… sự bắt đầu là
nơi mà sự kết thúc được sinh ra.
- Catherynne M.
Valente, nhà văn
CHƯƠNG
6
SỰ
TIẾN BỘ
Điều
gì xảy ra khi kẻ hầu trở thành ông chủ?
Trong
đó dopamine bảo đảm cho sự sống sót của người nguyên thủy và sự diệt vong của
loài người.
BÊN
NGOÀI CHÂU PHI
Khoảng 200,000 năm trước, loài người hiện đại tiến hóa
ở Châu Phi, và khoảng 100,000 năm sau đó, họ bắt đầu tản ra các nơi khác trên
thế giới. Sự di cư này vô cùng quan trọng đối với sự sống còn của loài người,
có nhiều bằng chứng về gien cho việc chúng ta suýt nữa đã không sống sót nổi. Một
trong những đặc tính bất thường nhất ở bộ gien loài người chúng ta có rất ít
khác biệt về gien giữa người và người, so với các loài linh trưởng khác như vượn
và khỉ đột. Sự giống nhau về gien ở mức độ cao này cho thấy chúng ta đều là hậu
nhân của một số lượng rất nhỏ tổ tiên loài người. Thực tế, ở giai đoạn đầu của
lịch sử tiến hóa, những sự kiện mà chúng ta chưa biết đã giết chết phần lớn
loài người, và dân số dao động đâu đó ở mức thấp 20,000 người, đe dọa nghiêm trọng
đến sự tồn vong của loài.
Sự kiện gần như diệt chủng đó đã giải thích lý do tại
sao đối với loài người, việc di cư là vô cùng quan trọng. Khi một giống loài tập
trung ở một khu vực nhỏ, toàn bộ dân số có thể bị quét sạch bằng nhiều cách
khác nhau. Mất mùa, bệnh tật, và những thảm họa khác có thể dễ dàng tạo ra sự
tuyệt chủng. Mặt khác, việc phân tán ra nhiều vùng khác giống như một chính
sách bảo hiểm. Dù toàn bộ dân số ở một khu vực bị sụp đổ, thì cũng không tạo ra
sự tuyệt chủng hoàn toàn.
Dựa trên vẻ ngoài và tần số của các dấu hiệu di truyền
ở các dân tộc hiện đại, các nhà khoa học ước tính rằng loài người di tản đến
Châu Á khoảng 75,000 năm trước. Họ đến Châu Úc 46,000 năm trước, và đến Châu Âu
43,000 năm trước. Việc di cư đến Bắc Mỹ trễ hơn, tầm khoảng 30,000-14,000 năm
trước. Ngày nay, con người chiếm đóng gần như toàn bộ mọi ngóc ngách trên địa cầu
– nhưng không phải vì con người nhận ra các mối đe dọa và phân tán ra.
GIEN
PHIÊU LƯU
Các nghiên cứu trên loài chuột cho thấy rằng các loại
thuốc thúc đẩy sản sinh dopamine cũng làm tăng các hành vi khám phá. Những con
chuột được tiêm thuốc này di chuyển xung quanh cái lồng của nó nhiều hơn và ít
ngại ngùng khi bước vào các môi trường lạ lẫm hơn. Do đó, liệu có phải dopamine
đã thúc đẩy loài người thủa sơ khai đi ra khỏi Châu Phi và đi khắp địa cầu
không? Để trả lời câu hỏi này, các nhà khoa học từ Đại Học California đã kết hợp
dữ liệu từ 12 nghiên cứu khác nhau đo đạc tần số của gien dopamine ở khắp nơi
trên thế giới.
Họ tập trung vào loại gien khiến cơ thể chúng ta tạo
ra thụ thể dopamine D4 (DRD4). Bạn có thể nhớ lại rằng các thụ thể dopamine là
những proteins gắn chặt vào phần bên ngoài các tế bào não. Nhiệm vụ của một thụ
thể dopamine là chờ đợi phân tử dopamine đến để ràng buộc với nó. Sự ràng buộc
này tạo ra một loạt các phản ứng hóa học bên trong tế bào làm thay đổi cách thức
hoạt động của tế bào.
Chúng ta đã gặp loại gien này trước đây, khi chúng ta
bàn về mối quan hệ giữa hệ tư tưởng chính trị và việc tìm kiếm những điều mới mẻ.
Những gien này xuất hiện trong những biến thể khác nhau gọi là allele. Các
allele đại diện cho những biết thể nhẹ trong việc mã hóa gien tạo ra cho chúng
ta những tính cách khác nhau. Những người có cấu tạo gien DRD4 dài, như allele
7R, thì có xu hướng mạo hiểm hơn. Họ theo đuổi những trải nghiệm mới vì họ
không chịu đựng nổi sự nhàm chán. Họ thích khám phá những nơi chốn mới mẻ, những
ý tưởng, thức ăn, thuốc, và tình dục mới mẻ. Họ là những nhà phiêu lưu. Trên
toàn thế giới, cứ 5 người thì có một người có alen 7R, nhưng có sự khác biệt
đáng kể giữa các nơi.
CÀNG
NHIỀU DOPAMINE, THÌ KHOẢNG CÁCH CÀNG XA
Các nhà nghiên cứu thu thập dữ liệu gien từ các tuyến
đường di cư nổi tiếng nhất ở Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Đông Á, Đông Nam Á, Châu Phi và
Châu Âu. Khi họ phân tích các dữ liệu này, họ phát hiện ra một mẫu chung rõ
ràng. Trong những quần thể ở gần gốc gác của họ, thì số người có allele DRD4
dài ít hơn nhiều so với trong những quần thể đã di cư đến những nơi xa.
Một trong những lộ trình di cư mà các nhà nghiên cứu
xem xét là con đường bắt đầu từ Châu Phi, đi qua Đông Á, qua eo biển Bering đến
Bắc Mỹ, sau đó xuống Nam Mỹ. Đó là một quãng đường dài – và các nhà nghiên cứu
đã phát hiện ra rằng nhóm người đã đi hết con đường này – người Nam Mỹ bản địa,
có tỉ lệ người sở hữu allele dopamine dài thuộc loại cao nhất với 69%. Những
người di cư theo con đường ngắn hơn và dừng lại ở Bắc Mỹ thì chỉ có 32% có
allele dài này. Quần thể bản địa ở Trung Phi thì khoảng 42%. Trung bình, người
ta ước tính tỉ lệ số người sở hữu allele dài sẽ tăng 4.3% cho mỗi 1,000 dặm di
cư.
Một khi đã xác định rằng allele 7R từ gien DRD4 liên
quan đến việc một quần thể sẽ di cư bao xa, thì câu hỏi kế tiếp sẽ là tại sao? Tại sao allele 7R lại phổ biến ở
những quần thể di tản xa hơn? Câu trả lời rõ ràng chính là dopamine khiến người
ta tìm kiếm nhiều hơn. Nó làm cho người ta cảm thấy không thỏa mãn và không muốn
nghỉ ngơi. Nó khiến người ta khao khát những thứ tốt đẹp hơn. Đây chính xác là
những dạng người sẽ rời bỏ một cộng đồng đã được xây dựng để đi tìm và khám phá
những điều họ chưa biết. Nhưng cũng có một cách giải thích khác.
SỰ
SỐNG CÒN CỦA NHỮNG NGƯỜI PHÙ HỢP NHẤT
Có thể những bộ lạc di cư đã rời khỏi nơi họ ở vì nhiều
lý do khác không liên quan đến việc tìm kiếm những điều mới mẻ. Có thể họ rời
đi vì mâu thuẫn, họ cũng có thể họ săn bắt những loài vật di cư. Có nhiều lý do
khả dĩ không liên quan đến dopamine, nhưng câu hỏi vẫn là: Dưới những tình huống
này, tại sao trong quần thể di cư lại có nhiều người sở hữu nhiều allele 7R
hơn? Câu trả lời là, có lẽ allele 7R tạo ra việc di cư, nhưng khi đã bắt đầu,
thì allele này khiến cho người sở hữu nó có nhiều cơ hội sống còn hơn.
Một lợi thế đến từ allele 7R là nó khiến cho những người
sở hữu nó khám phá những môi trường mới, ở đây họ có thể tìm ra các cơ hội mới
để tối đa hóa các nguồn lực. Nói cách khác, nó thúc đẩy tìm kiếm những điều mới
mẻ. Ví dụ, một bộ lạc ban đầu có thể sống ở một vùng địa lý có khí hậu ổn định,
và có cùng loại thức ăn suốt cả năm. Tuy nhiên, sau khi di chuyển đến một vùng
mới, các thành viên trong bộ lạc di cư này gặp phải thời tiết khô hạn và mưa
rào, và họ phải học cách thay đổi nguồn thức ăn khi thời tiết thay đổi. Để tìm
ra cách để làm việc này thì cần phải có tính mạo hiểm và thu thập kinh nghiệm.
Cũng có nhiều bằng chứng chứng minh cho việc những người
sở hữu allele 7R học hỏi nhanh hơn, đặc biệt là khi câu trả lời đúng sẽ tạo cho
họ phần thưởng. Nói chung, người sở hữu 7R nhạy cảm với các phần thưởng hơn; họ
có những phản ứng mạnh mẽ hơn đối với chiến thắng và thua cuộc. Kết quả là, khi
học đến những môi trường xa lạ và cần phải thích nghi với các thói quen mới để
sống sót, những người sở hữu 7R làm việc chăm chỉ hơn để hiểu biết về mọi thứ
vì cảm giác của họ đối với thành công và thất bại mạnh mẽ hơn.
Một lợi thế khác đến từ allele 7R liên quan đến thứ có
tên là phản ứng thấp với các yếu tố gây
căng thẳng mới (low reactivity to novel stressors). Thay đổi gây căng thẳng
– dù là thay đổi theo hướng tốt hay theo hướng xấu. Ví dụ như, ít có thứ gì gây
căng thẳng nhiều hơn việc ly hôn, nhưng kết hôn thì cũng không hề dễ dàng. Phá
sản rất căng thẳng nhưng trúng vé số cũng vậy. Những thay đổi theo hướng xấu có
thể tạo ra nhiều căng thẳng hơn những thay đổi theo hướng tốt, nhưng yếu tố
quan trọng nhất ở đây là mức độ của sự thay đổi. Thay đổi càng nhiều thì căng
thẳng càng tăng.
Căng thẳng không tốt cho sức khỏe. Trên thực tế, căng
thẳng gây chết người. Căng thẳng làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim, chứng ngủ kém,
các vấn đề tiêu hóa, và suy giảm hệ thống miễn dịch. Nó cũng tạo ra trầm cảm –
thứ dẫn đến năng lượng thấp, động lực kéo, sự vô vọng, các suy nghĩ về cái chết,
và đơn giản là từ bỏ, tất cả những điều này chống lại sự sống còn. Trong những
tổ tiên tiến hóa của chúng ta, những người nhạy cảm với sự căng thẳng thần kinh
sẽ gặp phải nhiều khó khăn hơn trong việc chiết xuất các nguồn lực từ môi trường
xung quanh khi họ phải thay đổi môi trường sống. Họ là những người thợ săn ít
thành công hơn, những người hái lượm ít năng suất hơn. Điều này khiến họ ít thu
hút được bạn đời hơn, và đôi khi họ không sống đủ lâu để có con – và như thế họ
không thể truyền mã gien của mình cho thế hệ tiếp theo.
Dù vậy, không phải tất cả mọi người đều sẽ gặp căng thẳng
khi phải thay đổi. Một công việc mới, một thành phố mới, thậm chí là một nghề
nghiệp mới có thể khiến những người có tính cách dopamine thích thú và cung cấp
năng lượng cho họ. Họ phát triển mạnh hơn trong những môi trường xa lạ. Trong
thời cổ đại, họ có xu hướng thích nghi tốt hơn bất chấp những thay đổi lớn
trong lối sống của họ. Họ có thể cạnh tranh tốt hơn trong việc tìm bạn đời, và
kết quả là họ có thể truyền lại gien dopamine của mình. Theo thời gian, những
allele giúp người ta dễ dàng thay đổi để phù hợp với những môi trường xa lạ trở
nên phổ biến hơn trong quần thể, trong khi những allele khác trở nên hiếm hoi
hơn.
Tất nhiên, những người sở hữu allele 7R không phải
luôn phù hợp với mọi hoàn cảnh. Những mình có tính cách dopamine có thể làm tốt
khi phải đối mặt với những tình huống mới, nhưng họ luôn gặp khó khăn với các mối
quan hệ. Điều này đóng vai trò khá quan trọng, vì kỹ năng xã hội cũng là một lợi
thế mạnh trong tiến hóa. Dù một người có to lớn, khỏe mạnh hay thông minh đến mức
nào, thì họ vẫn không thể cạnh tranh với những người làm việc nhóm tốt. Các cá
thể đơn lẻ không đấu lại các nhóm. Trong tình huống này, nhu cầu hợp tác là tối
quan trọng, còn tính cách dopamine chỉ là một thứ trách nhiệm.
Do đó, tất cả đều phụ thuộc vào môi trường. Dưới tình
huống quen thuộc, thì sự hợp tác xã hội sẽ đóng vai trò lớn nhất, những gien
mang tính dopamine cao sẽ ít phổ biến hơn vì các lợi thế sống còn và tìm kiếm bạn
tình đến từ loại gien sẽ giảm đi, so với lợi thế đến từ mức độ dopamine cân bằng
hơn. Mặt khác, khi một bộ lạc di cư đến những nơi xa lạ, thì những gien giúp
con người có hệ thống dopamine tích cực hơn sẽ tạo ra lợi thế và trở nên phổ biến
hơn theo thời gian.
CÁI
NÀO MỚI ĐÚNG?
Điều này dẫn chúng ta đến hai lý thuyết đối lập nhau:
1. Các
gien mang tính dopamine thúc đẩy người ta tìm kiếm các cơ hội mới. Kết quả là
những gien này phổ biến hơn ở các quần thể di cư khỏi quê quán tiến hóa của họ.
2. Một
thứ gì đó đã khiến người ta tìm kiếm những cơ hội mới mẻ, và các gien mang tính
dopamine cho phép một số người trong số đó sống sót và sinh sản thành công hơn
những người khác.
Chúng ta có thể quyết định cái nào mới đúng dựa trên
điều gì?
Ở đây, vấn đề trở nên phức tạp hơn. Nếu các gien
dopamine khiến người ta bắt đầu (ví dụ, bắt đầu tìm kiếm cuộc sống tốt đẹp
hơn), thì chúng ta sẽ tìm thấy rất nhiều allele 7R trong mọi nhóm người đã rời
khỏi Châu Phi. Đó sẽ là lý do cho việc họ sẽ di cư trong vài thế hệ rồi dừng lại
ở nơi gần với gốc gác của mình, hay họ sẽ di cư trong nhiều thế hệ rồi dừng lại
ở một nơi xa xôi hơn. Bởi vì cần có nhiều dopamine để bắt đầu việc di cư này,
nên nơi mà các bộ lạc dừng chân không quan trọng lắm. Những người rởi đi sẽ có
nhiều hơn, còn những người ở lại thì sẽ có ít hơn.
Mặt khác, nếu người ta bắt đầu di cư mà không cần đến
allele 7R, thì chúng ta sẽ thấy một sự thay đổi dần dần trong số lượng người sở
hữu nó. Lý do là: nếu một bộ lại di cư trong khoảng cách ngắn, chỉ có một vài
thế hệ phải trải nghiệm những môi trường xa lạ. Một khi họ dừng lại, thì môi
trường xa lạ đó sẽ trở nên quen thuộc, và allele 7R sẽ không còn là một lợi thế
nữa. Một khi trò chơi kết thúc, thì những người sở hữu allele 7R sẽ ít có khả
năng có nhiều con như những người hàng xóm có ít dopamine hơn. Lúc này, mọi
allele khác nhau đều được di truyền ngang nhau cho con cái của họ.
Tuy nhiên, đối với các bộ lạc tiếp tục di chuyển, họ sẽ
liên tục gặp phải các môi trường xa lạ từ thế hệ này đến thế hệ khác. Lợi thế
7R sẽ được tái sinh sản, và những người sở hữu 7R sẽ sống lâu hơn và có nhiều
con cái hơn. Theo thời gian allele 7R sẽ trở nên phổ biến hơn trong cộng đồng
những người di cư xa này. Và đó là kết quả mà chúng ta đã nhìn thấy. Một quần
thể di cư càng xa, thì tần số allele 7R trong họ càng cao. Nó không khiến họ di
cư, nhưng nó giúp họ sống sót khi họ di cư.
DI
CƯ
Việc di chuyển vòng quanh địa cầu ngày nay rất khác với
những gì mà tổ tiên của chúng ta đã trải qua. Di cư ra khỏi đất nước bản địa là
một quyết định mang tính cá nhân hơn là mang tính bộ lạc. Và mặc dù lý do cho
việc này có thể giống nhau – để tìm kiếm những cơ hội tốt hơn – thì allele 7R
và thụ thể dopamine D4 không còn đóng vai trò quá quan trọng nữa. Những quần thể
di cư có cùng tỉ lệ các allele 7R với những người vẫn sinh sống ở quê hương họ.
Dù sao đi nữa, việc này vẫn liên quan đến dopamine, nhưng liên quan theo một
cách rất khác.
Ở chương 4, khi chúng ta nói về vai trò của dopamine
trong hoạt động sáng tạo, chúng ta so sánh sự sáng tạo với chứng tâm thần phân
liệt, một bệnh lý thần kinh được tạo ra bởi nồng độ dopamine quá cao trong mạch
thần kinh ham muốn. Chúng ta đã bàn về những mặt giống nhau giữa những ảo giác
tâm thầm và những ý tưởng sáng tạo và thậm chí là những giấc mơ bình thường.
Nhưng chứng tâm thần phân liệt không phải là bệnh lý duy nhất mà nồng độ
dopamine quá cao gây ra. Chứng rối loạn lưỡng cực, đôi khi còn gọi là bệnh lý
hưng-trầm cảm, cũng mang yếu tố dopamine, và trạng thái của bệnh lý này cũng
liên quan đến việc di cư.
HƯNG
CẢM LƯỠNG CỰC: MỘT TRẠNG THÁI KHÁC CỦA VIỆC CÓ QUÁ NHIỀU DOPAMINE
Lưỡng
cực (bipolar) có nghĩa là hai thái cực cảm xúc (giống
như bicycle – xe đạp thì có 2 cycle-bánh xe). Những người mắc chứng rối
loạn lưỡng cực trải qua những giai đoạn trầm cảm khi tâm trạng của họ thấp bất
thường, và giai đoạn hưng cảm khi tâm trạng của họ lên quá cao. Giai đoạn hưng
cảm liên quan đến nồng độ dopamine quá cao – một việc khá dễ hiểu khi nhìn thấy
các triệu chứng của giai đoạn này: năng lượng cao, tâm trạng vui vẻ, những suy
nghĩ chạy đua liên tục trong đầu và nhảy từ chủ đề này sang chủ đề khác, làm vô
số việc để theo đuổi vô số mục tiêu cùng một lúc, và hứng thú quá mức đối với
những hành vi mang tính mạo hiểm và tìm kiếm khoái cảm như tiêu pha không kềm
chế và hành vi tình dục lăng nhăng.
Nhiều người mắc chứng rối loạn lưỡng cực chịu thiệt hại
trầm trọng từ căn bệnh này. Họ không thể giữ công việc của mình hay duy trì những
mối quan hệ lành mạnh. Những người được điều trị y tế thì có thể sống một cuộc
đời bình thường khi uống các loại thuốc giúp ổn định cảm xúc. Một số ít người
thì có thể sống một cuộc đời phi thường. Trên khắp thế giới, có khoảng 2,4% người
mắc chứng rối loạn lưỡng cực, nhưng căn bệnh này phổ biến hơn ở một số nhóm người
cụ thể. Các nhà nghiên cứu ở Iceland đã phát hiện ra rằng có khoảng 25% những
người hoạt động trong các lĩnh vực sáng tạo như khiêu vũ, diễn xuất, âm nhạc và
sáng tác mắc chứng rối loạn lưỡng cực, so với những người làm các công việc
không cần sáng tạo. Trong một nghiên cứu khác, các nhà khoa học từ Đại học
Glasgow đã theo dõi hơn 1,800 người từ 8 đến hơn 20 tuổi. Họ phát hiện ra rằng
khi người ta 8 tuổi, điểm IQ càng cao thì càng dễ dẫn đến nguy cơ mắc chứng rối
loạn lưỡng cực ở tuổi 23. Những bộ não thông minh hơn thì dễ bị các bệnh lý thần
kinh liên quan đến dopamine hơn so với những bộ não thông thường.
Rất nhiều người sáng tạo và nổi tiếng đã tiết lộ rằng
họ mắc chứng rối loạn lưỡng cực. Bao gồm Francis Ford Coppola, Ray Davies,
Patty Duke, Carrie Fisher, Mel Gibson, Ernest Hemingway, Abbie Hoffman, Patrick
Kennedy, Ada Lovelace, Marilyn Monroe, Sinéad O'Connor, Lou Reed, Frank
Sinatra, Britney Spears, Ted Turner, Jean- Claude Van Damme, Virginia Woolf và
Catherine Zeta-Jones. Trong quá khứ, cũng có rất nhiều người đáng chú ý mà dựa
trên các tài liệu lịch sử, người ta tin là họ cũng bị rối loạn lưỡng cực. Bao gồm
Charles Dickens, Florence Nightingale, Friedrich Nietzsche và Edgar Allan Poe.
Người ta có thể so sánh việc sở hữu một bộ não phi thường
với một chiếc xe hơi thể thao công suất lớn. Nó làm được nhiều thứ vĩ đại,
nhưng nó cũng dễ bị hư hỏng. Dopamine dẫn dắt trí thông minh, sự sáng tạo, và sự
chăm chỉ, nhưng nó cũng có thể khiến người ta cư xử theo những cách điên rồ.
Hoạt động dopamine quá mức không phải là vấn đề duy nhất
của hưng cảm lưỡng cực, mà nó còn đóng một vai trò quan trọng. Như đã lưu ý, bệnh
lý này không phải do thụ thể allele DRD4 hoạt động quá mạnh gây ra. Mà các nhà
khoa học tin rằng nó được tạo ra bởi một vấn đề liên quan đến cái gọi là chất vận chuyển dopamine. (Hình 5)
Chất vận chuyển dopamine giống như máy hút bụi vậy.
Nhiệm vụ của nó là giới hạn lượng thời gian mà dopamine cần để thúc đẩy các tế
bào xung quanh nó. Khi một tế bào sản xuất dopamine hoạt động, nó tiết ra dopamine
trong kho chứ, sau đó dopamine gắn chặt và các thụ thể ở các tế bào não. Sau
đó, để kết thúc quá trình tương tác này, chất vận chuyển dopamine hút dopamine
về những tế bào đã sản sinh ra nó để quá trình này có thể khởi động lại lần nữa.
Chất vận chuyển này đôi khi được gọi là máy
bơm tái hấp thu bởi vì nó bơm ngược dopamine về tế bào cũ.
Điều gì sẽ xảy ra khi những chất vận chuyển này không
hoạt động bình thường? Chúng ta có thể trả lời cho câu hỏi này bằng các quan
sát những người lạm dụng cocaine. Cocaine khoát chặt chất vận chuyển dopamine giống như một chiếc
tất bị nhét vào vòi máy hút bụi. Lúc này dopamine có thể tương tác với thụ thể
của nó hết lần này đến lần khác. Khi hiện tượng này xảy ra, người ta sẽ cảm thấy
năng lượng tăng lên, các hoạt động hướng đến mục tiêu cũng như ham muốn tình dục
đều tăng lên. Sự tự tin, cảm giác vui sướng của họ cũng tăng lên, và các suy
nghĩ của họ nhảy từ chủ đề này sang chủ đề khác. Nhiễm độc cocaine giống với chứng
hưng cảm đến nỗi các bác sĩ không thể phân biệt được chúng với nhau.

0 nhận xét:
Đăng nhận xét