm của tôi đã đến thăm một nền văn hóa xa xôi ở châu Phi, nơi có rất ít hoặc có thể nói là gần như không có kiến thức gì liên quan đến các quy tắc và lối hành xử phương Tây. Với bước tiến thần tốc của việc toàn cầu hóa, có rất ít các nền văn hóa biệt lập như vậy còn tồn tại. Nghiên cứu sinh tiến sĩ của tôi, Maria Gendron, đã đến Namibia, Châu Phi, để nghiên cứu nhận thức cảm xúc trong một bộ tộc được gọi là người Himba, cùng với nhà tâm lý học nhận thức Debi Roberson. Đến thăm bộ lạc Himba không phải là một nhiệm vụ đơn giản. Maria và Debi đã bay đến Nam Phi, sau đó, họ lái xe hơn 12 giờ đồng hồ đến nơi cắm trại của họ ở Opuwo, phía bắc Namibia. Từ đó, Debi, Maria, và phiên dịch viên của họ đi thêm nhiều giờ nữa để đến với những ngôi làng đơn lẻ gần biên giới Angola, đi theo các đường mòn xuyên qua bụi rậm bằng một chiếc xe chạy trên mọi địa hình, sử dụng các ngọn núi và mặt trời làm điểm mốc. Vào ban đêm, họ ngủ trong một chiếc lều gắn trên đầu xe để tránh rắn và bọ cạp – ở đây chúng có rất nhiều. Tôi rất tiếc không thể tham gia cùng họ, vì vậy họ được trang bị điện thoại vệ tinh và máy phát điện để chúng tôi có thể nói chuyện bất cứ khi nào có tín hiệu.

Cuộc sống giữa những người Himba rõ ràng là không hề có chút tính chất phương Tây nào. Người dân sống chủ yếu ở ngoài trời và trong ngôi nhà chung làm từ cây non, bùn và phân. Những người đàn ông chăn gia súc cả ngày lẫn đêm, trong khi phụ nữ chuẩn bị thức ăn và chăm sóc trẻ em. Những đứa trẻ thường chăn dê gần khu nhà. Người Himba nói phương ngữ Otji-Herero, và họ không sử dụng ngôn ngữ viết.

Phản ứng của Himba đối với nhóm nghiên cứu là khá là bình thường. Bọn trẻ rất tò mò và sẽ lượn lờ xung quanh họ vào sáng sớm trước khi làm việc nhà. Một số phụ nữ ban đầu không chắc Maria có phải là phụ nữ hay không vì cô ấy mặc những bộ quần áo nam tính (theo quan điểm của họ), điều này khiến họ chỉ trỏ vào cô ấy và cười. Tuy nhiên, những người đàn ông thì nhận ra điều này, vì có một lúc, có một người đã cầu hôn cô ấy. Phiên dịch viên người Namibia của Maria đã giải quyết vấn đề này một cách đơn giản bằng cách giải thích một cách lịch sự, bằng tiếng Otji-Herero, rằng Maria “đã kết hôn với một người đàn ông khác – và người này có một khẩu súng rất lớn”.

Maria dùng các thí nghiệm phân loại gương mặt với hình chụp 36 khuôn mặt khác nhau. Nó hoàn toàn không phụ thuộc vào ngôn từ, chứ đừng nói đến những từ cảm xúc, vì vậy nó có thể vượt qua các rào cản ngôn ngữ và văn hóa. Chúng tôi đã tạo một bộ ảnh sử dụng các diễn viên da ngăm vì ảnh gốc của chúng tôi với các khuôn mặt phương Tây trông không giống người bộ tộc Himba. Các đối tượng thí nghiệm người Himba của chúng tôi ngay lập tức đã hiểu được nhiệm vụ, như chúng tôi đã trông đợi, và có thể chia nhóm các gương mặt dựa trên diễn viên một cách tự nhiên. Khi được yêu cầu phân nhóm các gương mặt trên cảm xúc, người Himba rõ ràng rất khác biệt so với những người phương Tây. Họ đặt những gương mặt mỉm cười vào một chồng, những gương mặt với đôi mắt mở to và một chồng thứ hai, nhưng sau đó lại chia ra nhiều chồng khác nhau với những gương mặt còn lại. Nếu nhận thức cảm xúc là phổ quát, thì những đối tượng thí nghiệm người Himba này nên phân chia các bức ảnh thành sáu nhóm. Khi chúng tôi yêu cầu những đối tượng thí nghiệm người Himba này đặt tên cho các nhóm hình, những bức ảnh có gương mặt đang cười không phải là “vui vẻ” (ohange), mà là “cười” (ondjora). Những bức ảnh với đôi mắt mở to không phải là “sợ hãi” (okutira), mà là “nhìn” (tarera). Nói cách khác, những đối tượng người Himba này phân loại các chuyển động gương mặt như những hành vi hơn là như những trạng thái thần kinh hay cảm xúc. Nói chung, các đối tượng người Himba không chỉ ra bằng chứng nào cho tính phổ quát của nhận thức cảm xúc. Và vì chúng tôi đã bỏ qua tất cả các tham chiếu đến các khái niệm cảm xúc tiếng Anh trong các thí nghiệm của mình, nên chúng ta có thể nghi ngờ rằng chính những khái niệm chính là lý do tại sao phương pháp cảm xúc cơ bản có vẻ như đã tìm ra bằng chứng về tính phổ quát (của nhận thức cảm xúc).



Tuy nhiên, vẫn còn sót là một bí ẩn: một nhóm các nhà nghiên cứu khác, được dẫn đầu bởi nhà tâm lý học Disa A.Sauter, đã đến thăm những người Himba vài năm trước đó và báo cáo họ đã tìm thấy bằng chứng về tính phổ quát của “nhận biết” cảm xúc. Sauter và đồng nghiệp của cô ấy đã mang phương pháp cảm xúc cơ bản đến Himba bằng các sử dụng các âm thanh (cười, càu nhàu, khịt mũi, thở dài, v.v.) thay vì ảnh chụp khuôn mặt được tạo dáng. Trong thí nghiệm này, họ đã cung cấp một câu chuyện cảm xúc ngắn (được dịch sang tiếng Otji-Herero) và yêu cầu những đối tượng người Himba này chọn ra một trong hai âm thanh được nghe, xem âm thanh nào phù hợp nhất với câu chuyện. Những người Himba đã thực hiện đủ tốt để Sauter và các đồng nghiệp của cô ấy kết luận rằng nhận thức cảm xúc có tính phổ quát. Chúng ta khổng thể lặp lại các thí nghiệm này với một nhóm những người Himba khác, thậm chí là sử dụng những phương pháp đã được công bố và dùng chung người phiên dịch với nhóm của Sauter. Maria cũng yêu cầu một nhóm các đối tượng người Himba tự do đặt tên cho các âm thanh giọng nói, mà không liên kết với các câu chuyện, và một lần nữa, chỉ có mỗi tiếng cười được phân loại như dự đoán (mặc dù họ đặt tên cho chúng là “cười” thay vì “vui vẻ”). Vậy thì tại sao Sauter và nhóm của cô ấy đã nhận thấy tính phổ quát, còn chúng tôi thì không?

Cuối năm 2014, Sauter và các đồng nghiệp của cô đã vô tình giải được bí ẩn. Họ tiết lộ rằng thí nghiệm của họ có thêm một bước bổ sung không được trình bày trong báo cáo lần đầu của họ: một bước giàu kiến thức khái niệm. Sau khi những đối tượng người Himba nghe một câu chuyện cảm xúc, trước khi họ nghe bất kỳ cặp âm thanh nào, họ được yêu cầu hãy mô tả cảm xúc của nhân vật chính trong câu chuyện mà họ đã nghe. Để giúp họ trong nhiệm vụ này, Sauter và các đồng nghiệp “cho phép những người tham gia nghe một câu chuyện đã ghi sẵn nhiều lần (nếu cần), cho đến khi họ có thể hiểu được cảm xúc như dự định trước bằng ngôn ngữ của họ.” Bất cứ khi nào những đối tượng người Himba này mô tả một điều gì đó khác với khái niệm cảm xúc trong tiếng Anh, họ nhận được phản hồi tiêu cực (từ các nhà nghiên cứu) và được yêu cầu thử lại. Những đối tượng thí nghiệm không thể tạo ra các mô tả như dự đoán đã không đạt chuẩn trong thí nghiệm. Kết quả là, những người Himba không được phép nghe bất kỳ âm thanh nào, chứ đừng nói tới việc chọn xem các nào khớp với câu chuyện, cho đến khi họ học được các khái niệm cảm xúc liên quan trong tiếng Anh. Khi chúng tôi thử lặp lại thí nghiệm của Sauter và đồng nghiệp, chúng tôi chỉ sử dụng các phương pháp trong báo cáo đã xuất bản của họ, mà không dùng tới bước thí nghiệm thêm vào mà không có trong báo cáo này, vì thế những đối tượng Himba của chúng tôi không có cơ hội để học các khái niệm cảm xúc tiếng Anh trước khi lắng nghe các giọng nói.

Chỉ có duy nhất một khác biệt giữa phương pháp thí nghiệm của chúng tôi và phương pháp mà Sauter và các đồng nghiệp của cô đã sử dụng. Khi một đối tượng người Himba phải mô tả khái niệm cảm xúc một cách khiến các nhà nghiên cứu hài lòng – ví dụ như “nỗi buồn” – nhóm của Sauter cho phát một cặp hai âm thanh, như tiếng khóc và tiếng cười, và đối tượng thí nghiệm đã chọn giọng phù hợp hơn cho nỗi buồn. Những đối tượng này sau đó được nghe nhiều cặp âm thanh khác, mỗi cặp đều chứa một tiếng khóc: có thể là một tiếng khóc và một tiếng thở dài, hoặc một tiếng khóc và một tiếng hét, v.v. Trong mỗi cặp, đối tượng chọn âm thanh phù hợp hơn cho nỗi buồn. Nếu những đối tượng người Himba không tự tin trong việc kết nối giữa tiếng khóc và nỗi buồn ở giai đoạn đầu của thí nghiệm, thì ở phần cuối của thí nghiệm, họ đã hoàn toàn chắc chắn. Các thí nghiệm của chúng tôi đã tránh vấn đề này. Trong mỗi lần thí nghiệm, Maria sẽ đọc một câu chuyện (thông qua phiên dịch viên), sau đó trình bày một cặp âm thanh, và sau đó yêu cầu đối tượng chọn âm thanh phù hợp hơn. Các phiên thí nghiệm được sắp xếp ngẫu nhiên (ví dụ, thí nghiệm nỗi buồn, sau đó là thí nghiệm sự giận dữ, sau đó là thí nghiệm niềm vui, v.v.), đây là một phương pháp chuẩn để tránh việc học hỏi trong loại thí nghiệm này. Chúng tôi không nhìn thấy bất kỳ bằng chứng nào cho tính phổ quát.

Có duy nhất một danh mục cảm xúc mà người ta có thể nhận thức được mà không bị ảnh hưởng bởi các khái niệm cảm xúc: niềm vui. Cho dù là sử dụng bất kỳ phương pháp thí nghiệm nào, trong rất nhiều các nền văn hóa, mọi người đều đồng ý rằng các gương mặt mỉm cười hoặc giọng cười lớn thể hiện niềm vui. Vì thế, “niềm vui” có lẽ là thứ gần nhất với danh mục cảm xúc phổ quát với một biểu hiện phổ quát mà chúng ta có. Hoặc cũng có thể là không. Vì một điều rằng, trong phương pháp cảm xúc cơ bản, “niềm vui” thường là cảm xúc tích cực duy nhất dùng trong thí nghiệm, vì thế, việc đối tượng thí nghiệm có thể phân biệt nó với những danh mục tiêu cực còn lại là điều hoàn toàn bình thường. Và hãy xem xét sự thật thú vị này: ghi chép lịch sử ngụ ý rằng người Hy Lạp và La Mã cổ đại không mỉm cười một cách tự nhiên khi họ hạnh phúc. Từ "nụ cười" thậm chí không tồn tại trong tiếng Latinh hoặc tiếng Hy Lạp cổ đại. Mỉm cười là một phát minh của thời Trung cổ, và nụ cười có răng thưa (với nếp nhăn ở mắt, được Ekman đặt tên là nụ cười Duchenne) chỉ trở nên phổ biến vào thế kỷ thứ mười tám khi nha khoa trở nên dễ tiếp cận hơn và giá cả phải chăng. Học giả kinh điển Mary Beard tóm tắt việc này như sau:

Điều này không có nghĩa là người La Mã không bao giờ cong mép môi của họ theo hình dạng mà đối với chúng ta giống như một nụ cười; tất nhiên họ có làm như thế. Nhưng việc cong mép môi này không có nhiều ý nghĩa trong phạm vi các cử chỉ văn hóa và xã hội quan trọng ở Rome. Ngược lại, những cử chỉ khác, vốn có ít ý nghĩa với chúng ta, nhưng đối với họ lại có ý nghĩa hơn nhiều.

Có lẽ ở một thời điểm nào trong vài trăm năm trước, mỉm cười đã trở nên phổ quát, và trở thành một cử chỉ khuôn mẫu cho niềm ui. Hoặc … có lẽ đơn giản là mỉm cười khi vui vẻ không có tính phổ quát.

Các khái niệm cảm xúc là loại nguyên liệu bí mật đứng sau thành công của phương pháp cảm xúc cơ bản. Những khái niệm này đã khiến các cấu hình gương mặt nhất định có thể được nhận biết một cách phổ quát, trong khi thực tế là chúng không hề phổ quát. Thay vào đó, chúng ta đều kiến tạo các nhận thức về cảm xúc của nhau. Chúng ta nhận thức được rằng ai đó đang vui vẻ, buồn bã, hay tức giận thông qua việc áp dụng các khái niệm cảm xúc của chính chúng ta vào các chuyển động trên gương mặt và cơ thể của họ. Tương tự, chúng ta đã áp dụng các khái niệm cảm xúc cho các giọng nói và kiến tạo các trải nghiệm nghe những âm thanh chỉ cảm xúc. Chúng ta mô phỏng nhanh tới mức chúng ta không thể nhận ra hoạt động của các khái niệm cảm xúc này, và chúng ta cảm giác như thể chính các cảm xúc đang tỏa từ gương mặt, giọng nói, và những phần cơ thể khác, và chúng ta chỉ đơn giản là phát hiện ra chúng mà thôi.

Ở điểm này, bạn có thể đặt ra một câu hỏi hoàn toàn hợp lý rằng: làm sao mà tôi và các đồng nghiệp có đủ can đảm dám dùng các thí nghiệm ít ỏi của mình để phủ nhận hàng trăm thí nghiệm khác – những thí nghiệm đã chứng minh rằng cảm xúc có thể nhận biết một cách phổ quát thông qua biểu cảm? Ví dụ như, nhà tâm lý học Dacher Keltner đã dự đoán rằng “có vô số các điểm dữ liệu khớp với thí nghiệm của Ekman”.

Câu trả lời là, vô số thí nghiệm này dùng phương pháp cảm xúc cơ bản, mà bạn vừa thấy được rằng phương pháp này dùng đến một kho ẩn chứa các khái niệm cảm xúc. Nếu con người thực sự được sinh ra với khả năng nhận biết biểu cảm cảm xúc, thì việc xóa bỏ các từ ngữ chỉ cảm xúc từ phương pháp sẽ không gây ảnh hưởng gì… nhưng rõ ràng nó tạo ra ảnh hưởng trong mỗi một lần thí nghiệm. Chúng ta không nghi ngờ gì nữa, rằng các từ ngữ chỉ cảm xúc có sức ảnh hưởng lớn trong các thí nghiệm, và điều này ngay lập tức khiến chúng ta nghi ngờ về kết luận của mọi nghiên cứu sử dụng phương pháp cảm xúc cơ bản đã từng được thực hiện.

phòng thí nghiệm của tôi đã thực hiện hai chuyến thám hiểm đến Namibia và một đến Tanzania (thăm một nhóm săn bắn hái lượm có tên Hadza), và đều tạo ra kết quả nhất quán. Nhà tâm lý học xã hội José-Miguel Fernández-Dols cũng đã nhân rộng kết quả của chúng tôi trong một nền văn hóa biệt lập trên quần đảo Trobriand ở New Guinea. Vì vậy, hiện nay khoa học đã có một cách giải thích hợp lý, thay thế cho những “vô số các điểm dữ liệu”. Phương pháp cảm xúc cơ bản đã hướng dẫn mọi người kiến tạo nhận thức cảm xúc kiểu phương Tây. Có nghĩa là, nhận thức cảm xúc không phải là bẩm sinh mà được kiến tạo.

Nếu bạn nhìn kỹ vào các thí nghiệm xuyên văn hóa từ năm 1960, bạn có thể tìm thấy bằng chứng về việc các yếu tố khái niệm trong phương pháp cảm xúc cơ bản đã đẩy kết quả đi về hướng xuất hiện sự phổ quát. Trong bảy mẫu thí nghiệm, mà trong đó các đối tượng thí nghiệm thuộc về các nền văn hóa xa xôi, có bốn mẫu dùng phương pháp cảm xúc cơ bản đã tạo ra bằng chứng mạnh mẽ về tính phổ quát, nhưng ba thí nghiệm còn lại dùng cách tự do đặt tên thì không cho thấy bất kỳ bằng chứng nào về tính phổ quát này. Ba mẫu thí nghiệm cho kết quả ngược lại này không được xuất bản trong các tạp chí chuyên ngành, họ chỉ xuất bản trong các chương sách – một loại hình xuất bản ít nổi bật hơn trong giới học thuật – và ít khi được nhắc đến. Kết quả là, bốn mẫu hỗ trợ tính phổ quát được ca ngợi là một bước đột phá lớn trong nghiên cứu về bản chất cơ bản của con người chúng ta và tạo tiền đề cho hàng loạt những nghiên cứu tương tự kế tiếp (*nguyên văn: avalanche: hiệu ứng tuyết lở). Hàng trăm các nghiên cứu tiếp theo sử dụng phương pháp cảm xúc cơ bản như một lựa chọn bắt buộc, được thực hiện phần lớn ở các nền văn hóa đã tiếp xúc với các chuẩn mực văn hóa phương Tây, và thông qua việc này, họ đã xóa bỏ điều kiện then chốt để kiểm nghiệm tính phổ quát ra khỏi thí nghiệm, và họ vẫn cứ khẳng định sự tồn tại của tính phổ quát. Điều này giải thích tại sao ngày nay, về cơ bản, công chúng và nhiều nhà khoa học hiểu sai cái gọi là “biểu hiện cảm xúc” và “nhận biết cảm xúc” theo quan điểm khoa học.

Nếu có ai đó đã rút ra những kết luận khác từ các nghiên cứu ban đầu này, thì khoa học về cảm xúc hiện nay sẽ như thế nào? Hãy xem xét lời kể của Ekman trong chuyến viếng thăm đầu tiên của ông đến bộ lạc người Fore ở New Guinea:

Tôi yêu cầu họ tạo ra các câu chuyện về mội một biểu cảm trên gương mặt (hình chụp). “Hãy kể cho tôi nghe chuyện gì đang xảy ra, chuyện gì đã xảy ra trước đó mà có thể khiến cho người này tạo ra biểu cảm như thế này, và chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo.” Có vẻ quá khó. Tôi không chắc liệu đó là do quá trình chuyển ngữ, hay do họ không hiểu tôi đang muốn nghe cái gì hay tại sao tôi lại muốn họ làm như thế. Có thể, việc tạo ra các câu chuyện về những người lạ là điều mà người Fore chưa bao giờ làm.

Ekman có thể đã đúng, nhưng cũng có thể là người Fore không hiểu hay không chấp nhận khái niêm về “biểu cảm” trên gương mặt - thứ ngụ ý rằng có một cảm xúc nội tại đang tìm cách thoát ra ngoài thông qua các chuyển động trên mặt. Không phải nền văn hóa nào cũng hiểu các cảm xúc như một trạng thái tâm trí nội tại. Ví dụ như, người Hadza và người Himba, đối với họ, các khái niệm về cảm xúc có vẻ như thiên về hành động hơn (cười thay vì “vui vẻ”). Điều này cũng đúng đối với một số khái niệm về cảm xúc ở Nhật Bản. Người Ifaluk ở Micronesia xem cảm xúc như những tương tác giữa người với người. Đối với họ, giận dữ không phải là cảm xúc thù hằn, một sự cau có, một nắm đấm, hay một giọng hét lớn tiếng, không xảy ra trong nội tại một người, mà là một tình huống trong đó hai người tương tác với nhau – như một điệu nhảy – xung quanh một mục tiêu chung. Trong quan điểm của người Ifaluk, giận dữ không “sống” bên trong người nào cả.

Khi bạn nhìn vào sự phát triển và lịch sử của phương pháp cảm xúc cơ bản, có một lượng đáng ngạc nhiên các chỉ trích từ góc nhìn khoa học. Hơn hai mươi năm trước, nhà tâm lý học James A. Russell, đã liệt kê nhiều mối quan ngại. Và hãy nhớ rằng “sáu biểu cảm cơ bản trên khuôn mặt” không phải là một khám phá khoa học; các kiến trúc sư phương Tây của phương pháp cảm xúc cơ bản đã quy định chúng, các diễn viên tạo ra chúng để chụp hình, và một nền khoa học được xây dựng xung quanh chúng. Những bức ảnh chụp các gương mặt cụ thể này vốn không được công nhận bất kỳ giá trị hiệu lực nào, và các nghiên cứu sử dụng những phương pháp khách quan hơn như EMG gương mặt và lập trình gương mặt thì không tìm thấy bất kỳ bằng chứng nào cho việc mọi người có thói quen tạo ra những chuyển động này khi họ có những cảm xúc tương ứng trong đời sống thực của họ. Tuy vậy, các nhà khoa học vẫn tiếp tục sử dụng phương pháp cảm xúc cơ bản này. Nói cho cùng, nó tạo ra những kết quả rất nhất quán.

Mỗi khi một nhà “sự thật” khoa học bị lật ngược, nó sẽ tạo ra nhiều con đường cho các khám phá mới. Nhà vật lý học Albert Michelson đã thắng một giải Nobel năm 2907 vì ông đã bác bỏ giả thuyết của Aristotle, rằng ánh sáng truyền qua không gian trống thông qua một chất giả thuyết gọi là ête ánh sáng. Khám phá của ông đã tạo tiền đề cho thuyết tương đối của Albert Einstein. Còn trong trường hợp này, chúng tôi nghi ngờ đáng kể về các bằng chứng cho tính phổ quát của cảm xúc. Chúng chỉ trông có vẻ mang tính phổ quát dưới những điều kiện nhất định – khi bạn đưa cho ai đó một chút thông tin về các khái niệm cảm xúc của phương Tây, dù cố ý hay không. Những quan sát này, và những thứ tương tự, đã tạo ra tiền đề cho một lý thuyết mới về cảm xúc mà bạn sắp được biết. Vì thế, Tomkins, Ekman, và đồng nghiệp của họ, thực sự đã đóng góp vào một khám phá lớn. Nó không chỉ là phát hiện ra thứ mà họ đã dự đoán.

Những nghiên cứu xuyên văn hóa ứng dụng phương pháp cảm xúc cơ bản đã tạo ra một thứ thú vị khác: việc truyền dạy các khái niệm cảm xúc xuyên qua các biên giới văn hóa có vẻ khá dễ dàng, ngay cả khi chúng ta không cố ý làm điều đó. Sự hiểu biết chung trên toàn thế giới như vậy sẽ vô cùng có lợi. Nếu người anh cùng cha khác mẹ của Saddam Hussein hiểu được khái niệm cảm xúc “tức giận” của người Mỹ, thì ông đã có thể nhận ra sự tức giận ở Ngoại trưởng James Baker, điều này vốn đã có thể đã giúp ngăn chặn Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất với Hoa Kỳ, cứu sống hàng nghìn người.

Do chúng ta có thể vô tình truyền đạt các khái niệm cảm xúc một cách quá dễ dàng, việc sử dụng các khuôn mẫu về cảm xúc của phương Tây trong nghiên cứu văn hóa cũng tồn tại một mối nguy hiểm. Ví dụ như, một sê-ri các nghiên cứu đang diễn ra, được gọi là Dự án Biểu hiện Phổ quát, trong đó, họ cố gắng ghi lại các biểu hiện cảm xúc mang tính phổ quát trên khuôn mặt, cơ thể và giọng nói. Cho đến nay, họ đã xác nhận được “khoảng 30 biểu cảm gương mặt và 20 biểu cảm trong giọng nói rất giống nhau trên toàn thế giới”. Vấn đề là dự này án chỉ sử dụng mỗi phương pháp cảm xúc cơ bản, vì thế, nó đang nghiên cứu về tính phổ quát bằng thứ công cụ không cung cấp bằng chứng cho tính phổ quát. (Tương tự, họ yêu cầu người ta diễn tả thứ mà người ta tin rằng đó là biểu cảm văn hóa, điều này không giống với việc quan sát các chuyển động cơ thể thực sự của người ta trong các cảm xúc). Quan trọng hơn, nếu dự án này đạt được mục tiêu của nó, mọi người trên khắp thế giới có thể học được khuôn mẫu cảm xúc của phương Tây.

Về lâu về dài, những nhà khoa học vẫn còn đang áp dụng phương pháp cảm xúc cơ bản rất có thể sẽ tạo ra chính thứ phổ quát mà họ tin rằng họ đang khám phá ra.

Nói về nước chúng ta, nếu ai cũng tin rằng chỉ thông qua gương mặt thì đã có thể biểu lộ cảm xúc, thì điều đó có thể dẫn đến những sai lầm nghiêm trọng với hậu quả gây tổn thất lớn. Trong một trường hợp, loại niềm tin này đã thay đổi tiến trình của một cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ. Năm 2003-2004, Thống đốc Howard Dean của Vermont đang tìm kiếm sự đề cử của đảng Dân chủ cho chức tổng thống Hoa Kỳ, một vinh dự cuối cùng đã thuộc về Thượng nghị sĩ John Kerry của Massachusetts. Các cử tri đã chứng kiến rất nhiều chiến dịch vận động tiêu cực trong mùa bầu cử đó, và một trong những ví dụ gây hiểu lầm nhất là một đoạn video của Dean được quay trong một bài phát biểu. Trong một đoạn video được lan truyền mạnh mẽ, chỉ hiển thị mỗi khuôn mặt của Dean, không có ngữ cảnh và trông ông ấy rất tức giận. Nhưng nếu bạn thực sự xem toàn bộ video theo ngữ cảnh của nó, rõ ràng Dean không hề tức giận mà còn rất phấn khích, ông đã đốt cháy cả đám đông bằng sự nhiệt tình của mình. Hình ảnh này (gương mặt tức giận) được phát trên các bản tin, lan truyền rộng rãi, và cuối cùng, Dean đã từ bỏ cuộc đua. Chúng ta chỉ có thể tự hỏi điều gì có thể đã xảy ra nếu người xem có thể hiểu được cảm xúc được tạo ra như thế nào khi họ nhìn thấy những hình ảnh gây hiểu lầm đó.

Khi được dẫn dắt bởi phương pháp tiếp cận của một nhà kiến tạo, các nhà khoa học liên tục tái tạo lại các kết quả nghiên cứu mà phòng thí nghiệm của tôi đã tìm ra từ các nền văn hóa khác (dữ liệu từ Trung Quốc, Đông Phi, Melanesia, và những vùng khác rất hứa hẹn trong thời gian tới.) Khi họ làm vậy, chúng ta đang thúc đẩy sự chuyển đổi mô hình sang một cách hiểu mới về cảm xúc, vượt ra ngoài các khuôn mẫu của phương Tây. Chúng ta có thể bỏ qua những câu hỏi như "Bạn có thể nhận ra nỗi sợ hãi chính xác đến mức nào?" và thay vào đó hãy nghiên cứu sự đa dạng của các chuyển động trên khuôn mặt mà mọi người thực sự tạo ra khi người ta sợ hãi. Chúng ta cũng có thể cố gắng hiểu tại sao ban đầu, mọi người giữ định kiến về cấu hình khuôn mặt, và giá trị của chúng có thể là gì.

Phương pháp cảm xúc cơ bản đã định hình một lĩnh vực khoa học và gây ảnh hưởng đến sự hiểu biết của công chúng về các cảm xúc. Hàng nghìn các nghiên cứu khoa học đã tuyên bố rằng các cảm xúc là phổ quát. Những cuốn sách nổi tiếng, các bài báo, các chương trình phát thanh và truyền hình thường xuyên giả định rằng mọi người đều tạo ra các cấu hình gương mặt giống nhau và nhận biết các cấu hình gương mặt này như những cách thể hiện cảm xúc. Các trò chơi và những cuốn sách đã dạy cho trẻ mẫu giáo những biểu hiện được cho là phổ biến này. Các chiến lược đàm phán kinh doanh và chính trị quốc tế cũng dựa trên giả định này. Các nhà tâm lý học đánh giá và điều trị sự thiếu hụt cảm xúc ở những người bị bệnh tâm thần cũng thông qua các phương pháp này. Nền kinh tế ngày càng phát triển của các công cụ và ứng dụng đọc-cảm-xúc, cứ như thể các cảm xúc có thể được đọc từ gương mặt hay từ các khuôn mẫu thay đổi trên cơ thể mà không cần đến bối cảnh, dễ dàng như đọc các con chữ trên một trang giấy. Và thời gian, công sức và tiền bạc dành cho những nỗ lực này thật đáng kinh ngạc. Nhưng nếu cái gọi là sự thật về tính phổ quát của cảm xúc không phải là “sự thật”, thì chuyện gì sẽ xảy ra?

Điều gì sẽ xảy ra nếu đó là bằng chứng cho một thứ hoàn toàn khác. . . cụ thể là, bằng chứng cho khả năng sử dụng các khái niệm để hình thành nhận thức? Đây là mấu chốt của lý thuyết kiến tạo cảm xúc: đó là một lời giải thích khác biệt và đầy đủ để lý giải cho bí ẩn về cảm xúc con người mà không dựa trên dấu vân tay cảm xúc phổ quát. Bốn chương tiếp theo sẽ đi sâu vào các chi tiết của lý thuyết này và các bằng chứng khoa học hỗ trợ nó.


0 nhận xét:

Đăng nhận xét