GIEN
LƯỠNG CỰC CÓ DẪN ĐẾN SỰ DI CƯ KHÔNG?
Tôi rất nhanh đã hiểu được rằng khi bạn di
cư, bạn sẽ mất đi đôi nạng đã từng hỗ trợ bạn; bạn phải bắt đầu lại từ con số
không, bởi vì quá khứ đã bị bạn xóa đi bằng một nét bút đơn lẻ và chẳng còn ai
quan tâm đến việc bạn đến từ đâu hay đã từng làm gì.
- Isabel Allende, nhà văn
Việc mắc chứng lưỡng cực đôi khi không rõ ràng. Một số
người gặp chứng bệnh này ở mức độ trầm trọng, và số khác thì ở mức độ nhẹ hơn.
Một số người chỉ là có xu hướng lưỡng cực mà thôi. Chúng ta có thể nhìn thấy
các đặc tính trong nhóm người này tương tự với những tâm trạng lên xuống thất
thường, nhưng không tệ tới mức phải chẩn đoán đó là một loại bệnh. Nó hoàn toàn
phụ thuộc vào số lượng rủi ro di truyền mà người này thừa hưởng từ cha mẹ họ,
và những gien này dễ bị tổn thương như thế nào. Rủi ro di truyền kết hợp với điều
kiện sống của người này (thí dụ như họ có một tuổi thơ căng thẳng), và sản phẩm
cuối cùng của quá trình là một mức độ nào đó của chứng rối loạn lưỡng cực, hay
các tính cách lưỡng cực không nghiêm trọng tới mức phải gọi là bệnh.
Liệu có thể kết luận rằng, sự rối loạn chức năng nhỏ
trong cơ quan vận chuyển dopamine – chỉ một số ít các gien mang nguy cơ này hay
những gien có tác dụng nhẹ – có thể khiến cho người ta “ngứa chân” và muốn di
cư? Liệu việc này đóng vai trò nào đó trong việc người ta quyết định rời quê
nhà để tìm kiếm các cơ hội mới ở một đất nước khác? Tự nhổ bỏ gốc rễ của mình,
chia tay bạn bè và gia đình, rời khỏi cộng đồng quen thuộc, thoải mái và ủng hộ
luôn là một quyết định không dễ dàng. Andrew Carnegie, một người di cư vào thế
kỷ 19, anh bánh đầu làm việc ở một phân xưởng để kiếm từng đồng và sau đó trở
thành người đàn ông giàu nhất thế giới, đã viết rằng, “[những người] bằng lòng
với hiện tại không đủ can đảm trước những con sóng dữ ở Đại Tây Dương đầy bão tố,
mà chỉ ngồi bất lực ở nhà.”
Nếu gien lưỡng cực thúc đẩy sự di cư, những người đầy
tham vọng sẽ mang theo loại gien này với họ, và chúng ta có thể dự đoán rằng ở
những đất nước tập trung đông đúc dân di cư, thì lượng người có gien lưỡng cực
sẽ cao. Nước Mỹ là nơi mà người dân hầu hết là dân di cư và hậu duệ của họ. Nơi
này cũng có mức độ người mắc chứng rối loạn lưỡng cực cao nhất: 4.4%, gấp đôi
phần còn lại của thế giới. Liệu hai điều này có liên quan đến nhau không?
Nhật Bản, nơi hầu như không có di cư, có mức độ rối loạn
lưỡng cực là 0.7%, một trong những nơi thấp nhất thế giới. Những người bị rối
loạn lưỡng cực ở Mỹ có triệu chứng từ độ tuổi trẻ hơn, một đặc điểm cho chứng bệnh
trầm trọng hơn. Khoảng hai phần ba trong số họ xuất hiện triệu chứng bệnh từ
trước 20 tuổi, so với con số một phần tư ở Châu Âu. Điều này củng cố nhận định
rằng ở Mỹ tập trung nhiều người mang gien có tính rủi ro cao.
Loại gien giúp cơ thể chúng ta tạo ra chất vận chuyển
dopamine là chỉ là một trong rất nhiều gien khác. Không ai biết chính xác có
bao nhiêu gien tất cả, những rõ ràng là một số dạng di truyền gien đang đóng một
vai trò nào đó. Trẻ em được sinh ra bởi bố mẹ lưỡng cực có nguy cơ mắc chứng
này cao gấp đôi so với người khác. Một vài nghiên cứu đã phát hiện ra nguy cơ
này là gấp mười lần. Nhưng đôi khi đứa trẻ gặp may. Chúng có được những lợi thế
mà người lưỡng cực thích thú mà không bị mắc bệnh.
Như đã lưu ý ở trên, rối loạn lưỡng cực không phải
luôn luôn là một bệnh trạng rõ ràng. Các chuyên gia nghiên cứu rối loạn cảm xúc
luôn nói về nó dưới dạng quang phổ lưỡng
cực. Ở đầu bên này là lưỡng cực I. Những người mắc chứng bệnh này trải qua
những đợt hưng cảm trầm trọng và trầm cảm trầm trọng. Sau đó là lưỡng cực II.
Người mắc chứng lưỡng cực II phải chịu cơn trầm cảm trầm trọng, nhưng những cơn
hưng cảm của họ sẽ không quá mức trầm trọng (hypomania – hypo nghĩa là dưới, giống
như hypodermic là việc tiêm dưới da). Phía đầu bên kia của dãy quan phổ này là
rối loạn lưỡng cực theo chu kỳ (cyclothymia), đặc trưng với những chu kỳ hưng cảm
không quá trầm trọng và những giai đoạn trầm cảm nhẹ. Và cuối cùng có một thứ gọi
là tính cách tăng xúc cảm – hyperthymic, gốc từ Hy Lạp thymia – nghĩa là một trạng
thái lý trí.
Tính cách tăng xúc cảm không được xem là một loại bệnh.
Nó không bao gồm những giai đoạn khác biệt nhiều như chứng rối loạn lưỡng cực.
Người có tính cách tăng xúc cảm chỉ sở hữu tính cách hơn quá mức một chút, và họ
như vậy suốt. Theo Hagop Akiskal, người đã tiên phong nghiên cứu rất nhiều về vấn
đề này, những người có tính cách tăng xúc cảm thường lạc quan, phấn khởi, vui
tính, quá khích, quá tự tin, khoe khoang và tràn đầy năng lượng và kế hoạch. Họ
linh hoạt với nhiều sở thích khác nhau, quá quan tâm và hay xen vào chuyện của
người khác, tự nhiên và thích mạo hiểm, và họ thường không ngủ quá nhiều. Họ trở
nên quá mức nhiệt tình về những kế hoạch mới trong đời, như các chế độ ăn
kiêng, người yêu, các cơ hội kinh doanh, thậm chí là các tôn giá, và sau đó
nhanh chóng hết hứng. Họ thường có nhiều thành tựu, nhưng khó mà sống chung với
họ được.
Hình thái cuối dãy quang phổ lưỡng cực này thuộc về những
người đã thừa hưởng một lượng rất nhỏ các rủi ro di truyền. Những người này
không mắc phải các triệu chứng bất thường, nhưng họ rất thích những thứ như các
động lực, sự sáng tạo, họ có xu hướng hành động mạo hiểm và mạnh mẽ, và những
tính cách khác phản anh mức độ dopamine cao hơn so với người bình thường.
ĐẤT
NƯỚC CỦA DOPAMINE
Chúng ta đã phát hiện ra rằng gien lưỡng cực và chứng
rối loạn lưỡng cực chiếm tỉ lệ khá cao ở Mỹ. Còn những biểu hiện không phải bệnh
lý của tình trạng này thì sao? Liệu có bất kỳ bằng chứng nào cho việc những
tình trạng này cũng lan rộng hay không? Thực tế, có vô số bằng chứng cho việc này,
tất cả đều quy về những năm đầu tiên của nền cộng hòa.
Một trong những nhà quan sát văn hóa Mỹ sớm nhất là
Alexis de Tocqueville, một nhà ngoại giao, nhà khoa học chính trị và nhà sử học
người Pháp. Tocqueville đã mô tả các quan sát của ông về tính cách người Mỹ
trong thế kỷ 19 trong cuốn sách Democracy
in America (Nền dân chủ ở Mỹ). Ông nghiên cứu một quốc gia mới bởi vì ông
tìn rằng nền dân chủ sẽ thay thế cho chế độ phong kiến ở Châu Âu. Ông đã nghĩ rằng
nghiên cứu về hiệu quả của nền dân chủ ở Mỹ sẽ có ích cho những người Châu Âu
khi họ điều hướng hình thức chính phủ mới của mình.
Phần lớn những gì Tocqueville quan sát được có thể
liên quan đến nguyên tắc dân chủ của chủ nghĩa quân bình. Nhưng ông cũng mô tả
các tính cách của người Mỹ không liên quan đến triết lý chính trị. Một số tính
cách này đặc biệt giống với các triệu chứng của chứng rối loạn lưỡng cực, hoặc
chí ít là một tính cách dopamine. Ví dụ, ông dành một chương để mô tả “Sự say
mê cuồng tín của một số người Mỹ.” Ông viết rằng,
Mặc dù mong muốn có được
những điều tốt đẹp trên thế giới này là niềm đam mê phổ biến của người dân Hoa
Kỳ, nhưng một số người thể hiện một sự bùng phát nhất thời, khi tâm hồn của họ
dường như đột nhiên phá vỡ các mối liên kết với vật chất đã kìm hãm họ, và họ
phóng lên thiên đường.
Trong câu nói đơn lẻ này, chúng ta đã nhìn thấy sự
theo đuổi đầy đam mê dành cho nhiều hơn nữa
cũng như sức hấp dẫn của những thứ nằm ngoài lãnh địa của những giác quan thể
xác – thậm chí là một gợi ý về không gian ngoại vi phía trên – lãnh địa của
thiên đường. Tocqueville phát hiện ra rằng các hành vi của tính cách này đặc biệt
phổ biến ở “những người ở nửa đất nước phía Tây”, một nhận định phù hợp với khả
năng rằng những người tiên phong mạo hiểm đến định cư ở các bang phía Tây có thể
có nhiều tính cách mạo hiểm, tìm kiếm cảm giác và có thể đã mang trong mình loại
gien cho các trạng thái dopamine cao độ.
Chương tiếp theo có tiêu đề “Các yếu tố dẫn đến tinh
thần không ngơi nghỉ của người Mỹ trong giai đoạn thịnh vượng của họ”, đã mô tả
nhiều hơn trạng thái dopamine dưới dạng họ không bao giờ biết đủ. Tocqueville
ghi nhận rằng bất chấp việc được sống “ở hoàn cảnh hạnh phúc nhất thế giới”,
người Mỹ luôn “sốt xình xịc” mà theo đuổi một cuộc sống tốt đẹp hơn. Ông viết rằng:
Ở
Mỹ, một người đàn ông xây dựng một ngôi nhà để ở trong những năm sau này, và
anh ta bán nó ngay khi vừa cất nóc; anh ta trồng một khu vườn, rồi cho thuê
ngay khi những cái cây bắt đầu ra quả: anh ta sẽ đi đào bới một mảnh ruộng
khác, và để cho người khác thu hoạch vụ mùa: anh ta chìm sâu vào một nghề nghiệp,
rồi sau đó vứt bỏ nó: anh ta định cư ở một nơi, rồi sau đó nhanh chóng rời khỏi,
mang theo những hành lý có thể thay đổi bất cứ lúc nào đến nơi khác. Nếu công
việc riêng khiến anh ta rảnh rỗi, anh ta ngay lập tức lao vào vòng xoáy chính
trị; và khi một năm lao động không ngừng nghỉ kết thúc và anh ta có một vài này
nghỉ, thì sự tò mò đầy háo hức của anh ta sẽ kéo anh ta đi khắp chiều dài nước
Mỹ, và anh ta sẽ di chuyển 1,500 dặm trong vài ngày, để rũ bỏ sự hạnh phúc của
mình.
Tocqueville đã mô tả một quốc gia của những người mang
tính cách tăng xúc cảm.
CÁC
NHÀ PHÁT MINH, DOANH NHÂN, VÀ NGƯỜI THẮNG GIẢI NOBEL
Là một đất nước của dân di cư, Hoa Kỳ đã đạt được những
thành tựu ngoạn mục mang tính dopamine. Theo một bản tóm tắt nghiên cứu được xuất
bản bởi Viện Nghiên cứu Nhập cư tại Đại học George Mason, từ năm 1901 đến 2013,
nước Mỹ đã nhận được 42% các giải Nobel, tỉ lệ này cao hơn bất kỳ nước nào trên
thế giới. Hơn nữa, một số lượng bất cân xứng những người Mỹ đoạt giải Nobel thuộc
về những người nhập cư. Trong số này, đa số họ đến từ Canada (13%), Đức (11%)
và Anh quốc (11%).
Nước Mỹ tiếp tục thu hút dân di cư trên toàn thế giới,
và dân số di cư này tiếp tục bao gồm một tỉ lệ lớn những cá nhân xuất chúng. Một
số công ty đóng vai trò quan trọng nhất trong nền kinh tế được lập ra bởi người
di cư, bao gồm Google, Intel, PayPal, eBay và Snapchat. Chỉ trong năm 2005, 52%
các công ty start-up ở Thung Lũng Silicon được tạo ra bởi những doanh nhân là
người di cư, một con số đáng kể khi so sánh với việc người di cư chỉ chiếm 13%
trong tổng dân số Hoa Kỳ. Đất nước đã mang lại số lượng doanh nhân công nghệ lớn
nhất cho Mỹ là Ấn Độ.
Trong cuốn sách Những
người ngoại lệ: Di cư đã định hình thế giới của chúng ta và sẽ xác định tương
lai của chúng ta như thế nào, các tác giả đã báo cáo rằng trong nằm 2006,
40% trong toàn bộ các bằng sáng chế quốc tế được cấp bởi chính phủ Mỹ là thuộc
về những nhà sáng chế và đồng sáng chế người nước ngoài sống ở Mỹ. Những người
nhập cư cũng chiếm phần lớn bằng sáng chế của các công ty công nghệ hàng đầu:
60% trong tổng số bằng sáng chế tại Cisco, 64% tại General Electric, 65% tại
Merck và 72% tại Qualcomm.
Người di cư không chỉ tạo ra các công ty công nghệ. Từ
các salon chăm sóc móng tay, các nhà hàng, các tiệm giặt khô cho đến những công
ty phát triển nhanh nhất ở Mỹ, những người di cư đã xây dựng lên một phần tư
trong tất cả ngành kinh doanh mới ở Mỹ - bình quân đầu người cao gấp đôi so với
những người Mỹ khác. Và khi nhìn rộng ra tinh thần kinh doanh, chúng ta có thể
hoàn thiện vòng tròn và tìm thấy sự liên kết trực tiếp với dopamine.
Một nhóm các nhà nghiên cứu được dẫn đầu bởi Nicos
Nicolaou thuộc Trung tâm Nghiên cứu Doanh nghiệp Đổi mới và Khởi nghiệp tại Trường
Kinh doanh Warwick đã thuê hơn 1,335 người ở Anh và yêu cầu họ điền vào một bảng
câu hỏi về tinh thần kinh doanh và sau đó lấy mẫu máu để kiểm ra DNA. Độ tuổi
trung bình của tình nguyện viên là khoảng 55 tuổi và có 83% là phụ nữ. Nicolaou
đã phát hiện ra rằng một gien dopamine có hai dạng (allele), giống hệt nhau ngoại
trừ một khối cấu trúc duy nhất. Sự biến đổi đó trong khối cấu tạo (được gọi là
axit nucleic) khiến một dạng gien này hoạt động mạnh hơn dạng gien kia. Những
người có dạng gien mạnh hơn thì có tỉ lệ khởi nghiệp gần như cao gấp đôi so với
người có dạng gien yếu hơn.
Cần phải chú ý rằng không chỉ có nước Mỹ được định
hình bởi những người di cư mang tính dopamine cao. Giám sát Tinh thần Doanh
nhân Toàn cầu, một dự án đang diễn ra được tài trợ bởi Trường Cao đẳng Babson
và Trường Kinh tế London, đã phát hiện ra bốn quốc gia có số lượng công ty khởi
nghiệp trên đầu người cao nhất là Mỹ, Canada, Israel và Úc – ba trong số này nằm
trong những đất nước có dân số di cư cao nhất thế giới, và đất nước còn lại,
Israel – đất nước chỉ mới thành lập dưới dạng một tiểu bang nhập cư trong chưa
đầy ba thế hệ.
Số lượng người sở hữu lượng dopamine cao là một con số
giới hạn, vì vậy mất mát của nước này sẽ thành lợi thế của nước khác. Nhiều người
Mỹ di cư đến từ Châu Âu, sự di cư này làm tăng mật độ gien dopamine ở Mỹ, và
khiến cho dân cư sinh sống ở Châu Âu đa phần có lối sống N&L.
Trung tâm nghiên cứu Pew đã tiến hành một khảo sát để
hiểu hơn về sự khác biệt giữa người Mỹ và người Châu Âu, và đã xuất bản các
nghiên cứu của mình trong một báo cáo tựa đề Khoảng cách giá trị giữa Mỹ-Tây Âu. Mặc dù các giá trị này bị ảnh
hưởng bởi nhiều yếu tố khác ngoài gien, nhưng một số các câu hỏi mà họ đặt ra
liên quan mật thiết đến tính cách dopamine. Ví dụ, họ hỏi, “Có phải thành công
trong đời được xác định bởi những yếu tố bên ngoài sự kiểm soát của chúng ta?” Ở
Đức, 72% trả lời có. Ở Pháp là 57%, ở Anh là 41%. Tuy nhiên, chỉ có hơn một phần
ba người Mỹ trả lời rằng các yếu tố bên ngoài kiểm soát thành công, trong khi
phần lớn dân Mỹ có cái nhìn nghiêng về dopamine hơn.
Sự khác biệt dopamine cho cũng xuất hiện ở nhiều câu hỏi
khác. Người Mỹ có xu hướng ủng hộ việc sử dụng lực lượng quân đội – áp đặt thay
đổi theo đúng nghĩa đen – để đạt được các thành tựu quốc gia. Ít người trong số
họ cho là phải xin phép từ Liên Hiệp Quốc. Họ cũng đánh giá cao tôn giáo trong
đời sống hơn, với 50% nói rằng tôn giáo rất quan trọng. Ở Châu Âu thì ít hơn
phân nửa nói như vậy: ở Tây Ban Nha chỉ có 22%, Đức 21%, Anh 17% và Pháp 13%.
Mỹ và những xã hội di cư khác có lượng gien dopamine
nhiều nhất, nhưng cách sống mang tính dopamine đã trở thành một phần gắn liền với
văn hóa hiện đại, dù gien của người đó có ủng hộ lối sống này hay không. Thế giới
hiện nay được định hình bởi dòng thông tin không bao giờ kết thúc, các sản phẩm
mới vô tận, các quảng cáo, và nhu cầu cho nhiều hơn nữa. Dopamine bây giờ gắn
liền với phần quan trọng nhất trong đời sống của chúng ta. Dopamine đã chiếm lấy
linh hồn của chúng ta.
TÔI,
DOPAMINE
Những tế bào sản sinh dopamine chỉ chiếm có 0,0005%
trong bộ não. Đây là một tỉ lệ siêu nhỏ trong số những tế bào giúp chúng ta định
hướng thế giới này. Tuy nhiên, khi chúng ta ngẫm nghĩ sâu sắc về việc mình là
ai, chúng ta đang nghĩ về chính những tế bào siêu nhỏ này. Chúng ta xác nhận
danh tính của mình bằng dopamine. Trong suy nghĩ của chúng ta, chúng ta chính là dopamine.
Thử hỏi một triết gia xem bản chất cốt lõi của loài
người là gì, và không có gì bất ngờ khi ông ấy trả lời rằng đó là ý chí tự do.
Bản chất cốt lõi của nhân loại là khả năng vượt lên trên bản năng, vượt lên trên
những phản xạ tự nhiên đối với môi trường xung quanh. Nó là khả năng cân đo
đong đếm các lựa chọn, xem xét những khái niệm cao cấp hơn như các giá trị và
nguyên tắc, sau đó tạo ra một lựa chọn cẩn thận để tối đa hóa thứ mà chúng ta
tin rằng nó tốt cho chúng ta – dù đó là tình yêu, tiền bạc, hay sự đam mê trong
tâm hồn. Đó là dopamine.
Giới học thuật có thể nói rằng bản chất cốt lõi của họ
là khả năng hiểu được thế giới. Đó là khả năng để vượt lên trên dòng thông tin
đến từ những giác quan trên cơ thể để hiểu được ý nghĩa của những điều họ cảm nhận được. Họ đánh giá, phát xét, và
dự đoán. Họ thấu hiểu. Đó là dopamine.
Những người theo chủ nghĩa khoái lạc thì tin rằng cốt
lõi của họ là phần khiến họ cảm nhận được khoái cảm. Dù đó là từ rượu, hay phụ
nữ, hay các bài hát, mục đích sống của họ là tối đa hóa những phần thưởng họ có
được từ việc theo đuổi nhiều hơn nữa.
Đó là dopamine.
Những nghệ sĩ sẽ nói rằng cốt lõi của con người họ là
khả năng sáng tạo của họ. Đó là năng lực thần thánh để tạo ra những sản phẩm
minh họa cho các sự thật và vẻ đẹp chưa từng tồn tại trước đó. Suối nguồn sáng
tạo này là cốt lõi trong sự tồn tại của họ. Đó là dopamine.
Cuối cùng, những người tâm linh sẽ nói rằng gốc rễ của
nhân loại là đấng siêu nhiên. Nó là thứ vượt lên trên vật chất thực tế - phần
quan trọng nhất trong mỗi chúng ta là tâm hồn bất tử - nó tồn tại vượt ra mọi
không gian và thời gian. Vì chúng ta không thể nhìn hay nghe hay ngửi hay nếm,
hay chạm và các tâm hồn, chúng ta chỉ cảm nhận chúng bằng trí tưởng tượng của
mình. Đó là dopamine.
0 nhận xét:
Đăng nhận xét