Nền tảng khoa học của các cảm xúc & các mối quan hệ
Mỗi người có cảm nhận & định nghĩa khác nhau về các cảm xúc. Ví dụ như khi bạn nói bạn đang VUI VẺ thì người nghe không thể hiểu hoàn toàn mức độ VUI VẺ của bạn. Cũng tương tự như với màu sắc, chúng ta đều cho rằng "màu sắc" là một thứ phổ quát - nhưng không phải, dựa trên các thí nghiệm đã thực hiện trong phòng thí nghiệm, khi kêu một người chọn sắc thái mà họ cho là "đỏ nhất", thì những người khác nhau chọn những tông màu khác nhau.
Để hiểu được cảm xúc, chúng ta phải hiểu được cảm xúc phát triển từ đâu. (Cũng như khi tìm hiểu về chức năng của một cấu trúc não, chúng ta phải biết 2 điều cơ bản: 1/ phần cấu trúc này nhận thông tin từ đâu và chuyển thông tin đến đâu (mối quan hệ của nó với các phần khác: ví dụ như phần não kết nối với mũi > xử lý mùi, phần não kết nối với mắt > xử lý thị giác), 2/ phần cấu trúc não nào xuất thân ở chỗ nào (do não là một khối di động, ở mỗi loài, phần cấu trúc não giống nhau nằm ở vị trí khác nhau, và cấu trúc não di chuyển từ chỗ này đến chỗ khác).
Ngoài ra, không có một phần cấu trúc não nào, hay mạch thần kinh nào chịu trách nhiệm hoàn toàn cho 1 loại cảm xúc. (Lisa Feldman Barrett)
Cảm xúc được xây dựng từ giai đoạn sơ sinh > vị thành niên > dậy thì > sau đó vẫn tiếp tục phát triển ở giai đoạn người lớn.
Nền tảng cho cảm xúc nằm ở 2 khái niệm: nội tại (interoception) và ngoại vi (exteroception). Những điều bạn cảm nhận được từ chính cơ thể mình (nội tại) như đói. Và những điều bạn cảm nhận từ thế giới bên ngoài cơ thể (ngoại vi) như ai đó làm bạn tức giận. Cảm xúc là thứ kết nối 2 điều này lại với nhau: ai đó comment xúc phạm bạn (extero) > bạn cảm thấy tức giận (emotions) > mạch đập nhanh hơn, thở nhanh hơn, huyết áp tăng lên (intero). Bạn cảm thấy dạ dày trống (intero) > bạn thấy đói (emotions) > bạn đi tìm thức ăn (extero).
Để định nghĩa loại cảm xúc, có 3 câu hỏi chính cần được trả lời:
1/ Mức độ kích động của bạn (autonomic arousal): bạn đang tỉnh táo và tập trung chú ý, hay bạn đang lơ đễnh và ngủ.
2/ Bạn đang cảm thấy tốt hay xấu.
3/ Bạn đang chú ý vào cảm xúc bên trong (mình đang thấy thế nào) hay cảm xúc từ bên ngoài (ai đó đang làm gì, chuyện gì đang xảy ra).
App: MOOD Meter.
1/ Giai đoạn sơ sinh:
Trẻ sơ sinh không biết exteroception, nó không cảm nhận và hiểu được thế giới: nóng, lạnh... Nó chỉ hiểu được interoception: nó khó chịu (anxiety), bao gồm: đói quá, nóng quá, lạnh quá. Và nó phản ứng với sự khó chịu này bằng cách khóc toáng lên > lúc này mẹ nó sẽ tới và cho nó ăn hoặc đắp chăn cho nó... > "khóc toáng lên" là thứ kết nối intero và extero, và qua thứ kết nối này nó bắt đầu trải nghiệm và dự đoán thế giới: nếu mình khóc thì mẹ sẽ cho mình ăn, nếu mẹ không cho ăn thì khóc lớn hơn nữa...
"Khóc toáng lên" là để xả anxiety từ intero ra extero, qua đó cân bằng giữa 2 thứ này (nhiều người lớn cũng thế).
(Readmore: Helen Fisher "Love", Lisa Feldman Barrett "Emotions Contextual", Allan Shore "Left Brain Right Brain")
Thí nghiệm trẻ nhỏ của Bowlby và Ainsworth: Các cặp mẹ & trẻ đến phòng thí nghiệm, 1/ mẹ và trẻ ở cùng nhau, chơi với nhau, 2/ mẹ rời đi, 3/ mẹ quay lại. Các nhà nghiên cứu xem xét phản ứng của trẻ khi người mẹ quay lại, và chia làm 4 danh mục dựa trên phản ứng của trẻ:
(1) A babies: vui vẻ khi mẹ quay lại (khóc khi mẹ rời đi) > secure attached
(2) B babies: không phản ứng quá nhiều khi mẹ quay lại > avoidant
(3) C babies: bực mình (giận dỗi) khi mẹ quay lại (giận vì mẹ rời đi) > ambivalent
(4) D babies: không tiếp xúc với ai khác, sợ hãi khi mẹ rời đi >
4 yếu tố tạo nên cảm xúc (emotionality) & sự gắn kết xã hội (social bonds)
1/ Ánh nhìn: cách người ta nhìn nhau
2/ Giọng nói
3/ Thể hiện cảm xúc
4/ Động chạm thể xác
+ 5/ Ngôn ngữ viết (email, tin nhắn...)
Ví dụ: có một phần trong não gọi là fusiform face area (?) Cha mẹ rất giỏi trong việc nhận ra giọng của con họ, ví dụ họ đang ở phòng khách, nhưng đột nhiên họ nghe thấy tiếng trẻ khóc và biết đó là con họ (trong khi bạn không nghe thấy gì cả). Tương tự, trẻ em rất giỏi trong việc nhận ra giọng của cha mẹ chúng. Hoặc các đôi yêu nhau thì vô cùng giỏi trong việc nhận ra cảm xúc của nhau (đang nói dối, đang bực mình, đang giận hờn...) > chúng ta rất giỏi nhận ra các đặc điểm cảm xúc của những người thân thiết.
Vậy, "cảm nhận điều gì đó" có ý nghĩa gì?
Sức khỏe cảm xúc (emotion health) thường gắn liền với việc những thứ extero ảnh hưởng đến intero như thế nào. Ví dụ, một người nói bản thân rất điềm tĩnh, nhưng họ chỉ điềm tĩnh khi môi trường xung quanh yên tĩnh, dễ chịu, còn khi môi trường thay đổi, hoặc có ai đó phá vỡ môi trường, họ trở nên mất bình tĩnh > cảm xúc của họ không bền (emotion labile).
Thí nghiệm ABCD babies đó là dấu hiệu chứng tỏ rằng từ khi sơ sinh, chúng ta đã có những loại phương thức khác nhau để tạo ra cân bằng từ outside > inside. (dấu hiệu của những tính cách khác biệt bẩm sinh)
Nhưng chúng ta không thể quay ngược quá khứ để biết xem lúc còn nhỏ chúng ta thuộc loại babies nào. Chúng ta có thể thử nghiệm bản thân để xem mình nghiêng về intero hay extero. (Ví dụ: khi bạn đến một bữa tiệc, và bạn phát hiện ra rằng mọi người đang nói chuyện vui vẻ với nhau còn bạn thì chỉ lo ngay ngáy xem răng mình có dính miếng hành hay không. Những người intero hay tập trung vào bản thân mình còn những người extero thì tập trung vào môi trường ngoài.)
Không có một mạch thần kinh riêng lẻ nào có thể giúp dự đoán ai là intero ai là extero. Thực tế, bạn chuyển từ intero sang extero liên tục mỗi giờ, mỗi ngày, mỗi hoàn cảnh, trong suốt cuộc đời bạn. Cả khi bạn đang nhìn chính mình với vai trò người thứ ba: bạn nghiên cứu bàn tay của mình thì đang intero (cơ thể mình) hay extero (dùng mắt nhìn đôi tay như một vật thể xa lạ).
Khi chúng ta ở trong một môi trường/ở bên cạnh những người mà chúng ta tin cậy > chúng ta ít interoceptive hơn. Khi chúng ta trải nghiệm một cảm xúc cực hạn (quá vui, quá buồn) > chúng ta nghiêng về interoceptive hơn và không chú ý đến môi trường ngoài.
2/ Giai đoạn puberty (dậy thì)
Hiện nay trẻ em dậy thì sớm hơn. 10 tuổi cho nữ và 12 tuổi cho nam. Lý do: leptin và kisspeptin tăng sớm.
Leptin là hormones ra dấu hiệu cho não rằng đã đủ fat cho cơ thể > cơ thể sẽ không chiết xuất và lưu giữ nhiều fat từ thức ăn nữa, leptin càng nhiều thì cơ thể càng ít dự trữ fat. (Đây là lý do ngày cheatday trong khi ăn kiêng hiệu quả > khiến cơ thể biết rằng đã có đủ leptin, cơ thể không trữ mỡ (fat) nữa). Trẻ béo phì không nhất thiết là sẽ dậy thì sớm, nhưng thường có xương to do leptin còn tăng độ chắc của xương.
Kisspeptin: thúc đẩy GnRA > LH > estrogen (nữ) và testosterone (nam). Trong não bộ, hypothalamus và tuyến yên (pituitary) có chức năng đo lường lượng hormones trong máu, nếu nhiều quá thì sẽ shut down nó đi. Nhưng kisspeptin làm giảm chức năng này và tăng mức độ hormones trong máu > dậy thì. (Hiện nay có nhiều người/vận động viên dùng kisspeptin để đạt được 1 số hiệu quả tương tự với khi dậy thì, thúc đẩy estrogen và testosterone, hiệu quả phụ.)
Pheromone ở động vật (ở con người vẫn còn đang tranh cãi là có hormone pheromone hay không). Pheromone là 1 hormone do 1 con vật phát ra và gây ảnh hưởng đến 1 con vật cùng loài khác. Hiệu ứng Vandenberg: khi cho 1 con vật giống cái chưa dậy thì gặp 1 con vật giống đực cùng loài mới mẻ (không phải cha hay anh em của nó), thì nó sẽ lập tức dậy thì. Hiệu ứng Bruce: khi con cái đang mang thai gặp con đực mới, nguy cơ nó sẽ sẩy thai - và nguy cơ này bị loại bỏ khi con đực là cha của con nó ở gần đó. Thí nghiệm pheromone ở người: một số phụ nữ vẫn có thể ngửi ra mùi của bạn trai mình trên cái áo đã giặt sạch của anh ta.
Dậy thì là quá trình một đứa trẻ chuyển thành người lớn: từ một generalist chuyển thành một specialist. Trong quá trình này, nó tạo nên các kết nối xã hội: nó là ai, liên quan gì trong cấu trúc xã hội, ai là người mà nó có thể tin cậy, và nó có thể dự đoán gì về thế giới. Nói tóm lại, dậy thì là giai đoạn đứa trẻ thử nghiệm về những dự đoán của nó với thế giới: "làm sao để kết nối và dự đoán về những thứ có thể làm cho mình vui vẻ". Trong quá trình dậy thì, có một sự thay đổi đáng kể trong các phần của não như: prefrontal cortex (nơi giúp kiểm soát hành vi), dopamine center (trung tâm động lực), và amydala (nỗi sợ hãi). Đồng thời, sự linh hoạt trí não (neuroplasticity) giảm dần về độ tuổi 20. (Xu hướng chống đối và rời xa cha mẹ (dispersal) ở tuổi dậy thì là phổ biến, có nền tảng khoa học lý giải (dopamine center) và xảy ra ở mọi loài chứ không riêng loài người).
Một số cách để giúp đứa trẻ dậy thì lành mạnh: 1/ Dinh dưỡng, 2/ Giấc ngủ đầy đủ, 3/ Cân bằng các mối quan hệ xã hội. >> giúp nó đánh giá tốt hơn về thế giới.
Một số thông tin liên quan đến cảm xúc:
Não trái/Não phải - Allan Shore: đối với những người thuận tay phải (hoặc thuận tay trái nhưng buộc phải đổi sang thuận tay phải): phần não trái kiểm soát ngôn ngữ. Phần não phải kiểm soát không gian. Có một phần bên não phải thuộc về ngôn ngữ: phần nhận diện prosody (âm điệu)
Oxytocin: xuất hiện trong quá trình cho con bú, tình dục và những động chạm không liên quan đến tình dục. Oxytocin hay được gọi là hormone tin tưởng (trust hormones). Hormones này làm tăng độ gắn kết do nó giúp người ta hiểu người khác đang cảm nhận như thế nào (tăng mức alertness - tỉnh táo và tập trung chú ý, và tăng exteroception - chú ý dành cho môi trường xung quanh). Một số thí nghiệm khi người ta dùng oxytocin: khi cho đàn ông ngửi oxytocin > giảm tần suất nhìn những người phụ nữ khác ngoài vợ mình, tăng mức tập trung chú ý thị giác lên vợ mình > tăng tính chung thủy trong hôn nhân. Oxytocin còn dùng trong chữa trị bệnh tự kỷ ở trẻ em > giúp chúng hiểu hơn về những người xung quanh.
*Mirror neurons (neuron phản chiếu): là một loại neuron không cụ thể mà một số nhà khoa học phát hiện ra dựa trên thí nghiệm quan sát thấy rằng người ta có xu hướng bắt chước người đối diện của mình (trẻ nhỏ cũng có xu hướng bắt chước này). Nhưng chưa thực sự có bằng chứng khoa học nào cho việc tồn tại của một loại neuron như vậy.
Có 1 loại thuốc hít oxytocin + ketamine trên thị trường: không recomend. (vì ketamine khá nguy hiểm với sức khỏe).
Cách để tăng oxytocin tự nhiên: vitamin D & melatonin (không khuyến khích)
Vasopressing cũng tương tự như Oxytocin > tăng tính chung thủy, tăng giddy love. Ngoài ra, vasopressing giữ nước, chống mất nước cho cơ thể (trái ngược với cồn - bia rượu, khiến tăng bài tiết)
Dây thần kinh phế vị: theo một thí nghiệm, một bệnh nhân nữ bị mắc chứng trầm cảm, khi đến gặp bác sĩ cô ấy nói về những điều chán nản, về tình trạng buồn phiền, chán ăn của cô ấy. Sau đó họ tăng kích thích phế vị (thông qua 1 cái máy) lên 1.5, thì trong vòng vài phút, biểu cảm của cô ấy hoàn toàn thay đổi - cô ấy vui vẻ kể về giáng sinh và các video mình đã xem trên youtube. Kích thích thần kinh phế vị có thể giúp sản sinh dopamine > tăng alertness.
Kết luận:
Có một khái niệm về cảm xúc là công cụ đắc lực nhất trong việc quản lý cảm xúc. Thay vì chỉ nghĩ đến cảm xúc như những nhãn dán: vui, buồn, trầm cảm... hãy nghĩ về cảm xúc như một phần của não bộ và cơ thể - nó bao trùm sự tỉnh táo (alertness) & và sự liên hệ giữa môi trường ngoài và bên trong cơ thể bạn. Và hãy bắt đầu nghĩ rằng cảm xúc là một cấu trúc giúp bạn hiểu hơn về bản thân, không chỉ trong bệnh tâm lý mà còn trong hoạt động thường ngày.
0 nhận xét:
Đăng nhận xét