Chủ Nhật, 29 tháng 1, 2023

How Emotions Are Made - chương 2

Chương 2

CÁC CẢM XÚC ĐƯỢC KIẾN TẠO

T/N: *kiến tạo (construction) *mô phỏng (simulation) *khái niệm (concept): chúng ta hầu như không “phản xạ” (reflex) với môi trường ngoài, mà não bộ chúng ta “kiến tạo” lên các “mô phỏng” dựa vào các “khái niệm” mà chúng ta đã thu thập từ những trải nghiệm trong quá khứ. Khi chưa trải nghiệm, chúng ta không có “khái niệm”, do đó, não không “kiến tạo” được các “mô phỏng” > tình trạng “mù kinh nghiệm”.

Hãy nhìn vào những đốm đen trong hình 2-1.



 

Nếu đây là lần đầu tiên bạn nhìn thấy các đốm đen này, não cũng bạn sẽ hoạt động tích cực để cố mà hiểu được chúng. Các neuron trong vỏ não thị giác (visual cortex) của bạn đang tiến hành phân tích các đường và các góc. Hạch hạnh nhân của bạn đang kích hoạt mạnh mẽ bởi vì thông tin đầu vào này mới mẻ. Các vùng não khác đang sàng lọc những trải nghiệm trong quá khứ của bạn để xác định xem trước đây bạn có gặp phải bất cứ điều gì giống như thông tin đầu vào này hay không và đang đối thoại với cơ thể để chuẩn bị cho một hành động chưa được xác định. Rất có thể, bạn đang ở trong trạng thái được gọi là mù kinh nghiệm, chỉ nhìn thấy những đốm màu đen không rõ nguồn gốc.

Để chữa khỏi chứng mù kinh nghiệm của bạn, hãy xem hình ảnh ở trang 308 (phụ lục B). Sau đó quay lại trang này. Bạn sẽ không còn nhìn thấy những đốm màu không hình dạng nữa mà là một vật thể quen thuộc.

Chuyện gì vừa mới xảy ra trong não bộ đã khiến cho bạn thay đổi nhận thức về những đốm màu này? Bộ não của bạn đã thêm nội dung từ bức ảnh đầy đủ vào một loạt các trải nghiệm trước đây của nó và kiến tạo nên thứ quen thuộc mà bạn đang nhìn thấy từ các đốm màu. Các neuron trong vỏ não thị giác đã thay đổi cách kích hoạt để tạo ra các đường nét không tồn tại, liên kết các đốm màu thành một hình dạng vốn không tồn tại ở đó. Nói cách khác, bạn đang bị ảo giác. Không phải loại ảo giác đáng sợ “tôi nên đi khám”, mà là loại ảo giác thường ngày “bộ não của tôi được thiết lập để hoạt động theo cách này”.

Trải nghiệm của bạn với hình 2-1 đã tiết lộ một số thông tin quan trọng. Các trải nghiệm của bạn trong quá khứ, đến từ việc tiếp xúc trực tiếp, hay từ hình ảnh, phim ảnh và sách – đem đến ý nghĩa cho cảm giác hiện tại của bạn. Thêm vào đó, bạn không thể nhìn thấy được toàn bộ quá trình kiến tạo nên cảm giác này. Dù có cố đến mức nào, bạn vẫn không thể quan sát bản thân hoặc trải nghiệm việc bản thân đang kiến tạo lên các hình ảnh. Chúng ta cần một ví dụ được thiết kế đặc biệt để làm sáng tỏ sự thật rằng việc kiến tạo này đang diễn ra. Bạn đã trải nghiệm một cách có ý thức sự thay đổi từ chưa biết thành đã biết bởi vì bạn đã xem hình 2-1 trước và sau khi bạn có kiến thức liên quan đến nó để nhìn nhận nó. Quá trình kiến tạo này quá quen thuộc tới mức có thể bạn sẽ không bao giờ nhìn hình 2-1 như một bức ảnh không có hình dạng cụ thể, thậm chí là khi bạn thực sự cố gắng để đảo ngược quá trình nhìn đó và nắm bắt lại cảm giác mù kinh nghiệm.

Chiêu ảo thuật nhỏ này của bộ não rất phổ biến và bình thường tới nỗi các nhà tâm lý học đã khám phá ra nó hết lần này đến lần khác trước khi họ hiểu được nó hoạt động như thế nào. Chúng ta sẽ gọi nó là mô phỏng. Nghĩa là não của bạn thay đổi cách kích hoạt neuron cảm giác của chính nó mà không cần đến sự tham gia dữ liệu cảm giác. Mô phỏng có thể liên quan đến thị giác, như với bức ảnh của chúng ta, hoặc liên quan đến các giác quan khác. Bạn có từng nghe thấy một bài hát trong đầu mình, muốn dừng lại mà không được? Loại ảo giác âm thanh đó cũng là một mô phỏng.

Hãy nghĩ về lần cuối bạn được người ta cho một trái táo đỏ mọng nước. Bạn cầm lấy nó, cắn một miếng, rồi trải nghiệm vị chua của nó. Trong khoảnh khắc đó, các neuron đang hoạt động mạnh mẽ trong các vùng não cảm giác và vận động của bạn. Các neuron vận động hoạt động mạnh để sản sinh ra các chuyển động, còn các neuron cảm giác hoạt động mạnh để xử lý các cảm giác của bạn về quả táo, như màu đỏ của nó với màu xanh lá phơn phớt; sự mềm mại của nó trong bàn tay của bạn; mùi hương độc đáo của nó; tiếng rồm rộp khi bạn cắn vào nó; và mùi vị thơm ngon với một chút ngọt ngào của nó. Những neuron khác tạo ra nước miếng để giải phóng cái enzyme và bắt đầu tiêu hóa, giải phóng cortisol để cơ thể bạn sẵn sàng chuyển hóa đường trong táo, và có thể khiến dạ dày của bạn sôi lên một chút. Nhưng đây mới là điều thú vị: ngay lúc này, khi bạn đọc chữ “táo”, bộ não của bạn phản hồi ở một mức độ nhất định như thể có một trái táo thực sự tồn tại. Não của bạn kết hợp các mẩu và mảnh kiến thức về những trái táo mà bạn đã nhìn thấy và ăn trước đây, rồi thay đổi cách hoạt động của các neuron trong vùng não cảm giác và vận động của bạn để kiến tạo nên một phân mục tâm lý cho khái niệm “táo”. Não của bạn đã mô phỏng một trái táo không tồn tại bằng cách dùng các neuron cảm giác và vận động. Mô phỏng xảy ra nhanh và tự động như một nhịp tim.

Vào sinh nhật lần thứ 12 của con gái tôi, chúng tôi đã khai thác quyền năng của mô phỏng (và khá vui vẻ), bằng cách tổ chức một bữa tiệc “đồ ăn ghê”. Khi khách mời của con bé đến, chúng tôi phục vụ họ món bánh pizza được làm từ màu thực phẩm xanh để pho mát trông giống như nấm mốc, và gelatin trái đào được tẩm với một số loại rau trông giống như chất nôn. Đối với đồ uống, chúng tôi phục vụ nước ép nho trắng trong cốc lấy mẫu nước tiểu y tế. Mọi người đều vô cùng kinh tởm (đó là sự hài hước hoàn hảo của tuổi mười hai), và một số khách không thể tự mình chạm vào thức ăn khi họ vô tình mô phỏng mùi hương và mùi vị đáng ghê tởm. Tuy nhiên, phần chính của vở kịch (pièce de résistance), là một trò chơi mà chúng tôi đã chơi sau bữa trưa: một cuộc thi đơn giản để xác định các món ăn bằng mùi của chúng. Chúng tôi dùng thức ăn nghiền nhuyễn dành cho em bé – mùi đào, rau bina và thịt bò, v.v – và trét chúng một cách nghệ thuật nên những miếng tã giấy, để chúng trông y như phân em bé. Ngay cả khi những vị khách đều đã biết đó là đồ ăn, một số người đã phải bịt chặt mũi vì mùi hương mô phỏng.

Các mô phỏng chính là những dự đoán của não bộ về những điều đang xảy ra trên thế giới. Trong mỗi khoảnh khắc kể từ khi bạn thức dậy, bạn phải đối mặt với những thông tin không rõ ràng, ồn ào đến từ mắt, tai, mũi và các cơ quan cảm giác khác. Bộ não sử dụng những kinh nghiệm trong quá khứ của bạn để kiến tạo một giả thuyết — mô phỏng — và so sánh nó với những bản hòa tấu phát ra từ các giác quan của bạn. Theo cách này, mô phỏng cho phép bộ não của bạn áp đặt ý nghĩa của tiếng ồn, chọn những gì có liên quan và bỏ qua phần còn lại.

Khám phá về mô phỏng này vào cuối những năm 1990 đã tạo ra một kỷ nguyên mới trong ngành tâm lý học và khoa học thần kinh. Các bằng chứng khoa học cho thấy rằng, những gì chúng ta nhìn thấy, nghe được, chạm phải, nếm được và ngửi thấy phần lớn đều là các mô phỏng về thế giới, chứ không phải là phản xạ đối với thế giới. Các nhà tư tưởng hiện đại suy đoán rằng mô phỏng là một cơ chế phổ biến không chỉ để nhận thức mà còn để hiểu ngôn ngữ, cảm thông, ghi nhớ, tưởng tượng, mơ mộng và nhiều hiện tượng tâm lý khác. Chúng ta thường cho rằng suy nghĩ, nhận thức và mơ mộng là các hoạt động trí óc khác nhau (ít nhất là đối với những người ở các nền văn hóa phương Tây), nhưng có một quy trình duy nhất có thể mô tả toàn bộ chúng. Mô phỏng là chế độ mặc định cho mọi hoạt động trí óc. Nó cũng nắm giữ chiếc chìa khóa để mở khóa bí ẩn về việc bộ não đã tạo ra các cảm xúc bằng cách nào.

Bên ngoài bộ não, mô phỏng có thể tạo ra những thay đổi nhìn thấy được trên cơ thể của bạn. Hãy thử tạo ra một mô phỏng sáng tạo nhỏ với một con ong. Hay dùng đôi mắt trong tâm trí của bạn, tạo ra một con ong đang đập cánh nhẹ nhàng trên những cánh hoa của một bông hoa màu trắng mỏng manh, nó đang vo ve xung quanh bông hoa để tìm kiếm phấn hoa. Nếu bạn thích ong, thì sự rung động của đôi cánh mà bạn đang tưởng tượng lúc này đang khiến các neuron khác trong não bộ của bạn đẩy cơ thể bạn vào trạng thái chuẩn bị để di chuyển đến gần để quan sát kỹ hơn — khiến cho tim bạn đập nhanh hơn, làm đầy tuyến mồ hôi và giảm bớt huyết áp của bạn. Hoặc là nếu trước đây bạn đã từng bị ong chích, bộ não của bạn có thể sẽ đẩy cơ thể bạn vào trạng thái sẵn sàng để bỏ chạy hoặc thực hiện một chuyển động lắc lư, tạo ra một số mô hình thay đổi thể chất khác. Mỗi khi não của bạn mô phỏng các thông tin cảm giác đầu vào, nó cũng sẽ chuẩn bị cho những thay đổi tự động trong cơ thể của bạn, những thay đổi tiềm năng để thay đổi cảm xúc của bạn.

Các mô phỏng liên quan đến ong được cắm rễ bên trong khái niệm trí óc về thứ gọi là “ong”. Khái niệm này không chỉ bao gồm các thông tin về ong (như: nó trông như thế nào và phát ra âm thanh ra sao, bạn sẽ hành động như thế nào với nó, hệ thống neuron tự động của bạn sẽ thay đổi ra sao để cho phép bạn hành động, v.v), mà nó còn bao gồm các khái niệm khác liên quan đến ong ("Đồng cỏ", "hoa", "mật ong", "chích", "đau đớn", v.v). Tất cả những thông tin này tích hợp với khái niệm “ong” của bạn, hướng dẫn bạn cách để mô phỏng một con ong trong bối cảnh cụ thể. Do đó, một khái niệm như “ong” thực sự là một tập hợp các khuôn mẫu thần kinh bên trong não của bạn, đại diện cho các trải nghiệm của bạn trong quá khứ. Não bộ kết hợp những khuôn mẫu này theo những cách khác nhau để nhân thức và hướng dẫn các hành động của bạn trong các tình huống mới một cách linh hoạt.

Bằng cách sử dụng các khái niệm, não bộ của bạn đã nhóm một số thứ lại với nhau và tách rời một số thứ khác. Bạn có thể nhìn thấy ba gò đất, và gọi hai trong số chúng là “đồi” và cái còn lại là “núi”, tùy theo khái niệm của bạn. (Đối với não bộ của bạn, hoạt động) kiến tạo (construction) xem thế giới như một bao bánh ngọt, còn các khái niệm thì giống như dao cắt bánh để tạo ra các ranh giới, không phải bởi vì chúng tự nhiên, mà bởi vì chúng có ích và đáng mơ ước. Những ranh giới này tất nhiên là có giới hạn về thể chất, bạn sẽ không bao giờ xem một cái núi như một cái hồ. Không phải thứ gì cũng liên quan đến nhau.

Các khái niệm của bạn là công cụ sơ khai để não bộ dự đoán ý nghĩa của các thông tin cảm giác đầu vào. Ví dụ như, các khái niệm sẽ mang đến ý nghĩa cho những thay đổi trong áp suất âm thanh, vì thế, bạn nghe thấy chúng dưới hình thức của từ ngữ hay âm nhạc hay vì là những tiếng ồn ngẫu nhiên. Trong văn hóa phương Tây, hầu hết âm nhạc dựa trên một quãng tám được chia thành mười hai cao độ cách đều nhau: âm giai cân bằng do Johann Sebastian Bach hệ thống hóa vào thế kỷ XVII. Tất cả những người thuộc nền văn hóa phương Tây với thính giác bình thường đều có khái niệm về thang đo phổ biến này, ngay cả khi họ không thể mô tả rõ ràng. Tuy nhiên, không phải tất cả âm nhạc đều sử dụng thang âm này. Khi người phương Tây lần đầu tiên nghe nhạc gamelan của Indonesia, loại âm nhạc dựa trên bảy cao độ trên mỗi quãng tám với các giai điệu khác nhau, họ phần lớn nghe nó như nghe tiếng ồn. Một bộ não vốn đã được điều khiển bằng cách nghe các thang âm mười hai, hoàn toàn không có khái niệm về loại âm nhạc này. Cá nhân tôi hoàn toàn mù kinh nghiệm đối với nhạc dubstep, mặc dù con gái tuổi teen của tôi rõ ràng có khái niệm đó.

Các khái niệm cũng mang đến ý nghĩa cho những loại hóa chất tạo nên mùi vị và hương thơm. Nếu tôi mời bạn ăn kem màu hồng, có thể bạn sẽ dự đoán (mô phỏng) vị dâu, nhưng nếu nó có mùi vị như cá, bạn sẽ cảm thấy gai người, “chỏi” và thậm chí là ghê tởm. Thay vào đó, nếu tôi giới thiệu món ăn trước, như “bánh mousse cá hồi đông lạnh”, để cảnh báo cho não bộ của bạn, thì bạn sẽ cảm thấy vị này ăn cũng ngon (giả dụ là bạn thích cá hồi). Có thể bạn nghĩ rằng thức ăn chỉ tồn tại trong thế giới thực, nhưng trên thực tế, khái niệm về “thức ăn” mang nặng tính văn hóa. Rõ ràng là, có một số giới hạn sinh học; bạn không thể ăn dao lam được. Nhưng có một số chất hoàn toàn có thể ăn được, nhưng không phải ai trong chúng ta đều xem nó là thực phẩm, chẳng hạn như hachinoko, một món ăn ngon của Nhật Bản được làm từ ong non, món là hầu hết mọi người Mỹ đều kịch liệt tránh. Khác biệt văn hóa này đến từ các khái niệm.

Mọi khoảnh khắc mà bạn sống, não bộ của bạn dùng các khái niệm để mô phỏng thế giới bên ngoài. Nếu không có các khái niệm, bạn sẽ bị mù kinh nghiệm, như cái cách mà bạn không nhận ra những đốm màu hình con ong (hình 2-1). Khi có các khái niệm, não bộ của bạn sẽ mô phỏng một cách vô hình và tự động đến mức giống như là thị giác, thính giác và các giác quan khác của bạn đang phản xạ chứ không phải là kiến tạo lên (construction).

Bây giờ, hãy xem xét điều này: Chuyện gì xảy ra nếu não bộ của bạn cũng sử dụng một quy trình tương tự để giải nghĩa các cảm giác đến từ bên trong cơ thể - sự hỗn loạn phát sinh từ nhịp tim, hơi thở và các chuyển động bên trong khác của bạn?

Từ góc nhìn của não bộ, cơ thể của bạn cũng chỉ là những nguồn dữ liệu đầu vào cảm giác khác mà thôi. Các cảm giác từ tim va phổi, từ hệ tiêu hóa, từ nhiệt độ thay đổi, v.v, đều giống như những đốm màu mơ hồ của hình 2-1. Những cảm giác thể chất thuần túy bên trong cơ thể của bạn không có bất kỳ ý nghĩa tâm lý khách quan nào. Tuy nhiên, một khi các khái niệm của bạn gia nhập vào bức tranh, những cảm giác đó có thể mang ý nghĩa bổ sung. Nếu bạn cảm thấy đau dạ dày khi đang ngồi ở bàn ăn, bạn sẽ xem nó như một cơn đói. Nếu sắp vào mùa cúm, bạn sẽ xem cơn đau y hệt như vậy như chứng buồn nôn. Nếu bạn là thẩm phán trong tòa án, bạn có thể xem cơn đau trong bụng như một thứ cảm giác rằng bên bị cáo không đáng tin tưởng. Trong mỗi khoảnh khắc, mỗi bối cảnh, bộ não của bạn dùng các khái niệm để đồng thời tạo ra ý nghĩa cho các cảm giác bên trong cũng như các cảm giác đến từ bên ngoài. Từ một cơn đau dạ dày, bộ não của bạn sẽ kiến tạo lên các phân mục đói, buồn nôn hoặc không tin tưởng.

Bây giờ, hãy xem xét cùng chứng đau dạ dày này trong tình huống bạn đang ngửi một các tã nặng trịch thịt cừu xay nhuyễn, giống như bạn bè của con gái tôi đã làm ở buổi tiệc sinh nhật với những món ăn thấy gớm của con bé. Bạn có thể xem cơn đau này là sự ghê tởm. Hoặc nếu người yêu của bạn vừa mới bước vào phòng, bạn có thể xem cơn đau như nỗi nhớ nhung khao khát. Nếu bạn đang ở phòng khám và chời kết quả kiểm tra y tế, bạn có thể xem cơn đau như một cảm giác căng thẳng. Trong các tình huống của sự ghê tởm, khao khát, và căng thẳng, các khái niệm đang hoạt động trong não của bạn là một khái niệm cảm xúc. Cũng như những tình huống trước, bằng cách kiến tạo lên một phân mục của khái niệm đó, não của bạn tạo ra ý nghĩa từ cơn đau dạ dày, cùng với các cảm giác đến từ thế giới xung quanh bạn.

Một phân mục cảm xúc.

Và đó chính là cách chúng ta tạo ra các cảm xúc.

Quay lại khi tôi còn ở trường học tiến sĩ, một anh chàng trong chương trình tâm lý học của tôi đã rủ tôi đi hẹn hò. Tôi không biết rõ về anh ấy và không muốn đi vì thành thật mà nói, tôi không đặc biệt bị thu hút bởi anh ấy, nhưng ngày hôm đó, tôi đã bị nhốt quá lâu trong phòng thí nghiệm, vì vậy tôi đồng ý. Khi chúng tôi ngồi cùng nhau trong một quán cà phê, tôi cảm thấy vô cùng ngạc nhiên khi cảm nhận được rằng mặt mình đỏ bừng nhiều lần khi chúng tôi nói chuyện. Bụng của tôi cồn cào và tôi bắt đầu gặp khó khăn trong việc tập trung. Ok, tôi nhận ra rằng mình đã nhầm rồi. Rõ ràng là tôi bị anh ấy hấp dẫn. Chúng tôi tạm biệt sau một giờ đồng hồ - sau khi tôi đồng ý hẹn hò với anh ấy lần nữa – và tôi đi về nhà, cảm thấy vô cùng tò mò. Tôi bước vào căn hộ của mình, thả chìa khóa xuống sàn, nôn một trận và nằm trên giường suốt bảy ngày tiếp theo vì bị cúm.

Cũng giống như quá trình kiến tạo nên các mô phỏng về một con ong từ các đốm màu, thần kinh cũng kiến tạo lên cảm giác bị hấp dẫn từ cơn cồn cào trong dạ dày và đỏ mặt. Cảm xúc là sản phẩm (creation) của não bộ để mang lại ý nghĩa cho các cảm giác trên cơ thể, liên quan đến việc chuyện gì đang xảy ra xung quanh bạn. Các triết gia từ lâu đã đề xuất rằng lý trí của bạn giải thích ý nghĩa của cơ thể bạn trong thế giới, từ René Descartes ở thế kỷ 17 đến William James (được xem là cha đẻ của tâm lý học Hoa Kỳ) ở thế kỷ 19; tuy nhiên, như bạn sẽ biết, khoa học thần kinh hiện nay đã cho chúng ta thấy quá trình này – và nhiều thứ khác nữa – xuất hiện trong não bộ để tạo ra một cảm xúc ngay tại chỗ. Tôi gọi giải thích này là lý thuyết kiến tạo cảm xúc.

Trong mọi khoảnh khắc từ khi bạn thức giấc, bộ não của bạn dùng các trải nghiệm trong quá khứ, sắp xếp các khái niệm, để hướng dẫn hành vi của bạn và giải thích cho các cảm giác của bạn. Khi các khái niệm này là các khái niệm cảm xúc, bộ não của bạn kiến tạo lên các phân mục cảm xúc.

Nếu có một đàn ong đang bay vo ve bên dưới cửa trước nhà bạn, trong khi tim bạn đang đập mạnh trong lồng ngực, kiến thức đầu tiên mà bộ não của bạn có về loài côn trùng châm chích này sẽ tạo nên ý nghĩa cho các cảm giác trong cơ thể như hình ảnh, âm thanh, mùi hương, và những cảm giác khác đến từ thế giới ngoài, mô phỏng đàn ong, cánh cửa, và một phân mục của sự sợ hãi. Cũng như cảm giác đến từ cơ thể này, đặt trong một bối cảnh khác, như xem một bộ phim hấp dẫn về cuộc sống bí ẩn của loài ong, sẽ tạo ra một phân mục của sự hưng phấn. Hoặc, nếu bạn xem một bức tranh vẽ một con ong hoạt hình đang cười trong một cuốn sách thiếu nhi, nhắc bạn nhớ về đứa cháu gái yêu quý mà bạn đã từng đưa đi xem phim Disney, bạn có thể kiến tạo lên con ong, đứa cháu gái, và một phân mục của sự hoài cổ vui vẻ trong trí óc của mình.

Trải nghiệm của tôi ở quán cà phê, nơi mà tôi cảm thấy bị hấp dẫn khi đang bị cúm, theo quan điểm cổ điển được gọi là một lỗi hoặc một sự phân bổ sai lệch, nhưng sai lầm này không khác gì việc nhìn thấy một con ong trong một đám đốm màu. Một loại vi-rút cúm trong máu của tôi góp phần gây ra cơn sốt và khiến tôi đỏ mặt, và bộ não của tôi giải nghĩa nó từ những cảm giác trong bối cảnh của một buổi hẹn hò, tạo ra cảm giác hấp dẫn thực sự, cũng bình thường như cách bộ não tạo ra bất kỳ phân mục tinh thần nào khác. Nếu tôi có cùng những cảm giác cơ thể này khi đang nằm trên giường ở nhà với cái nhiệt kế, với một quy trình sản xuất y như vậy, não bộ của tôi có thể tạo nên phân mục của “bệnh”. (Ngược lại, quan điểm cổ điển cho rằng cảm giác bị hấp dẫn và bị bệnh phải có những dấu vân tay cơ thể khác nhau và được kích thích bằng những mạch thần kinh khác nhau.)

Các cảm xúc không phải là phản xạ với thế giới. Bạn không nhận các thông tin cảm giác đầu vào một cách hoàn toàn thụ động, mà bạn chủ động kiến tạo lên các cảm xúc của bạn. Từ các thông tin cảm giác đầu vào và các trải nghiệm trong quá khứ, bộ não của bạn đã kiến tạo nên ý nghĩa và đề xuất hành động. Nếu bạn không có các khái niệm đại diện cho các trải nghiệm trong quá khứ, thì tất cả mọi thông tin cảm giác đầu vào sẽ chỉ là những tiếng ồn. Bạn sẽ không biết những cảm giác này là gì, cái gì tạo ra chúng, và phải làm sao với chúng. Với các khái niệm, nạo bộ của bạn mang lại ý nghĩa cho các cảm giác, và đôi khi ý nghĩa đó chính là một cảm xúc.

Lý thuyết kiến tạo cảm xúc và một quan điểm cảm xúc cổ điển kể cho chúng ta những câu chuyện hoàn toàn khác nhau về cách mà chúng ta trải nghiệm thế giới. Quan điểm cổ điển là trực quan - các sự kiện ở thế giới xung quanh kích hoạt các phản ứng cảm xúc bên trong chúng ta. Câu chuyện của nó có các nhân vật quen thuộc như suy nghĩ và cảm xúc sống trong các vùng não riêng biệt. Ngược lại, lý thuyết kiến tạo cảm xúc, kể cho chúng ta một câu chuyện không khớp với cuộc sống hàng ngày của bạn – rằng não của bạn đã kiến tạo lên mọi thứ mà bạn trải nghiệm – một cách vô hình, bao gồm những cảm xúc. Câu chuyện của nó có các nhân vật xa lạ như sự mô phỏng và các khái niệm và sự thoái hóa, và nó xảy ra đồng thời xuyên suốt não bộ.

Câu chuyện xa lạ này tạo ra một thử thách, bởi vì mọi người thường trông đợi những câu chuyện với các cấu trúc quen thuộc. Mọi câu chuyện về siêu anh hùng đều phải có một kẻ xấu. Mọi câu chuyện hài lãng mạn đều phải có một cặp đôi hấp dẫn phải trải qua với những hiểu lầm hài hước – và cuối truyện thì mọi thứ đều ổn thỏa. Ở đây, thử thách của chúng ta chính là sự linh hoạt của bộ não, và cách mà những cảm xúc được tạo ra, không theo bất kỳ một câu chuyện có tuyến tính và có hiệu ứng nhân quả nào cả. (Trong khoa học, chúng ta thường gặp loại thử thách này, ví dụ như, trong vật lý lượng tử việc phân biệt giữa nguyên nhân và hậu quả không có ý nghĩa.) Tuy nhiên, mọi cuốn sách phải kể một câu chuyện, ngay cả đối với một chủ đề phi tuyến tính như chức năng não bộ. Đôi khi tôi sẽ phải vượt qua khuôn khổ tuyến tính thông thường của cách kể chuyện của con người.

Hiện tại, mục đích của tôi chỉ đơn giản là cung cấp cho bạn một số trực giác về cấu tạo của cảm xúc và tại sao lời giải thích khoa học này lại hợp lý. Sau này chúng ta sẽ hiểu rằng lý thuyết này đã kết hợp những hiểu biết hiện đại nhất, mang tính khoa học thần kinh nhất về cách thức hoạt động của não bộ, và nó cũng giải thích sự phong phú trong các trải nghiệm và nhận thức cảm xúc trong cuộc sống hàng ngày. Nó có thể giúp chúng ta tìm ra những phân mục niềm vui, nỗi buồn, sự giận dữ, sự sợ hãi, và các danh mục cảm xúc khác được kiến tạo nên bởi cùng một cơ chế não bộ - thứ đã kiến tạo nên con ong từ đốm màu, trái táo mọng nước, mùi phân từ đồ ăn của em bé, mà không cần bất kỳ một mạch thần cảm xúc hay dấu vân tay sinh học nào.

Tôi không phải là người đầu tiên đề xuất ý tưởng rằng các cảm xúc là được tạo ra (chứ không phải tồn tại sẵn bởi một mạch thần kinh nào đó). Lý thuyết về kiến tạo cảm xúc thuộc về một truyền thống khoa học rộng lớn hơn được gọi là sự kiến tạo (construction) – trong đó, người ta cho rằng trải nghiệm và hành vi của bạn được tạo ra ngay tức thời bởi các quá trình sinh học trong bộ não và cơ thể bạn. Sự kiến tạo (construction) được dựa trên một tập hợp các ý tưởng rất cũ từ thời Hy Lạp Cổ Đại, triết gia Heraclitus đã viết ra một câu nói nổi tiếng rằng, “Không ai có thể tắm hai lần trong cùng một dòng sông,” bởi vì chỉ có trâm trí mới nhìn nhận một dòng sông luôn thay đổi như một dòng nước riêng biệt. Ngày nay, chủ nghĩa kiến tạo mở rộng ra nhiều chủ đề bao gồm trí nhớ, nhận thức, bệnh tâm thần, và tất nhiên, cảm xúc.

Một cách tiếp cận cảm xúc theo chủ nghĩa kiến tạo bao gồm một số ý tưởng cốt lõi. Một ý tưởng là, một danh mục cảm xúc như sự giận dữ hoặc sự ghê tởm không có dấu vân tay. Phân mục giận dữ này không cần phải trông giống như hoặc có cảm giác giống như một phân mục giận dữ khác, và nó cũng không được tạo ra từ những neuron giống nhau. Sự đa dạng là điều bình thường. Phạm vi giận dữ của bạn không nhất thiết phải giống như của tôi, mặc dù nếu chúng ta được nuôi dưỡng trong môi trường giống nhau, chúng ta có thể sẽ có một số phần giống nhau trong phạm vi này.

Một ý tưởng cốt lõi khác là các cảm xúc mà bạn trải nghiệm và nhận thức được không phải là một hậu quả không thể tránh khỏi đến từ gene của bạn. Thứ mà bạn không thể tránh khỏi ở đây chính là việc bạn sẽ có một số loại khái niệm để lý giải các thông tin cảm xúc đầu vào từ cơ thể bạn với thế giới ngoài, bởi vì, như chúng ta sẽ biết được trong chương 5, não của bạn được thiết lập cho mục đích này. Thậm chí những sinh vật đơn bào cũng có thể lý giải sự thay đổi trong môi trường của chúng. Nhưng những khác niệm cụ thể như “sự giận dữ” và “sự ghê tởm” không được xác định trước bởi gene. Những khái niệm cảm xúc quen thuộc của bạn là những thức được thêm vào (built-in) vì bạn lớn lên trong một bối cảnh xã hội cụ thể nơi mà những khái niệm cảm xúc này có ý nghĩa và thông dụng, và bộ não của bạn ứng dụng chúng bên ngoài nhận thức của bạn để kiến tạo nên các trải nghiệm của bạn. Sự thay đổi của nhịp tim là không thể tránh khỏi; ý nghĩa về mặt cảm xúc của nó thì có thể. Những nền văn hóa khác có thể và thực sự đã tạo ra nhiều dạng ý nghĩa khác từ cùng một thông tin cảm giác đầu vào.

Lý thuyết kiến tạo cảm xúc đã phối hợp các ý tưởng từ một vài lĩnh vực của việc kiến tạo. Một lĩnh vực – được gọi là kiến tạo xã hội – nghiên cứu về vai trò của các giá trị và các mối quan tâm của xã hội trong việc xác định cách mà chúng ta nhận thức và hành xử trong thế giới. Ví dụ, liệu Diêm Vương Tinh có phải là một hành tinh hay không, đây là một câu hỏi không dựa trên vật lý thiên văn mà dựa vào văn hóa. Các tảng đá hình cầu trong không gian là tồn tại một cách khách quan và có nhiều kích cỡ khác nhau, nhưng ý tưởng về một “Hành tinh”, đại diện cho sự kết hợp đặc biệt của các đặc điểm mà chúng ta quan tâm, là do con người tạo ra. Mỗi người trong chúng ta đều hiểu về thế giới theo cách mà có lợi cho chúng ta nhưng không nhất thiết là luôn luôn đúng đắn và khách quan. Ở những nơi có liên quan đến cảm xúc, các lý thuyết kiến tạo xã hội sẽ đặt câu hỏi rằng các vai trò xã hội hoặc niềm tin của chúng ta đã ảnh hưởng như thế nào đến cảm xúc và nhận thức. Ví dụ, nhận thức của tôi bị ảnh hưởng bởi sự thật là tôi là một phụ nữ, một người mẹ, một người vô thần theo văn hóa Do Thái, và một người có làn da khá nhợt nhạt sống ở một đất nước đã từng nô lệ hóa những người có nhiều hắc tố (melanin) trên da hơn tôi. Tuy nhiên, các lý thuyết kiến tạo xã hội có xu hướng bỏ qua sinh học, xem như nó không liên quan đến cảm xúc. Thay vào đó, các lý thuyết này cho rằng các cảm xúc bị kích thích khác nhau dựa vào vai trò xã hội của bạn. Do đó, các lý thuyết kiến tạo xã hội, chủ yếu quan tâm đến hoàn cảnh xã hội ở thế giới bên ngoài bạn, mà không xem xét đến việc những hoàn cảnh đó ảnh hưởng như thế nào đến hệ thống thiết lập của não bộ.

Một lĩnh vực khác của việc kiến tạo, được biết đến như kiến tạo tâm lý, đã chuyển trọng tâm vào bên trong. Nó đề xuất rằng những nhận thức, suy nghĩ và cảm giác của bạn, tự chúng kiến tạo nên chính mình từ những phần cơ bản nhất. Một số triết gia thế kỷ 19 đã xem lý trí như một tập hợp hóa học, kết hợp nhiều cảm giác đơn giản tạo thành các suy nghĩ và cảm xúc giống như cái cách những nguyên tử kết hợp để tạo thành phân tử. Những người khác xem lý ý những một tập hợp các bộ phận đa năng, giống như các khối xếp hình Lego, tham gia vào các phân mục tâm lý khác nhau như nhận thức và cảm xúc. William James đề xuất rằng, những trải nghiệm cảm xúc siêu phong phú của chúng ta được kiến tạo nên bởi những nguyên liệu thông thường. Ông viết rằng, “Các quy trình cảm xúc của não bộ không chỉ giống với các quá trình cảm nhận thông thường của não bộ, mà trên thực tế, nó không là gì khác ngoài các quá trình như vậy được kết hợp một cách khác nhau.” Trong những năm 1960, các nhà tâm lý học Stanley Schachter và Jerome Singer đã nổi tiếng vì tiêm adrenaline vào người các đối tượng thí nghiệm – mà không cho các đối tượng này biết – và quan sát họ trải niệm cơn kích thích bí ẩn bởi sự giận dữ hoặc hạnh phúc, tùy thuộc vào bối cảnh xung quanh họ. Trong những quan điểm này, một phân mục của sự giận dữ hoặc kích động không cho thấy bất kỳ cơ chế nhân quả nào – một điểm đối nghịch hoàn toàn với quan điểm cổ điển – quan điểm cho rằng mỗi cảm xúc đều có một cơ chế tỉ mỉ trong não, và một từ ngữ (như, “nỗi buồn”) sẽ định danh cho cơ chế này và sản phẩm của nó. Trong những năm gần đây, một thế hệ các nhà khoa học mới đã tạo ra các lý thuyết dựa trên việc kiến tạo tâm lý để hiểu được cảm xúc và cách chúng hoạt động. Không phải mọi lý thuyết đều thống nhất ý kiến về các giả định, nhưng cùng nhau, chúng đã khẳng định rằng cảm xúc được tạo ra, chứ không phải được kích hoạt; cảm xúc rất hay thay đổi, không có dấu vân tay; và về nguyên tắc, cảm xúc không khác biệt với tri giác và nhận thức.

Có thể bạn sẽ ngạc nhiên khi biết về một ý tưởng được gọi là kiến tạo thần kinh - những nguyên tắc tương tự trong kiến tạo có vẻ đang nắm giữ cấu trúc vật lý của não bộ. Hãy xem xét hai neuron được kết nối với nhau bằng synap. Rõ ràng là những tế bào não này tồn tại ở một trạng thái khách quan. Nhưng không có một cách khách quan nào để biết được rằng, liệu hai neuron này là một phần trong một đơn vị gọi là “mạch thần kinh” hay “hệ thống”, hay mỗi neuron thuộc về một mạch thần kinh khác nhau – và mạch này “chi phối” mạch kia. Câu trả lời hoàn toàn tùy vào góc nhìn của con người. Tương tự, sự liên kết mật thiết trong bộ não của bạn không phải là hệ quả tất yếu đến từ mỗi gene của bạn. Hiện nay chúng ta đã biết rằng trải nghiệm là một yếu tố góp phần vào đó. Gene của bạn bật và tắt trong những bối cảnh khác nhau, bao gồm các gene định hình hệ thống mạch thần kinh trong bộ não của bạn. (Các nhà khoa học gọi hiện tượng này là sự linh hoạt (plasticity).) Nghĩa là một số synap của bạn thực sự tồn tại bởi vì những người xung quanh đã nói chuyện với bạn hay đối xử với bạn theo một cách nhất định nào đó. Nói cách khác, sự kiến tạo mở rộng tới tận mức độ tế bào. Cấu trúc vĩ mô của bộ não của bạn phần lớn đã được xác định trước, nhưng các mạch thần kinh vi mô thì không. Kết quả là, những trải nghiệm quá khứ giúp bạn xác định các trải nghiệm và nhận thức trong tương lai. Kiến tạo thần kinh đã giải thích tại sao mà trẻ sơ sinh khi mới sinh ra không có khả năng nhận diện một khuôn mặt, nhưng chúng hoàn toàn có thể phát triển loại năng lực này trong vòng vài ngày sau khi sinh ra. Nó cũng giải thích cách thức mà những trải nghiệm văn hóa sớm – ví dụ như, người chăm sóc bạn thường gần gũi bạn tới mức nào, và việc bạn ngủ một mình trong cũi hay ngủ trên giường cùng gia đình – sẽ định hình mạch thần kinh trong não bộ của bạn theo những cách khác nhau.

Lý thuyết kiến tạo cảm xúc kết hợp các yếu tố của ba lĩnh vực kiến tạo. Từ kiến tạo xã hội, nó chỉ ra tầm quan trọng của văn hóa và các khái niệm. Từ kiến tạo tâm lý, nó xem xét các cảm xúc được kiến tạo nên bỏi các hệ thống cốt lõi trong não bộ và cơ thể. Và từ kiến tạo thần kinh, nó thu thập ý tưởng rằng trải nghiệm đã lên dây cho các mạch thần kinh trong não bộ.

Lý thuyết kiến tạo cảm xúc đã loại bỏ những giả định cơ bản nhất của quan điểm cổ điển. Ví dụ, quan điểm cô điển giả định rằng niềm vui, sự giận dữ, và những danh mục cảm xúc khác đều có một dấu vân tay cơ thể khác biệt. Trong lý thuyết kiến tạo cảm xúc, sự đa dạng là điều bình thường. Khi bạn giận dự, bạn có thể cau có, nhăn nhó nhẹ nhàng hoặc nghiêm trọng, la lối, cười lớn, hay thậm chí là đứng yên và bình tĩnh một cách kỳ lạ, tùy thuộc vào điều gì sẽ hiệu quả nhất trong tình huống đó. Tương tự, nhịp tim của bạn có thể tăng lên, hạ xuống, hay giữ nguyên, bất kỳ điều gì cần thiết để hỗ trợ hành động mà bạn đang làm. Khi bạn nhận thức được ai đó đang nổi giận, các nhận thức của bạn cũng phong phú y như vậy. Do đó, một từ ngữ chỉ cảm xúc như “giận dữ”, sẽ định dạnh cho một quần thể các phân mục khác nhau, mỗi một phân mục được kiến tạo để hướng dẫn một cách tốt nhất cho hành động trong trạng thái tức thời. Không có bất kỳ sự khác biệt đơn lẻ nào giữa giận dữ và sợ hãi, bởi vì không có “giận dữ” đơn lẻ và “sợ hãi” đơn lẻ. Những ý tưởng này lấy cảm hứng từ William James, người đã viết rất nhiều về sự biến đổi của đời sống tình cảm, và bởi ý tưởng mang tính cách mạng của Charles Darwin rằng một danh mục sinh học, chẳng hạn như một giống loài, là một quần thể của những cá thể độc nhất.

Bạn có thể nghĩ về danh mục cảm xúc giống như món bánh quy. Có những cái bánh giòn tan, có những cái thì dẻo dai, có những cái có vị ngọt, mặn, lớn, nhỏ, mỏng, tròn, cuộn, bánh kẹp như sandwich, làm bằng bột, không bột, v.v. Các thành viên trong danh mục “bánh quy” có một sự khác biệt to lớn so với nhau, nhưng tất cả đều có vai trò tương đương nhau cho một mục đích nào đó: là một món ăn vặt ngon lành hoặc một món tráng miệng. Những chiếc bánh quy này không nhất thiết phải trông giống nhau hoặc dùng chung một công thức nấu ăn; chúng là một quần thể các phân mục khác nhau. Thậm chí trong danh mục có chọn lọc hơn như “bánh quy sô cô la”, chúng vẫn có nhiều sự khác biệt như loại sô cô la được dùng, lượng bột, tỉ lệ đường nâu so với đường trắng, và chất béo như bơ, và thời gian ủ bột. Tương tự, bất kỳ danh mục cảm xúc nào như “niềm vui” hay “tội lỗi” đều chứa đầy sự đa dạng như vậy.

Lý thuyết kiến tạo cảm xúc không cần đến các dấu vân tay trong cơ thể lẫn trong não bộ. Nó bỏ qua các câu hỏi ngụ ý về sự tồn lại của dấu vân tay thần kinh, như “Các neuron ở đâu đã kích thích nỗi sợ hãi?” Bản thân chữ “ở đâu” đã cài sẵn một giả định rằng có một tập hợp các neuron cụ thể được kích hoạt mỗi khi bạn hay ai đó trên hành tinh này cảm thấy sợ hãi. Trong lý thuyết kiến tạo cảm xúc, một danh mục cảm xúc như nỗi buồn, sự sợ hãi, hay sự giận dữ không có vị trí não bộ riêng biệt, và để tìm hiểu mỗi một phân mục cảm xúc, chúng ta phải nghiên cứu và hiểu toàn bộ bộ não. Do đó, câu hỏi phải là cảm xúc được tạo ra “bằng cách nào” chứ không phải là “ở đâu”. Câu hỏi trung tính hơn, “Não đã tạo ra một phân mục của sự sợ hãi bằng cách nào?” không giả định về sự tồn tại của dấu vân tay thần kinh, chỉ những trải nghiệm và nhận thức về nỗi sợ hãi mới là thứ có thật và đáng được nghiên cứu.

Nếu các phân mục cảm xúc cũng giống như bánh quy, thì bộ não chính là nhà bếp, được chất đầy kho với các nguyên liệu thường gặp như bột, nước, đường và muối. Bắt đầu với những nguyên liệu này, chúng ta có thể tạo nhiều món ăn đa dạng như bánh quy, bánh mì, bánh bông lan, bánh muffin, và bánh scon. Tương tự, não bộ của bạn cũng có những “nguyên liệu” chính, mà chúng ta đã gọi là các hệ thống cốt lõi trong chương 1. Chúng được kết hợp theo nhiều cách khác nhau, gần giống với các công thức nấu ăn, để tạo ra các phân mục đa dạng về hạnh phúc, buồn bã, tức giận, sợ hãi, v.v. Bản thân các nguyên liệu này là đa năng, không dành riêng cho bất kỳ cảm xúc nào, mà chỉ tham gia vào việc xây dựng chúng. Các phân mục thuộc hai danh mục cảm xúc khác nhau, như sợ hãi và giận dữ, có thể được tạo ra từ cùng loại nguyên liệu giống nhau, giống như bánh quy và bánh mì đều được tạo ra từ bột mì. Ngược lại, hai phân mục của cùng một danh mục cảm xúc, như sợ hãi, có thể gồm nhiều nguyên liệu khác nhau, như một số bánh quy thì có hạt còn số khác thì không có. Hiện tượng này chính là người bạn cũ của chúng ta – sự thoái hóa: những phân mục sợ hãi khác nhau được tạo ra bằng nhiều sự kết hợp khác nhau từ các hệ thống cốt lõi xuyên suốt bộ não. Chúng ta có thể mô tả các phân mục sợ hãi với thông bởi một khuôn mẫu hoạt động não bộ, nhưng khuôn mẫu này chỉ là một tóm tắt mang tính thống kê và nó không nhất định là sẽ có thể mô tả bất kỳ một phân mục sợ hãi thực sự nào.

Phép loại suy nhà bếp của tôi, cũng giống như mọi phép loại suy khác trong khoa học, đều có giới hạn của nó. Một mạng lưới não bộ, như một hệ thống cốt lõi, không phải là một “thứ” giống như bột mì hay muối. Nó là một tập hợp các neuron mà chúng ta xem như một đơn vị, nói theo kiểu thống kê, nhưng chỉ một tập hợp con trong những neuron đó tham gia vào những thời điểm cụ thể nào đó. Nếu bạn có 10 cảm giác sợ hãi liên quan đến một mạng lưới não bộ cụ thể, thì mỗi một cảm giác có thể gắn liền với nhiều neuron khác nhau trong mạng lưới này. Đây là sự thoái hóa ở mức độ mạng lưới. Thêm vào đó, bánh quy và bánh mì thì là một đồ vật có thật và rời rạc với nhau, trong khi các phân mục cảm xúc là những khoảnh khắc tức thời trong chuỗi hoạt động liên tục của não bộ, và chúng ta chỉ xem những khoảnh khắc này là những sự kiện rời rạc. Tuy nhiên, bạn có thể cảm thấy phân tích nhà bếp này rất hữu ích trong việc hình dung xem các mạng lưới đang tương tác với nhau như thế nào để tạo ra các trạng thái tâm trí khác nhau.

Những hệ thống cốt lõi – thứ giúp kiến tạo nên tâm trí – thường tương tác với nhau theo những cách rất phức tạp, mà không cần bất kỳ một quản lý hay sếp trung tâm nào điều khiển. Tuy nhiên, chúng ta không thể tìm hiểu những hệ thống này một cách riêng biệt với nhau giống như việc tháo rời các linh kiện của một cái máy, hay giống như thứ gọi là các mô đun và cơ quan cảm xúc. Đó là bởi vì tương tác giữa chúng (các hệ thống cốt lõi) tạo ra những tính chất mới – và những tính chất này không tồn tại riêng lẻ. Tương tự, khi bạn nướng bánh mì bằng bột mì, nước, men, và muối, thì sẽ xuất hiện một sản phẩm mới từ sự tương tác hóa học phức tạp của các nguyên liệu này. Bánh mình có tính chất riêng của nó, như “giòn rụm” và “dai”, những tính chất này không tồn tại trong các nguyên liệu riêng lẻ. Thật ra, nếu bạn cố gắng định danh mỗi một nguyên liệu bằng cách nếm thử bánh mì thành phẩm, bạn sẽ gặp khá nhiều khó khăn. Hay xem xét muối: bánh mình không có vị của muối ngay cả khi muối là một nguyên liệu hoàn toàn cần thiết. Tương tự, một phân mục sợ hãi không thể phân thành các nguyên liệu đơn giản. Sợ hãi không phải là một khuôn mẫu cơ thể - như bánh mì không chỉ là bột mì – mà nó xuất hiện từ sự tương tác của các hệ thống cốt lõi. Một phân mục sợ hãi sẽ có những tính chất nổi bật và không thể thay thế được – những tính chất này không tồn tại trong từng nguyên liệu riêng lẻ, ví dụ như cảm giác khó chịu (khi xe của bạn trượt một cách mất kiểm soát trên đường cao tốc trơn trượt) hoặc dễ chịu (trên tàu lượn siêu tốc nhấp nhô). Bạn không thể truy ngược thiết kế một công thức cho một phân mục sợ hãi từ một cảm giác sợ hãi được.

Thậm chí, nếu chúng ta biết nguyên liệu của cảm xúc nhưng chỉ nghiên cứu chỉ mỗi mình chúng, chúng ta cũng sẽ hiểu biết sai lầm về cách mà chúng tương tác với nhau để kiến tạo nên cảm xúc. Nếu chúng ta nghiên cứu mỗi muối – nếm và cân đo nó, chúng ta sẽ không thể hiểu được nó đã tham gia vào việc tạo nên bánh mì bằng cách nào. Đó là bởi vì muối đã tương tác hóa học với các nguyên liệu khác trong khi nướng bánh: kiểm soát sự phát triển của men, làm tăng lượng gluten trong bột, và quan trọng nhất là tăng hương vị. Để hiểu xem muối đã tham gia vào công thức tạo nên bánh mì như thế nào, bạn phải xem cách nó hoạt động theo bối cảnh. Tương tự, mỗi nguyên liêu của cảm xúc phải được nghiên cứu trong bối cảnh mà phần còn lại của não bộ đã ảnh hưởng đến nó. Triết lý này, được biết tới với cái tên chủ nghĩa toàn diện, giải thích lý do tại sao tôi nhận được kết quả khác nhau mỗi khi tôi nướng bánh mì trong nhà bếp của chính mình, thậm chí khi tôi sử dụng chính xác cùng một công thức. Tôi cân đo mọi nguyên liệu. Tôi nhào bột trong cùng một khoảng thời gian. Tôi đặt lò ở cùng một nhiệt độ. Tôi đếm số lần phun nước vào lò để làm bánh mì giòn. Tất cả đều thực hiện một cách rất hệ thống, nhưng mà, kết quả đôi khi nhẹ hơn, đôi khi nặng hơn, đôi khi ngọt hơn. Đó là bởi vì quá trình nướng có một bối cảnh thêm vào mà công thức không đề cập đến, giống như lượng sức lực tôi đã dùng khi nhào bột, độ ẩm trong nhà bếp của tôi, và nhiệt độ chính xác khi bột nở. Chủ nghĩa toàn diện giải thích tạo ra bánh mì nướng ở nhà tôi ở Boston không bao giờ có vị giống như bánh mì nước ở nhà bạn Ann của tôi ở Berkeley, California. Ổ bánh mì Berkeley có hương vị hảo hạng nhờ việc trong không khí ở đó có các loại men khác nhau trôi nổi tự nhiên, và nhờ vào vị trí địa lý có độ cao nhất định so với mực nước biển. Những biến số bổ sung này có thể tác động đáng kể đến sản phẩm cuối cùng và những người thợ làm bánh chuyên nghiệp biết điều này. Chủ nghĩa toàn diện, các đặc tính nổi bật và sự thoái hóa là những phản đề của dấu vân tay.

Sau dấu vân tay cơ thể và thần kinh, giả định cốt lõi tiếp theo của quan điểm cổ điển mà chúng ta bác bỏ là các cảm xúc đã tiến hóa như thế nào. Quan điểm cổ điển giả định rằng chúng ta có một bộ não động vật được đóng gói sẵn – những mạch thần kinh cảm xúc cổ xưa được truyền xuống từ những động vật tổ tiên của chúng ta, bao bọc các mạch thần kinh suy nghĩ lý trí của con người – giống như lớp kem trên chiếc bánh đã được nướng sẵn. Theo quan điểm này, nó “chính là” (“the”) lý thuyết tiến hóa cảm xúc, trong khi nó chỉ là một loại lý thuyết tiến hóa.

Sự kiến tạo đã kết hợp những phát hiện khoa học mới về thuyết chọn lọc tự nhiên của Darwin và tư duy quần thể. Ví dụ, nguyên tắc nhiều-thanh-một của sự thoái hoa – nhiều tập hợp neuro khác nhau có thể tạo ra cùng một kết quả - đã giúp khả năng sống còn trở nên mạnh mẽ hơn. Nguyên tắc một-thành-nhiều – bất kỳ neuron riêng lẻ nào cũng có thể tạo ra nhiều kết quả khác nhau – tạo ra hiệu quả về mặt trao đổi chất và làm tăng khả năng tính toán của não. Loại não bộ này đã tạo ra một tâm trí linh hoạt mà không cần đến các dấu vân tay.

Giả định lớn cuối cùng của quan điểm cổ điển là những cảm xúc nhất định là bẩm sinh và phổ quát: nó cho rằng tất cả những người khỏe mạnh thế giới đều sẽ thể hiện và nhận diện các cảm xúc một cách giống nhau. Trái lại, lý thuyết kiến tạo cảm xúc giải định rằng các cảm xúc không có tính bẩm sinh, và nếu chúng phổ quát – thì đó là vì chúng ta có chung các khái niệm giống nhau. Khả năng tạo ra các khái niệm để mang lại ý nghĩa cho các cảm giác của chúng ta mới là thứ mang tính phổ quát, từ khái niệm “nỗi buồn” (sadness) ở phương Tây cho đến khái niệm Gezellig ở Hà Lan (cảm giác thoải mái khi ở cùng bạn bè) – thứ cảm giác không có phiên bản tiếng Anh của nó.

Bằng phép loại suy, hãy nghĩ về bánh cupcake và bánh muffin. Hai loại bánh nướng này có cùng một hình dạng và được làm bằng tập hợp các nguyên liệu giống nhau: bột, đường, kem đường, và muối. Cả hai đều có các nguyên liệu đi kèm tương tự nhau như nho khô, các loại hạt, sô cô la, cà rốt, chuối. Bạn không thể phân biệt bánh muffin với bánh cupcake theo công thức hóa học của chúng, theo cái cách bạn có thể dễ dàng phân biệt bột mì với muối, hoặc ong với chim. Tuy nhiên, một món là món ăn sáng trong khi món còn lại là món tráng miệng. Tính chất khác nhau lớn nhất ở đây là thời gian mà bạn ăn chúng trong ngày. Sự khác biệt này hoàn toàn mang tính văn hóa và chúng ta học được nó, chứ không phải tự nhiên mà có. Sự khác biệt giữa muffin và cupcake là thực thế xã hội: khi các vật thể trong thế giới vật chất, như bánh nướng, đảm nhận các chức năng bổ sung theo thỏa thuận xã hội. Tương tự, các cảm xúc cũng là thực tại xã hội. Một sự kiện thể chất như nhịp tim, huyết áp, hay sự hô hấp, trở thành một trải nghiệm cảm xúc chỉ khi chúng ta, với các khái niệm cảm xúc mà chúng ta đã học được từ văn hóa của chúng ta, pha trộn các cảm giác của mình với các chức năng bổ sung từ sự thỏa thuận xã hội. Khi nhìn thấy bạn mình mở to mắt, chúng ta có thể xem đó là nỗi sợ hãi hay sự ngạc nhiên, tùy thuộc vào việc chúng ta đang dùng những khái niệm nào. Chúng ta không được nhầm lẫn giữa thực tại vật lý, như những thay đổi trong nhịp tim hoặc đôi mắt mở to, với thực tại xã hội về các khái niệm cảm xúc.

Bây giờ, khi chúng ta đã xóa bỏ rất nhiều giả định từ quan điểm cổ điển, chúng ta cần một từ vựng mới để bàn về cảm xúc. Những cụm từ quen thuộc như “biểu cảm gương mặt” có vẻ hợp lý nhưng nó lại ngầm cho rằng dấu vân tay cảm xúc tồn tại và khuôn mặt của chúng ta phát ra cảm xúc. Bạn có thể nhận thấy trong chương 1 rằng tôi đã đặt ra một thuật ngữ trung lập hơn, cấu hình khuôn mặt, bởi vì ngôn ngữ tiếng Anh không có từ nào để chỉ “tập hợp các chuyển động cơ mặt mà quan điểm cổ điển coi như một đơn vị phối hợp”. Tôi cũng đã làm gor từ “cảm xúc”, bởi vì nó có thể ám chỉ một phân mục (instance) (ví dụ như) của hạnh phúc, hoặc nó có thể ám chỉ nguyên cả danh mục (category) của hạnh phúc. Khi bạn kiến tạo một trải nghiệm cảm xúc của riêng bạn, tôi gọi đó là một phân mục cảm xúc. Còn sự sợ hãi, sự giận dữ, niềm hạnh phúc, nỗi buồn, v.v thì dùng để chỉ chung những danh mục cảm xúc, bởi vì mỗi từ này đều định danh một quần thể các phân mục khác nhau, cũng như từ “cookie” (bánh quy) định danh cho quần thể các phân mục khác nhau. Nếu kỹ tính hơn, tôi sẽ nghiêm cấm dùng cụm từ “một cảm xúc” trong vốn từ vựng của chúng ta, để chúng ta không ngụ ý về sự tồn tại khách quan của nó trong tự nhiên, và luôn dùng các từ khác như các phân mục và danh mục. Nhưng như vậy thì hơi bị độc tài* quá mức, nên tôi chỉ chú ý đến việc khi nào thì tôi có ý chỉ một phân mục, khi nào thì tôi có ý chỉ một danh mục thôi. (nguyên văn: Orwellian > George Orwell, và các tác phẩm nói về một thế giới tương lai độc đoán)

Tương tự, chúng ta không “nhận biết” (recognize) hay “phân biệt” (detect) cảm xúc này với cảm xúc khác. Những thuật ngữ này ám chỉ rằng một danh mục cảm xúc có một dấu vân tay tồn tại tự nhiên, không phụ thuộc vào việc người nhận biết nó là ai, và đang chờ đợi để được tìm ra. Bất kỳ câu hỏi khoa học nào về việc “phân biệt” (detect) cảm xúc đều tự động giả định rằng có một câu trả lời nhất định cho nó. Trong lối tư duy kiến tạo, tôi nói về nhận thức (perceiving) một phân mục cảm xúc. Nhận thức (perception) là một quy trình thần kinh phức tạp không mang ngụ ý về một dấu vân tay thần kinh phía sau cảm xúc, chỉ mang ý nghĩa rằng một phân mục cảm xúc sẽ tồn tại theo một cách nào đó. Tôi cũng sẽ tránh các động từ như “kích thích” (triggering) cảm xúc, những cụm từ như “phản xạ cảm xúc” (emotional reaction) và các cảm xúc “xảy ra với bạn” (happening to you). Những từ như vậy ngụ ý rằng các cảm xúc là hực thể khách quan. Ngay cả khi bạn không có cảm giác tự chủ khi trải qua cảm xúc, thì phần lớn thời gian, bạn vẫn là người tích cực tham gia vào trải nghiệm đó.

Tôi cũng sẽ không nói rằng: nhận thức cảm xúc của ai đó “một cách chính xác” (accurately). Các phân mục cảm xúc không có các dấu vân tay trên khuôn mặt, cơ thể, hay bộ não, vì thế “chính xác” không có ý nghĩa khoa học nào. Nó chỉ có ý nghĩa xã hội – chúng ta có thể hỏi rằng, người này có đồng ý về các nhận thức cảm xúc của của người kia không, hoặc một nhận thức có phù hợp với các chuẩn mực hay không. Nhưng nhận thức chỉ tồn tại riêng với người nhận thức.

Lúc đầu, những hướng dẫn ngôn ngữ này có vẻ hơi kén chọn, nhưng tôi hy vọng rằng bạn sẽ dần cảm nhận được sự quan trọng của chúng. Những từ vựng mới này là vô cùng quan trọng để hiểu biết về cảm xúc và cách thức mà chúng được tạo ra.

Ở phần đầu chương, bạn nhìn vào một bức tranh đốm màu, ứng dụng một tập hợp các khái niệm, và tạo thành hình ảnh một con ong. Đây không phải là trò đánh lừa bộ não của bạn, mà là một minh chứng cho cách thức bộ não của bạn đã và đang hoạt động ở mọi thời điểm – rằng bạn chủ động tham gia vào việc xác định những gì bạn nhìn thấy và hầu hết thời gian bạn không nhận thức được rằng bạn đang làm như vậy. Những quy trình tương tự như quy trình kiến tạo lên ý nghĩa chỉ từ những thông tin đầu vào thị giác này đã cung cấp một câu trả lời cho câu đố về cảm xúc của con người. Sau khi tiến hành hàng trăm thí nghiệm trong phòng nghiên cứu, và xem xét hơn hàng nghìn thí nghiệm khác từ các nhà nghiên cứu khác, tôi đã đi đến một kết luận không trực quan sâu sắc, và được chia sẻ bởi một số lượng lớn các nhà khoa học. Cảm xúc không tỏa ra từ khuôn mặt cũng như không phát ra từ cốt lõi bên trong cơ thể bạn. Chúng không phát ra từ một phần cụ thể của não. Không có phát kiến khoa học nào có thể tiết lộ một cách kỳ diệu dấu vân tay sinh học của bất kỳ cảm xúc nào. Đó là bởi vì các cảm xúc của chúng ta không phải thứ có sẵn và chờ đợi để được khám phá. Chúng được tạo ra. Bởi chính chúng ta. Chúng ta không nhận biết cảm xúc hay định nghĩa cảm xúc: chúng ta kiến tạo nên những trải nghiệm cảm xúc của riêng chúng ta, và những nhận thức của chúng ta về cảm xúc của người khác, ngay lúc đó, khi cần thiết, thông qua một quá trình tương tác phức tạp giữa các hệ thống. Loài người không lệ thuộc vào các mạch thần kinh cảm xúc thần thoại được chôn sâu vào các phần còn mang tính động vật trong bộ não đã tiến hóa cao của chúng ta: chúng ta là các kỹ sư tự tạo nên các trải nghiệm của chính mình.

Những ý tưởng này không khớp với các trải nghiệm trong cuộc sống hàng ngày, nơi mà chúng ta cảm thấy giống như là các cảm xúc xuất hiện như những quả bom nhỏ để phá vỡ bất cứ điều gì chúng ta đang nghĩ hoặc đang làm trong khoảnh khắc trước đó. Tương tự, khi chúng ta nhìn vào gương mặt và cơ thể của người khác, chúng cũng trông như thể đang thông báo cho chúng ta về cảm xúc của họ, mà chúng ta không cần nỗ lực để tìm hiểu, và thậm chí là chính chủ cũng có thể không nhận ra việc đó. Và khi nhìn những chú chó đang ư ử và những chú mèo đang gầm gừ, chúng ta dường như cũng phát hiện ra cảm xúc của chúng. Những những trải nghiệm cá nhân này, cho dù chúng hấp dẫn như thế nào, cũng không tiết lộ cách thức mà bộ não đã tạo ra cảm xúc – cũng giống như việc chúng ta nhìn mặt trời di chuyển trên bầu trời không có nghĩa là nó xoay quanh Trái Đất.

Nếu bạn là người mới đến với chủ nghĩa kiến tạo này, thì những ý tưởng “khái niệm cảm xúc” và “nhận thức cảm xúc” và “cấu hình khuôn mặt” có lẽ chưa phải là bản năng thứ hai* của bạn (second nature: loại bản năng có được do thực hành điều gì trong thời gian dài). Để thực sự hiểu cảm xúc – theo một cách phù hợp với kiến thức hiện đại về tiến hóa và khoa học thần kinh - bạn phải từ bỏ một số cách suy nghĩ đã ăn sâu vào tâm trí bạn. Để giúp bạn trên con đường đó, trong chương tiếp theo, tôi sẽ cung cấp cho bạn một số sự thật về chủ nghĩa kiến tạo. Chúng ta sẽ xem xét kỹ một phát hiện khoa học nổi tiếng về cảm xúc mà nhiều người tin là sự thật, và điều này đã đưa quan điểm cổ điển lên vị trí thống trị trong tâm lý học trong 5 thập kỷ. Chúng tôi sẽ giải nén nó từ góc độ kiến tạo và xem xem sự chắc chắn đã chuyển thành sự nghi ngờ như thế nào. Hãy thắt dây an toàn.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét