MÔ
THỨC THẦN KINH CỦA NHỮNG PHÁN XÉT ĐẠO ĐỨC
Thuốc cũng hiệu quả trong trường hợp này. Các nhà khoa
học cũng có thể khiến người ta cư xử bảo thủ hơn bằng cách cho họ dùng các loại
thuốc giúp tăng lượng chất dẫn truyền thần kinh N&L serotonin. Trong một
thí nghiệm, những người tham gia được phát cho một liều thuốc tăng serotonin
citalopram, thường dùng trong điều trị trầm cảm. Sau khi uống thuốc, họ trở nên
ít tập trung hơn và những khái niệm trừu tượng như sự công bằng và tập trung
hơn vào việc bảo về các cá nhân khỏi những mối nguy hại. Điều này được chứng
minh thông qua hành động của họ trong một thứ gọi là “trò chơi tối hậu thư”.
Thí nghiệm như sau:
Có hai người chơi trong trò chơi tối hậu thư. Một người
gọi là người đề xuất, được cho một số tiền (ví dụ như $100) và yêu cầu chia nó
cho người chơi còn lại, người được gọi là người hồi đáp. Người đề xuất có thể
cho người hồi đáp bất kỳ số tiền nào mà cô ấy muốn. Nếu người hồi đáp đồng ý đề
xuất của người đề xuất, họ đều sẽ giữ được tiền. Mặt khác, nếu người hồi đáp
không đồng ý với đề xuất này, cả hai người chơi đều không có gì cả. Đây là một
trò chơi ngắn. Mỗi người chỉ có một cơ hội duy nhất.
Phản ứng hợp lý nhất ở đây là người hồi đáp sẽ chấp nhận
bất kỳ đề xuất nào, ngay cả là $1. Nếu cô ấy đồng ý đề xuất, chắc chắn cô ấy sẽ
có nhiều tiền hơn trước. Nhưng nếu cô ấy từ chối, thì cô ấy sẽ chẳng có gì. Vì
thế, từ chối lời đề xuất, dù là một khoản nhỏ như thế nào, cũng chống lại lợi
ích tài chính của cá nhân cô ấy. Nhưng trên thực tế, những lời đề xuất quá nhỏ
thường bị từ chối vì họ cảm thấy bực mình vì cảm giác không công bằng. Lời đề
xuất quá thấp khiến chúng ta muốn trừng phạt người đề xuất – dạy cho người đó một
bài học bằng cách tạo ra thiệt hại tài chính cho người đó. Bình quân thì người
hồi đáp sẽ trừng phạt người đề xuất khi họ đề xuất số tiền ít hơn 30% so với tổng
số mà họ có.
Con số này, 30%, không phải luôn cố định. Những người
khác nhau ở những điều kiện khác nhau sẽ tạo ra những quyết định khác nhau. Các
nhà nghiên cứu ở Đại học Cambridge và Havard đã phát hiện ra rằng những người uống
citalopram có khả năng đồng ý những đề xuất thấp cao gấp đôi. Kết hợp những kết
quả này với những bài kiểm tra về phán xét đạo đức và hành vi, các nhà nghiên cứu
kết luận rằng những người uống citalopram lưỡng lự nhiều hơn khi lạm hại người
đề xuất bằng cách từ chối người đó. Họ cũng phát hiện ra hiệu quả ngược lại khi
cho người tham gia uống thuốc khiến lượng serotonin của họ giảm đi: họ sẵn sàng
làm hại người khác để tạo ra sự tốt đẹp lớn lao hơn nhờ vào việc nâng cao các
tiêu chuẩn về sự công bằng.
Các nhà nghiên cứu đã kết luận rằng những loại thuốc
tăng cường serotonin đã nâng cao thứ mà họ gọi là ác cảm đối với việc gây hại cho người khác (harm aversion). Tăng cường
serotonin đã khiến cho những phán xét đạo đức rời xa các mục đích trừu tượng
(nâng cao sự công bằng), và đến gần hơn với những hành động nhằm tránh gây hại
cho người khác (tước đoạt phần tiền của người đề xuất). Hãy nhớ về bài toán xe
đẩy, cách giải quyết lô gic là giết một người để cứu năm người, trong khi đó,
cách giải quyết ác cảm đối với việc gây hại
cho người khác là từ chối việc lấy mạng một người để cứu những người khác.
Sử dụng thuốc để để tác động đến những quyết định này có cái tên đáng lo ngại
là mô thức thần kinh của những phán xét đạo
đức.
Một liều citalopram đơn giản đã có thể khiến người ta
tha thứ cho hành động thiếu công bằng và giảm thiểu cảm giác xem việc gây hại
cho người khác là đúng đắn – một thái độ gắn liền với tính chất của N&L.
Các nhà nghiên cứu mô tả hành vi này là ủng
hộ xã hội ở mức độ cá nhân (prosocial). Ủng
hộ xã hội (prosocial) là một thuật ngữ có nghĩa là sẵn sàng giúp đỡ người
khác. Từ chối đề xuất bất công được gọi là ủng
hộ xã hội ở mức độ nhóm. Trừng phạt những người tạo ra sự bất công giúp
tăng cường sự công bằng – và tạo ra nhiều lợi ích hơn cho cộng đồng, điều này gắn
liền với giải pháp đến từ dopamine.
HỌ
NÊN RỜI ĐI HAY Ở LẠI?
Chúng ta thấy sự tương phản giữa cá nhân / nhóm này diễn
ra trong cuộc tranh luận về vấn đề nhập cư. Những người thuộc phái bảo thủ có
xu hướng tập trung vào các nhóm nhỏ, những các cá nhân, gia đình, và đất nước,
trong khi người thuộc phái tự do thường tập trung vào nhóm lớn nhất: những người
đàn ông và phụ nữ trong cộng đồng toàn cầu. Những người thuộc phái bảo thủ thường
quan tâm đến quyền cá nhân, và một số người ủng hộ ý tưởng xây một bức tường để
khiến cho những người di cư không đến được nước của họ. Những người thuộc phái
tự do xem các cá nhân như một thể gắn kết, và một số người nói về việc xóa bỏ
hoàn toàn các bộ luật về di cư. Nhưng điều gì sẽ xảy ra khi những người di cư
thực sự xuất hiện – khi họ từ một khái niệm trở thành một sự thực, từ khoảng
cách xa và trừu tượng tiến lại gần sát bên cạnh? Chưa có những nghiên cứu diện
rộng nào có thể cung cấp một câu trả lời cho tình huống này, nhưng có nhiều bằng
chứng giai thoại về việc những trải nghiệm mang tính N&L đến từ tiếp xúc trực
tiếp này sản sinh ra những kết quả rất khác so với việc lập ra các chính sách dựa
trên trải nghiệm mang tính dopamine.
Năm 2012, tờ New
York Times đã báo cáo về một nhóm được gọi là Unoccupy Springs, nhóm này đã
phát triển bên trong lòng Hamptons rất tự do và rất giàu có. Nhóm này ủng hộ một
cuộc đàn áp đối với những người di cư chứa chấp những người không liên quan
trong những ngôi nhà nhỏ được thiết kế chỉ dành cho một gia đình sinh sống, cho
rằng họ đã vi phạm luật nhà ở. Nhóm Occupy cho rằng những người hàng xóm mới
này là gánh nặng cho các trường học và đã phá hoại các giá trị tài sản. Tương tự,
một nghiên cứu đến từ Đại học Dartmouth cũng cho thấy rằng so với các bang Cộng
Hòa, các bang Dân Chủ có nhiều giới nghiêm trong nhà cửa hơn để ngăn cản sự nhập
cư của những người thu nhập thấp. Những giới nghiêm này bao gồm số lượng gia
đình được phép ở trong một ngôi nhà và các hạn chế về quy hoạch làm giảm nguồn
cung nhà ở giá rẻ.
Nhà kinh tế học Havard Edward Glaeser và Joseph
Gyourko của đại học Pennsylvania đã đánh giá tác động của quy hoạch đối với giá
nhà cửa. Họ phát hiện ra rằng ở hầu hết các nơi trong nước, giá nhà cửa tương
đương với chi phí xây dựng, nhưng ở Caligornia và một số thành phố ở Vùng Duyên
Hải Phía Đông, chúng đặc biệt cao. Họ nói rằng ở những vùng này, các cơ quan quản
lý quy hoạch đã khiến cho việc xây dựng trở nên vô cùng tốn kém, ở vùng thành
thị, nơi vốn được những người nhập cư ưa thích, chi phí gần như cao hơn 50%.
Các rào cản ngăn cản những người nhập cư nghèo khó đã
gợi nhớ đến câu nói của Einstein, “Ý thức đam mê công bằng xã hội và trách nhiệm
xã hội của tôi luôn trái ngược một cách kỳ lạ với việc tôi rõ ràng không có nhu
cầu tiếp xúc trực tiếp với những người khác.” Những người thuộc phái bảo thủ lại
có vẻ trái ngược. Họ muốn đuổi những người nhập cư ra khỏi đất nước để ngăn chặn
thứ mà họ sợ hãi – một sự thay đổi cơ bản về mặt văn hóa. Tuy nhiên, sự chán
ghét đối với việc gây hại cho người khác khiến họ quan tâm hơn đối với những
người sống gần họ.
William Sullivan, tác giả của tờ báo bảo thủ American Thinker, nói rằng giữa cuộc
tranh cãi về vấn đề nhập cư, những người dẫn đầu phái bảo thủ đã đến biên giới
Mexico để giúp đỡ các nhà thờ trong việc cứu trợ, bằng cách trao những bữa ăn ấm
nóng, nước sạch, và một chiếc xe tải chứa đầy gấu bông và những trái bóng. Một
số người cho rằng đây là chiêu trò quảng bá, nhưng nó hoàn toàn phù hợp với
cách sống của những người chán ghét việc gây hại cho người khác: bảo vệ hiện trạng
trong khi vẫn giúp đỡ người khác trong cơn nguy khó.
Bằng những cách trái ngược và bổ sung lẫn nhau, cả những
người thuộc phái bảo thủ lẫn người thuộc phái tự do đều muốn giúp đỡ những người
nhập cư khốn khó. Và cùng một lúc, họ đều muốn giữ những người này cách xa mình
ra.
CHÚNG
TÔI CÓ CÁCH ĐỂ KHIẾN BẠN TRỞ THÀNH NGƯỜI THUỘC PHÁI TỰ DO
Nếu kể ra những mối đe dọa có thể khiến người ta trở
nên bảo thu hơn, thì liệu có thể khiến người ta trở nên tự do hơn bằng cách làm
điều ngược lại không? Tiến sĩ Jaime Napier, một chuyên gia về các hệ tư tưởng
chính trị và tôn giá, đã phát hiện ra rằng câu trả lời ở đây là có, và nó cũng
không mất thời gian lắm. Như cách các nhà nghiên cứu đã khiến cho chủ nghĩa bảo
thủ tăng lên nhờ vào việc đặt một máy khử khuẩn tay ở gần nơi khảo sát, Tiến sĩ
Napier cũng đã khiến người ta nghiêng về phái tự do hơn bằng một bài tập tưởng
tượng đơn giản. Cô ấy yêu cầu những người thuộc phái bảo thủ tưởng tượng rằng họ
có siêu năng lực khiến họ không bao giờ bị thương. Thử nghiệm sau đó về hệ tư
tưởng chính trị cho thấy họ trở nên tự do hơn. Giảm thiểu cảm giác yếu đuối, điều
này sẽ kéo theo việc giảm thiểu nỗi sợ N&L đối với mất mát, và cho phép
dopamine – thứ chịu trách nhiệm cho những thay đổi – được mở lên để đóng vai
trò lớn hơn trong việc xác định hệ tư tưởng.
Còn riêng về hành động tưởng tượng thì sao? Tưởng tượng
là một hoạt động mang tính dopamine vì nó bao gồm những thứ không thực sự tồn tại.
Liệu rằng hành động kích hoạt hệ thống dopamine đơn giản bằng cách tưởng tượng
có khiến người ta thiên về hệ tư tưởng chính trị cánh tả hơn không? Một nghiên
cứu khác cũng cho rằng câu trả lời là có.
Suy nghĩ trừu tượng là một trong những chức năng
nguyên thủy của hệ thống dopamine. Suy nghĩ trừu tượng cho phép chúng ta vượt
ra khỏi các cảm giác đơn thuần đến từ việc quan sát các sự kiện và đạt tới việc
xây dựng một mô hình để giải thích tại sao sự kiện diễn ra như vậy. Mô tả dựa
trên các giác quan tập trung vào thế giới vật chất: những thứ thực sự tồn tại.
Thuật ngữ cho loại suy nghĩ này là cứng
nhắc. Đó là chức năng của N&L, và các nhà khoa học gọi nó là suy nghĩ mức độ thấp. Suy nghĩ trừu tượng được gọi
là mức độ cao. Một nhóm các nhà khoa
học đã tự hỏi rằng liệu những người có xu hướng suy nghĩ cứng nhắc có gây hấn với
những người có cách sống khác với họ hay không – những người được xem là mối đe
dọa cho sự bền vững trong cách sống của họ - như những người đồng tính, người Hồi
giáo, và những người vô thần.
Những tình nguyện viên trong nghiên cứu này được xem
hai cách mô tả về một tình huống, thí dụ như việc nhấn chuông cửa. Họ phải chọn
xem theo họ thì cách mô tả nào là chính xác hơn. Một cách là mô tả cứng nhắc
(nhấn chuông cửa là một hành động giơ ngón tay lên và nhấn), và một cách là mô
tả trừu tượng (nhấn chuông cửa là hành động để xem có ai ở nhà hay không). Tiếp
theo người ta yêu cầu họ đánh giá mức độ yêu thích và chào đón của mình đối với
những người đồng tính, người Hồi giáo và người vô thần. Những nhà nghiên cứu đã
phát hiện ra một mối tương quan trực tiếp: những người chọn lựa mô tả cứng nhắc
có mức độ sự yêu thích và chào đón thấp hơn đối với những những người đồng
tính, người Hồi giáo và người vô thần.
Bước tiếp theo là xem liệu những cảm giác này có thể bị
thao túng bằng cách khiến những người tham gia thí nghiệm suy nghĩ trừu tượng
hay không. Các nhà nghiên cứu chọn ra một chủ đề để các đối tượng tham gia thí
nghiệm suy nghĩ, chủ đề này hoàn toàn không liên quan đến việc chấp nhận những
nhóm người mà họ cho là đe dọa đến cuộc sống của họ. Các nhà nghiên cứu bắt đầu
với việc yêu cầu người tham gia nghĩ về việc duy trì một sức khỏe thể chất tốt.
Phân nửa trong số họ được yêu cầu hãy mô tả cách
mà họ sẽ làm điều đó (cứng nhắc) và nửa còn lại được yêu cầu mô tả tại sao duy trì sức khỏe thể chất tốt lại
quan trọng (trừu trượng). Mô tả cách
thức không ảnh hưởng gì tới thái độ của họ, nhưng mô tả tại sao lại giúp nâng cao cảm giác yêu
thích và chào đón ở những người bảo thủ đối với những nhóm người khác biệt với
họ, thái độ này được nâng cao tới mức ngang bằng so với thái độ của những người
tự do.
Kích hoạt dopamine là một cách để khiến cho những người
thuộc phái bảo thủ suy nghĩ như những người thuộc phái tự do. Nhưng chúng ta có
thể làm được điều tương tự bằng cách khai thác mạch thần kinh vốn đang dẫn dắt
những người thuộc phái bảo thủ hành xử bảo thủ: mạch thần kinh N&L, đặc biệt
là những mạch cho phép chúng ta trải nghiệm sự thấu cảm. Giải pháp này sử dụng
sức mạnh tinh túy của chính sự bảo thủ để tạo ra sự ủng hộ lớn hơn cho những
người được cho là khiến đời sống ổn định bị thay đổi.
Hãy quay lại mâu thuẫn rõ ràng mà chúng ta đã đề cập
lúc trước, về việc những người thuộc phái bảo thủ ủng hộ việc trục xuất những nhóm người nhập cư bất hợp pháp, nhưng lại
quyên góp thức ăn, nước uống và đồ chơi cho các cá nhân nhập cư này. Những người thuộc phái bảo thủ N&L có thể
tỏ ra thù địch với ý tưởng về việc nhập cư, nhưng họ lại có năng lực bẩm sinh
trong việc kết nối trên nền tảng thấu cảm với những người nhập cư thực sự. Năng
lực này – thứ mà người ta có thể gọi là sự bốc đồng vô thức – đã được các biên
kịch Hollywood dùng để tăng mức độ đồng thuận đối với những người đồng tính,
song tính và chuyển giới. Họ làm điều này bằng sức mạnh của các câu chuyện.
Chúng ta xây dựng một mối quan hệ tình cảm với các
nhân vật trong các câu chuyện. Nếu câu chuyện hay, cảm xúc chúng ta dành cho
nhân vật có thể rất giống với cảm xúc chúng ta dành cho người thật. Liên minh đồng
tính nam & đồng tính nữ chống lại sự phỉ báng (The Gay & Lesbian
Alliance Against Defamation – GLAAD) lưu ý rằng, “Truyền hình không chỉ phản
ánh sự thay đổi trong thái độ của xã hội; nó còn góp phần tạo ra sự thay đổi
này nữa. Hết lần này đến lần khác, người ta đã chứng minh rằng việc thực sự
quen biết một người thuộc giới LGBT là một trong những yếu tố quan trọng nhất
giúp thay đổi suy nghĩ của một người về giới LGBT, nhưng ngoài việc này ra, thì
nhiều người xem truyền hình trước hết đã biết đến chúng tôi dưới dạng một nhân
vật truyền hình.”
Theo báo cáo thường niên của GLAAD về sự đa dạng của
các chương trình truyền hình vào giờ vàng, số lượng những nhân vật đồng tính và
song tính đã tăng dần lên. Trong khảo sát mới nhất vào năm 2015, thì con số nằm
khoảng 4%, tương đương với con số 3,8% những người Mỹ đồng tính công khai theo
khảo sát gần đây của Gallup. Kênh truyền hình có tỉ lệ cao nhất là Fox, 6,5% số
nhân vật trong các chương trình giờ vàng thuộc giới LGBT.
Những nhân vật hư cấu tạo ra những ảnh hưởng thực sự
lên thái độ của người xem. Một khảo sát từ The
Hollywood Reporter cho thấy rằng có 27% người trả lời rằng những chương
trình truyền hình có nhân vật LGBT khiến họ ủng hộ mạnh mẽ hơn cho hôn nhân đồng
giới. Khi người ta phân tích việc người xem truyền hình bầu cử như thế nào
trong cuộc bầu cử tổng thống 2012, 13% những người bầu cho Romney nói rằng xem
truyền hình khiến họ ủng hộ cho hôn nhân đồng tính hơn. Biến những nhóm người
trừu tượng thành những cá nhân cụ thể là một phương thức hiệu quả để kích hoạt
mạch thần kinh thấu cảm của N&L.
MỘT ĐẤT NƯỚC ĐƯỢC CẤM QUYỀN BỞI CÁC Ý TƯỞNG (THÔNG QUA
SINH HỌC)
[Theo]
Ashleymadison.com, một trang Web hẹn hò cho các cặp đã kết hôn tìm kết đối tượng
ngoại tình, … [Washington, DC] đứng đầu danh sách xếp hạng các thành phố có nhiều
người ngoại tình nhất trong năm thứ ba liên tiếp. . . Và nơi có nhiều kẻ ngoại
tình nhất? Capitol Hill, vùng đất của các chính trị gia, nhân viên và những người
vận động hành lang.
-
Washington Post, 20 tháng 5, 2015
Bản chất của chính phủ là kiểm soát. Người ta có thể
tuân theo sự kiểm soát này bởi vì bị xâm lược, hoặc họ tự nguyện từ bỏ một số tự
do để đổi lấy sự bảo vệ. Dù bằng cách nào đi nữa, một nhóm nhỏ những người được
ban cho năng lực để thực thi quyền lực đối với phần còn lại của dân số. Đây là
một hoạt động mang tính dopamine vì dân chúng bị kiểm soát từ khoảng cách xa
thông qua những bộ luật trừu tượng. Mặc dù nỗi sợ N&L đến từ sự trừng phạt
là phương tiện để thúc đẩy thực thi các bộ luật, hầu hết mọi người đều chưa từng
trải nghiệm nỗi sợ này. Họ phục tùng các ý tưởng, chứ không phải lực lượng thực
tế.
Bởi vì chính phủ vốn có tính dopamine, nên những người
thuộc phái tự do có xu hướng yêu thích chính phủ nhiều hơn những người thuộc
phái bảo thủ N&L. Nếu 500 người thuộc phái tự do tụ tập trên đường phố, thì
đó có thể là một cuộc biểu tình. Còn nếu 500 người thuộc phái bảo thủ tụ tập,
thì đó hẳn chỉ là một cuộc diễu hành. Ngoài sự nhiệt tình trong việc tham gia
vào các chính sách chính trị, thì người thuộc phái tự do thường theo đuổi các bằng
cấp cao trong các chính sách công cộng, và họ bị thu hút bởi những lĩnh vực như
báo chí – nơi mà họ có thể làm các việc liên quan đến chính sách chính trị hàng
ngày. Ngược lại, những người thuộc phái bảo thủ thường không tin tưởng vào
chính phủ, đặc biệt là những chính phủ hoạt động ở khoảng cách xa. Những người
thuộc phái bảo thủ có xu hướng tin những chính phủ ở gần họ, với quyền lực được
thực hiện ở cấp tiểu bang hoặc địa phương hơn là cấp liên bang.
Khoảng cách rất quan trọng. Hãy nghĩ về bài toán xe đẩy,
chúng ta sẽ dễ dàng tối đa hóa nguồn lực hơn khi xóa bỏ cảm xúc khỏi tình huống
sự việc. Đẩy ai đó xuống đường ray xe lửa để chặn xe lửa là một chuyện bất khả
thi. Đứng từ xa gạt một cái nút thì dễ hơn. Tương tự, nhiều bộ luật tạo ra lợi
ích cho người này nhưng gây thiệt hại cho người khác. Bạn càng ở xa, thì bạn
càng dễ bị thiệt hại từ những thứ tạo ra lợi ích lớn lao hơn. Tăng thuế, giảm
tài trợ, cử người tham chiến; những người được trả lương ít hơn, nhận được ít sự
giúp đỡ hơn, và phải núp dưới hố tránh bom, ít khi là những người cùng nhóm với
người đã đẩy anh ta vào tình huống này, miễn là người đó ở Washington, DC. Mạch
thần kinh N&L không có cơ hội để tạo ra những cảm xúc tiêu cực – thứ khiến
những quyết định này trở nên khó khăn hơn.
TẠI
SAO LÚC NÀO WASHING CŨNG PHẢI “LÀM CÁI GÌ ĐÓ!”
Ngoài khoảng cách, một thứ khác để chứng minh chính phủ
có tính dopamine chính là việc lúc nào chính phủ cũng chuẩn bị làm cái gì đó. Chưa từng nghe nói một
nhà chính trị nào lên chiến lược tranh cử hứa hẹn rằng anh ta sẽ đến Washington
và không làm gì cả. Chính trị luôn dùng để tạo ra các thay đổi, và thay đổi thì
liên quan đến dopamine. Bất cứ khi nào có bi kịch xảy ra, lời kêu gọi này lại
vang lên, Làm cái gì đó đi! Vì thế,
sau cuộc tấn công của khủng bố, các cổng bảo vệ ở sân bay thường xuyên vang lên
tiếng bíp, bất chấp những bằng chứng cho thấy rằng các thủ tục rườm rà và gây
nhục nhã cho hành khách này không hề giúp tăng sự an toàn. Các đặc vụ quản lý
an ninh vận tải – những người kiểm tra hệ thống – hầu như luôn có thể tuồn vũ
khí vào bên trong. Nhưng dù sao thì, nhu cầu làm cái gì đó được thỏa mãn.
Theo GovTrack.us, chính phủ liên bang đã ban hành từ
200 đến 800 luật trong mỗi kỳ họp quốc hội kéo dài hai năm kể từ năm 1973. Quá
nhiều luật lệ, nhưng đấy chẳng là gì so với điều nhà các chính trị gia đang cố
gắng làm. Trong những kỳ họp này, Quốc hội đã nỗ lực thông qua từ 8.000 đến
26.000 luật. Khi người ta cho rằng phải làm cái gì đó, thì các chính trị gia
vui vẻ nghe theo.
Ham muốn kiểm soát là thứ không thể tránh khỏi. Một số
người ở Washington tự nhận là người thuộc phái tự do và số khác thì tự nhận là
người thuộc phái bảo thủ, nhưng hầu hết mọi người đều có tính dopamine khi dính
tới chính trị. Nếu không thì họ sẽ không đắc cử. Các chiến dịch chính trị đòi hỏi
một động lực mạnh mẽ. Cần phải sẵn sàng hy sinh mọi thứ để đạt được thành công.
Cụ thể là hy sinh thời gian dành cho gia đình. Những người N&L – những người
mà đối với họ việc ở cùng với người họ yêu thương là ưu tiên hàng đầu, thì
không thể thành công trong lĩnh vực chính trị được. Ở Anh, tỉ lệ ly hôn ở các
thành viên Quốc hội cao gấp đôi người bình thường. Ở Mỹ, người ta thường thấy
các thành viên Quốc hội sống ở Washington, trong khi gia đình của họ sống ở quê
nhà. Họ ít khi gặp vợ/chồng của mình, và có rất nhiều nhân viên trẻ tuổi được
trang bị loại năng lực giúp họ thỏa mãn các ham muốn mang tính dopamine của
mình. Đối với chính trị gia, các mối quan hệ không phải để đem lại niềm vui;
chúng đều có mục đích, dù mục đích đó là có được phiếu bầu, thông qua một dự luật,
hay giải quyết một nhu cầu sinh lý. Tổng thống Harry Truman đã từng nói rằng,
“Nếu bạn muốn tìm một người bạn ở Washington, hãy mua một con chó.”
ỨNG
CỬ VIÊN BẢO THỦ, NGƯỜI LÀM LUẬT TỰ DO
Sự cần thiết của tính dopamine trong việc đắc cử là một
vấn nạn đối với người thuộc phái bảo thủ bởi vì các cử tri có tính N&L lại
đi bầu cho những chính trị gia có tính dopamine thì việc này hẳn sẽ không tạo
ra hiệu quả mong muốn. Trong những năm gần đây những người thuộc phái bảo thủ
đã phẫn nộ với với cái gọi là đảng Cộng hòa phát triển – những người hứa hẹn rằng
sẽ giảm quy mô chính phủ, nhưng cuối cùng lại tăng nó lên. Phong trào Tiệc Trà (là một phong trào chính trị phân
quyền cánh hữu tại Hoa Kỳ nổi bật chủ yếu
vì kêu gọi giảm nợ công quốc gia và ngân sách liên bang bằng
cách giảm chi phí và thuế má) là một trong những ví dụ dễ thấy nhất của sự
phẫn nộ này. Nhóm bảo thủ này đã thể hiện một sự nhiệt tình bất thường, nhưng
cho đến hiện nay thì nhóm này vẫn không thể đạt được mục tiêu làm chậm làm sự
phát triển của bộ máy chính phủ.
Sự phát triển có thể
sẽ không bao giờ dừng lại. Nhiệm vụ của dopamine là nhiều hơn nữa. Sự thay đổi – thứ đại diện cho sự tiến bộ hay sự mất
mát các truyền thống cũ, tùy thuộc vào góc nhìn của mỗi người – là không thể
tránh khỏi. Chỉ có những mạch thần kinh N&L mới có thể đem lại cảm giác thỏa
mãn, thứ cảm giác về việc đã đạt đến đích và đã đến lúc dừng lại. Endorphins,
endocannabinoids, và những chất dẫn truyền thần kinh N&L khác sẽ nói với
chúng ta là chúng ta đã xong việc rồi, giờ là lúc nghỉ ngơi và tận hưởng thành
quả lao động. Nhưng dopamine lấn át những chất này. Dopamine không bao giờ nghỉ
ngơi. Trò chơi chính trị được chơi trong suốt 24 giờ mỗi ngày, 7 ngày mỗi tuần,
và việc dừng lại hay việc nói ra chữ “đủ rồi” sẽ dẫn tới thất bại.
Điều đó không nói lên
rằng sự phát triển của chính phủ luôn dẫn đến kết quả tệ hại. Sự tăng trưởng của
những quyền lực được sử dụng cho lợi ích công cộng có thể tạo ra ảnh hưởng tích
cực lên cuộc sống của hàng triệu người. Nếu chính phủ nhân đạo và hoạt động hiệu
quả, quyền lực của chính phủ có thể tăng trưởng để tập trung bảo vệ quyền lợi
cho những người yếu thế và giúp người nghèo thoát nghèo. Điều này sẽ bảo vệ người
lao động và người tiêu dùng khỏi sự lợi dụng của các tập đoàn quyền lực. Nhưng
nếu các chính trị gia thông qua những bộ luật tạo ra lợi ích cho chính họ thay
vì các cử tri đã bầu cho họ, nếu tham nhũng gia tăng, hoặc nếu những nhà làm luật
không biết mình đang làm gì, thì sự tự do và sự thịnh vượng sẽ phải gánh chịu hậu
quả.
Trong quá khứ, cách
duy nhất để đảo ngược sự bành trướng của quyền lực là thay thế sự thay đổi lớn
bằng sự thay đổi khổng lồ dưới hình thức của cách mạng. John Calhoun, thượng
nghị sĩ và phó tổng thống Nam Carolina thế kỷ 19, cho thấy sự hiểu biết thấu
đáo của ông về những người đang chơi trò chơi quyền lực – dù người chơi ở đây
là kẻ nổi loạn hay một bạo chúa – khi ông nói rằng, có được tự do thì dễ dàng
hơn là giữ được tự do. Những kẻ nổi loạn mang tính dopamine và các chính trị
gia cũng mang tính dopamine. Mục tiêu của cả hai đều sẽ thay đổi.
ĐỪNG ĐỂ BỊ LỪA NỮA
Cuối cùng, chướng ngại cơ bản để đạt được sự hòa hợp
chính là việc não bộ của những người thuộc phái tự do rất khác so với não bộ của
người thuộc phái bảo thủ, và điều này khiến cho họ khó mà hiểu được nhau. Bởi
vì chính trị là một trò chơi đối đầu, sự thiếu hiểu biết lẫn nhau này sẽ dẫn đến
việc bên này cảm thấy bên kia ác độc. Những người thuộc phái tự do tin rằng những
người thuộc phái bảo thủ muốn đưa đất nước về thời mà những người yếu thể bị đối
xử bất công. Những người thuộc phái bảo thủ thì tin rằng những người thuộc phái
tự do muốn thông qua các bộ luật có tính đàn áp cao để kiểm soát mọi khía cạnh
của cuộc đời họ.
Thực tế thì, đa số mọi người ở cả hai bên đều muốn những
điều tốt nhất cho người Mỹ. Có nhiều người là ngoại lệ; người xấu thì nơi nào
cũng có, và người ta chỉ toàn chú ý vào những người xấu này. Họ thú vị hơn những
người tốt, và họ là vũ khí chính trị hiệu quả. Nhưng họ không hề đại diện cho Đảng
Dân Chủ hay Đảng Cộng Hòa.
Nhiều người thuộc phái bảo thủ chỉ muốn được yên thân.
Họ muốn tự do để tự quyết định dựa trên các giá trị riêng của họ. Hầu hết những
người thuộc phái tự do đều muốn giúp người khác có cuộc sống tốt đẹp hơn. Mục
tiêu của họ là khiến cho mọi người khỏe mạnh hơn, an toàn hơn, và không bị phân
biệt đối xử. Nhưng những lãnh đạo chính trị sẽ hưởng lợi từ việc khuấy động sự
thù địch giữa hai nhóm vì điều này sẽ củng cố sự ủng hộ của những người theo
phe họ. Điều quan trọng ở đây là chúng ta phải nhớ rằng, những người thuộc phái
tự do muốn giúp người khác trở nên tốt hơn, những người thuộc phái bảo thủ muốn
giúp người khác hạnh phúc, còn chính trị gia thì chỉ muốn quyền lực.
0 nhận xét:
Đăng nhận xét