Thứ Năm, 11 tháng 8, 2022

The Molecule Of More - chương 5 (3)

 

MÔ THỨC THẦN KINH CỦA NHỮNG PHÁN XÉT ĐẠO ĐỨC

Thuốc cũng hiệu quả trong trường hợp này. Các nhà khoa học cũng có thể khiến người ta cư xử bảo thủ hơn bằng cách cho họ dùng các loại thuốc giúp tăng lượng chất dẫn truyền thần kinh N&L serotonin. Trong một thí nghiệm, những người tham gia được phát cho một liều thuốc tăng serotonin citalopram, thường dùng trong điều trị trầm cảm. Sau khi uống thuốc, họ trở nên ít tập trung hơn và những khái niệm trừu tượng như sự công bằng và tập trung hơn vào việc bảo về các cá nhân khỏi những mối nguy hại. Điều này được chứng minh thông qua hành động của họ trong một thứ gọi là “trò chơi tối hậu thư”. Thí nghiệm như sau:

Có hai người chơi trong trò chơi tối hậu thư. Một người gọi là người đề xuất, được cho một số tiền (ví dụ như $100) và yêu cầu chia nó cho người chơi còn lại, người được gọi là người hồi đáp. Người đề xuất có thể cho người hồi đáp bất kỳ số tiền nào mà cô ấy muốn. Nếu người hồi đáp đồng ý đề xuất của người đề xuất, họ đều sẽ giữ được tiền. Mặt khác, nếu người hồi đáp không đồng ý với đề xuất này, cả hai người chơi đều không có gì cả. Đây là một trò chơi ngắn. Mỗi người chỉ có một cơ hội duy nhất.

Phản ứng hợp lý nhất ở đây là người hồi đáp sẽ chấp nhận bất kỳ đề xuất nào, ngay cả là $1. Nếu cô ấy đồng ý đề xuất, chắc chắn cô ấy sẽ có nhiều tiền hơn trước. Nhưng nếu cô ấy từ chối, thì cô ấy sẽ chẳng có gì. Vì thế, từ chối lời đề xuất, dù là một khoản nhỏ như thế nào, cũng chống lại lợi ích tài chính của cá nhân cô ấy. Nhưng trên thực tế, những lời đề xuất quá nhỏ thường bị từ chối vì họ cảm thấy bực mình vì cảm giác không công bằng. Lời đề xuất quá thấp khiến chúng ta muốn trừng phạt người đề xuất – dạy cho người đó một bài học bằng cách tạo ra thiệt hại tài chính cho người đó. Bình quân thì người hồi đáp sẽ trừng phạt người đề xuất khi họ đề xuất số tiền ít hơn 30% so với tổng số mà họ có.

Con số này, 30%, không phải luôn cố định. Những người khác nhau ở những điều kiện khác nhau sẽ tạo ra những quyết định khác nhau. Các nhà nghiên cứu ở Đại học Cambridge và Havard đã phát hiện ra rằng những người uống citalopram có khả năng đồng ý những đề xuất thấp cao gấp đôi. Kết hợp những kết quả này với những bài kiểm tra về phán xét đạo đức và hành vi, các nhà nghiên cứu kết luận rằng những người uống citalopram lưỡng lự nhiều hơn khi lạm hại người đề xuất bằng cách từ chối người đó. Họ cũng phát hiện ra hiệu quả ngược lại khi cho người tham gia uống thuốc khiến lượng serotonin của họ giảm đi: họ sẵn sàng làm hại người khác để tạo ra sự tốt đẹp lớn lao hơn nhờ vào việc nâng cao các tiêu chuẩn về sự công bằng.

Các nhà nghiên cứu đã kết luận rằng những loại thuốc tăng cường serotonin đã nâng cao thứ mà họ gọi là ác cảm đối với việc gây hại cho người khác (harm aversion). Tăng cường serotonin đã khiến cho những phán xét đạo đức rời xa các mục đích trừu tượng (nâng cao sự công bằng), và đến gần hơn với những hành động nhằm tránh gây hại cho người khác (tước đoạt phần tiền của người đề xuất). Hãy nhớ về bài toán xe đẩy, cách giải quyết lô gic là giết một người để cứu năm người, trong khi đó, cách giải quyết ác cảm đối với việc gây hại cho người khác là từ chối việc lấy mạng một người để cứu những người khác. Sử dụng thuốc để để tác động đến những quyết định này có cái tên đáng lo ngại là mô thức thần kinh của những phán xét đạo đức.

Một liều citalopram đơn giản đã có thể khiến người ta tha thứ cho hành động thiếu công bằng và giảm thiểu cảm giác xem việc gây hại cho người khác là đúng đắn – một thái độ gắn liền với tính chất của N&L. Các nhà nghiên cứu mô tả hành vi này là ủng hộ xã hội ở mức độ cá nhân (prosocial). Ủng hộ xã hội (prosocial) là một thuật ngữ có nghĩa là sẵn sàng giúp đỡ người khác. Từ chối đề xuất bất công được gọi là ủng hộ xã hội ở mức độ nhóm. Trừng phạt những người tạo ra sự bất công giúp tăng cường sự công bằng – và tạo ra nhiều lợi ích hơn cho cộng đồng, điều này gắn liền với giải pháp đến từ dopamine.

HỌ NÊN RỜI ĐI HAY Ở LẠI?

Chúng ta thấy sự tương phản giữa cá nhân / nhóm này diễn ra trong cuộc tranh luận về vấn đề nhập cư. Những người thuộc phái bảo thủ có xu hướng tập trung vào các nhóm nhỏ, những các cá nhân, gia đình, và đất nước, trong khi người thuộc phái tự do thường tập trung vào nhóm lớn nhất: những người đàn ông và phụ nữ trong cộng đồng toàn cầu. Những người thuộc phái bảo thủ thường quan tâm đến quyền cá nhân, và một số người ủng hộ ý tưởng xây một bức tường để khiến cho những người di cư không đến được nước của họ. Những người thuộc phái tự do xem các cá nhân như một thể gắn kết, và một số người nói về việc xóa bỏ hoàn toàn các bộ luật về di cư. Nhưng điều gì sẽ xảy ra khi những người di cư thực sự xuất hiện – khi họ từ một khái niệm trở thành một sự thực, từ khoảng cách xa và trừu tượng tiến lại gần sát bên cạnh? Chưa có những nghiên cứu diện rộng nào có thể cung cấp một câu trả lời cho tình huống này, nhưng có nhiều bằng chứng giai thoại về việc những trải nghiệm mang tính N&L đến từ tiếp xúc trực tiếp này sản sinh ra những kết quả rất khác so với việc lập ra các chính sách dựa trên trải nghiệm mang tính dopamine.

Năm 2012, tờ New York Times đã báo cáo về một nhóm được gọi là Unoccupy Springs, nhóm này đã phát triển bên trong lòng Hamptons rất tự do và rất giàu có. Nhóm này ủng hộ một cuộc đàn áp đối với những người di cư chứa chấp những người không liên quan trong những ngôi nhà nhỏ được thiết kế chỉ dành cho một gia đình sinh sống, cho rằng họ đã vi phạm luật nhà ở. Nhóm Occupy cho rằng những người hàng xóm mới này là gánh nặng cho các trường học và đã phá hoại các giá trị tài sản. Tương tự, một nghiên cứu đến từ Đại học Dartmouth cũng cho thấy rằng so với các bang Cộng Hòa, các bang Dân Chủ có nhiều giới nghiêm trong nhà cửa hơn để ngăn cản sự nhập cư của những người thu nhập thấp. Những giới nghiêm này bao gồm số lượng gia đình được phép ở trong một ngôi nhà và các hạn chế về quy hoạch làm giảm nguồn cung nhà ở giá rẻ.

Nhà kinh tế học Havard Edward Glaeser và Joseph Gyourko của đại học Pennsylvania đã đánh giá tác động của quy hoạch đối với giá nhà cửa. Họ phát hiện ra rằng ở hầu hết các nơi trong nước, giá nhà cửa tương đương với chi phí xây dựng, nhưng ở Caligornia và một số thành phố ở Vùng Duyên Hải Phía Đông, chúng đặc biệt cao. Họ nói rằng ở những vùng này, các cơ quan quản lý quy hoạch đã khiến cho việc xây dựng trở nên vô cùng tốn kém, ở vùng thành thị, nơi vốn được những người nhập cư ưa thích, chi phí gần như cao hơn 50%.

Các rào cản ngăn cản những người nhập cư nghèo khó đã gợi nhớ đến câu nói của Einstein, “Ý thức đam mê công bằng xã hội và trách nhiệm xã hội của tôi luôn trái ngược một cách kỳ lạ với việc tôi rõ ràng không có nhu cầu tiếp xúc trực tiếp với những người khác.” Những người thuộc phái bảo thủ lại có vẻ trái ngược. Họ muốn đuổi những người nhập cư ra khỏi đất nước để ngăn chặn thứ mà họ sợ hãi – một sự thay đổi cơ bản về mặt văn hóa. Tuy nhiên, sự chán ghét đối với việc gây hại cho người khác khiến họ quan tâm hơn đối với những người sống gần họ.

William Sullivan, tác giả của tờ báo bảo thủ American Thinker, nói rằng giữa cuộc tranh cãi về vấn đề nhập cư, những người dẫn đầu phái bảo thủ đã đến biên giới Mexico để giúp đỡ các nhà thờ trong việc cứu trợ, bằng cách trao những bữa ăn ấm nóng, nước sạch, và một chiếc xe tải chứa đầy gấu bông và những trái bóng. Một số người cho rằng đây là chiêu trò quảng bá, nhưng nó hoàn toàn phù hợp với cách sống của những người chán ghét việc gây hại cho người khác: bảo vệ hiện trạng trong khi vẫn giúp đỡ người khác trong cơn nguy khó.

Bằng những cách trái ngược và bổ sung lẫn nhau, cả những người thuộc phái bảo thủ lẫn người thuộc phái tự do đều muốn giúp đỡ những người nhập cư khốn khó. Và cùng một lúc, họ đều muốn giữ những người này cách xa mình ra.

CHÚNG TÔI CÓ CÁCH ĐỂ KHIẾN BẠN TRỞ THÀNH NGƯỜI THUỘC PHÁI TỰ DO

Nếu kể ra những mối đe dọa có thể khiến người ta trở nên bảo thu hơn, thì liệu có thể khiến người ta trở nên tự do hơn bằng cách làm điều ngược lại không? Tiến sĩ Jaime Napier, một chuyên gia về các hệ tư tưởng chính trị và tôn giá, đã phát hiện ra rằng câu trả lời ở đây là có, và nó cũng không mất thời gian lắm. Như cách các nhà nghiên cứu đã khiến cho chủ nghĩa bảo thủ tăng lên nhờ vào việc đặt một máy khử khuẩn tay ở gần nơi khảo sát, Tiến sĩ Napier cũng đã khiến người ta nghiêng về phái tự do hơn bằng một bài tập tưởng tượng đơn giản. Cô ấy yêu cầu những người thuộc phái bảo thủ tưởng tượng rằng họ có siêu năng lực khiến họ không bao giờ bị thương. Thử nghiệm sau đó về hệ tư tưởng chính trị cho thấy họ trở nên tự do hơn. Giảm thiểu cảm giác yếu đuối, điều này sẽ kéo theo việc giảm thiểu nỗi sợ N&L đối với mất mát, và cho phép dopamine – thứ chịu trách nhiệm cho những thay đổi – được mở lên để đóng vai trò lớn hơn trong việc xác định hệ tư tưởng.

Còn riêng về hành động tưởng tượng thì sao? Tưởng tượng là một hoạt động mang tính dopamine vì nó bao gồm những thứ không thực sự tồn tại. Liệu rằng hành động kích hoạt hệ thống dopamine đơn giản bằng cách tưởng tượng có khiến người ta thiên về hệ tư tưởng chính trị cánh tả hơn không? Một nghiên cứu khác cũng cho rằng câu trả lời là có.

Suy nghĩ trừu tượng là một trong những chức năng nguyên thủy của hệ thống dopamine. Suy nghĩ trừu tượng cho phép chúng ta vượt ra khỏi các cảm giác đơn thuần đến từ việc quan sát các sự kiện và đạt tới việc xây dựng một mô hình để giải thích tại sao sự kiện diễn ra như vậy. Mô tả dựa trên các giác quan tập trung vào thế giới vật chất: những thứ thực sự tồn tại. Thuật ngữ cho loại suy nghĩ này là cứng nhắc. Đó là chức năng của N&L, và các nhà khoa học gọi nó là suy nghĩ mức độ thấp. Suy nghĩ trừu tượng được gọi là mức độ cao. Một nhóm các nhà khoa học đã tự hỏi rằng liệu những người có xu hướng suy nghĩ cứng nhắc có gây hấn với những người có cách sống khác với họ hay không – những người được xem là mối đe dọa cho sự bền vững trong cách sống của họ - như những người đồng tính, người Hồi giáo, và những người vô thần.

Những tình nguyện viên trong nghiên cứu này được xem hai cách mô tả về một tình huống, thí dụ như việc nhấn chuông cửa. Họ phải chọn xem theo họ thì cách mô tả nào là chính xác hơn. Một cách là mô tả cứng nhắc (nhấn chuông cửa là một hành động giơ ngón tay lên và nhấn), và một cách là mô tả trừu tượng (nhấn chuông cửa là hành động để xem có ai ở nhà hay không). Tiếp theo người ta yêu cầu họ đánh giá mức độ yêu thích và chào đón của mình đối với những người đồng tính, người Hồi giáo và người vô thần. Những nhà nghiên cứu đã phát hiện ra một mối tương quan trực tiếp: những người chọn lựa mô tả cứng nhắc có mức độ sự yêu thích và chào đón thấp hơn đối với những những người đồng tính, người Hồi giáo và người vô thần.

Bước tiếp theo là xem liệu những cảm giác này có thể bị thao túng bằng cách khiến những người tham gia thí nghiệm suy nghĩ trừu tượng hay không. Các nhà nghiên cứu chọn ra một chủ đề để các đối tượng tham gia thí nghiệm suy nghĩ, chủ đề này hoàn toàn không liên quan đến việc chấp nhận những nhóm người mà họ cho là đe dọa đến cuộc sống của họ. Các nhà nghiên cứu bắt đầu với việc yêu cầu người tham gia nghĩ về việc duy trì một sức khỏe thể chất tốt. Phân nửa trong số họ được yêu cầu hãy mô tả cách mà họ sẽ làm điều đó (cứng nhắc) và nửa còn lại được yêu cầu mô tả tại sao duy trì sức khỏe thể chất tốt lại quan trọng (trừu trượng). Mô tả cách thức không ảnh hưởng gì tới thái độ của họ, nhưng mô tả tại sao lại giúp nâng cao cảm giác yêu thích và chào đón ở những người bảo thủ đối với những nhóm người khác biệt với họ, thái độ này được nâng cao tới mức ngang bằng so với thái độ của những người tự do.

Kích hoạt dopamine là một cách để khiến cho những người thuộc phái bảo thủ suy nghĩ như những người thuộc phái tự do. Nhưng chúng ta có thể làm được điều tương tự bằng cách khai thác mạch thần kinh vốn đang dẫn dắt những người thuộc phái bảo thủ hành xử bảo thủ: mạch thần kinh N&L, đặc biệt là những mạch cho phép chúng ta trải nghiệm sự thấu cảm. Giải pháp này sử dụng sức mạnh tinh túy của chính sự bảo thủ để tạo ra sự ủng hộ lớn hơn cho những người được cho là khiến đời sống ổn định bị thay đổi.

Hãy quay lại mâu thuẫn rõ ràng mà chúng ta đã đề cập lúc trước, về việc những người thuộc phái bảo thủ ủng hộ việc trục xuất những nhóm người nhập cư bất hợp pháp, nhưng lại quyên góp thức ăn, nước uống và đồ chơi cho các cá nhân nhập cư này. Những người thuộc phái bảo thủ N&L có thể tỏ ra thù địch với ý tưởng về việc nhập cư, nhưng họ lại có năng lực bẩm sinh trong việc kết nối trên nền tảng thấu cảm với những người nhập cư thực sự. Năng lực này – thứ mà người ta có thể gọi là sự bốc đồng vô thức – đã được các biên kịch Hollywood dùng để tăng mức độ đồng thuận đối với những người đồng tính, song tính và chuyển giới. Họ làm điều này bằng sức mạnh của các câu chuyện.

Chúng ta xây dựng một mối quan hệ tình cảm với các nhân vật trong các câu chuyện. Nếu câu chuyện hay, cảm xúc chúng ta dành cho nhân vật có thể rất giống với cảm xúc chúng ta dành cho người thật. Liên minh đồng tính nam & đồng tính nữ chống lại sự phỉ báng (The Gay & Lesbian Alliance Against Defamation – GLAAD) lưu ý rằng, “Truyền hình không chỉ phản ánh sự thay đổi trong thái độ của xã hội; nó còn góp phần tạo ra sự thay đổi này nữa. Hết lần này đến lần khác, người ta đã chứng minh rằng việc thực sự quen biết một người thuộc giới LGBT là một trong những yếu tố quan trọng nhất giúp thay đổi suy nghĩ của một người về giới LGBT, nhưng ngoài việc này ra, thì nhiều người xem truyền hình trước hết đã biết đến chúng tôi dưới dạng một nhân vật truyền hình.”

Theo báo cáo thường niên của GLAAD về sự đa dạng của các chương trình truyền hình vào giờ vàng, số lượng những nhân vật đồng tính và song tính đã tăng dần lên. Trong khảo sát mới nhất vào năm 2015, thì con số nằm khoảng 4%, tương đương với con số 3,8% những người Mỹ đồng tính công khai theo khảo sát gần đây của Gallup. Kênh truyền hình có tỉ lệ cao nhất là Fox, 6,5% số nhân vật trong các chương trình giờ vàng thuộc giới LGBT.

Những nhân vật hư cấu tạo ra những ảnh hưởng thực sự lên thái độ của người xem. Một khảo sát từ The Hollywood Reporter cho thấy rằng có 27% người trả lời rằng những chương trình truyền hình có nhân vật LGBT khiến họ ủng hộ mạnh mẽ hơn cho hôn nhân đồng giới. Khi người ta phân tích việc người xem truyền hình bầu cử như thế nào trong cuộc bầu cử tổng thống 2012, 13% những người bầu cho Romney nói rằng xem truyền hình khiến họ ủng hộ cho hôn nhân đồng tính hơn. Biến những nhóm người trừu tượng thành những cá nhân cụ thể là một phương thức hiệu quả để kích hoạt mạch thần kinh thấu cảm của N&L.

MỘT ĐẤT NƯỚC ĐƯỢC CẤM QUYỀN BỞI CÁC Ý TƯỞNG (THÔNG QUA SINH HỌC)

[Theo] Ashleymadison.com, một trang Web hẹn hò cho các cặp đã kết hôn tìm kết đối tượng ngoại tình, … [Washington, DC] đứng đầu danh sách xếp hạng các thành phố có nhiều người ngoại tình nhất trong năm thứ ba liên tiếp. . . Và nơi có nhiều kẻ ngoại tình nhất? Capitol Hill, vùng đất của các chính trị gia, nhân viên và những người vận động hành lang.

- Washington Post, 20 tháng 5, 2015

Bản chất của chính phủ là kiểm soát. Người ta có thể tuân theo sự kiểm soát này bởi vì bị xâm lược, hoặc họ tự nguyện từ bỏ một số tự do để đổi lấy sự bảo vệ. Dù bằng cách nào đi nữa, một nhóm nhỏ những người được ban cho năng lực để thực thi quyền lực đối với phần còn lại của dân số. Đây là một hoạt động mang tính dopamine vì dân chúng bị kiểm soát từ khoảng cách xa thông qua những bộ luật trừu tượng. Mặc dù nỗi sợ N&L đến từ sự trừng phạt là phương tiện để thúc đẩy thực thi các bộ luật, hầu hết mọi người đều chưa từng trải nghiệm nỗi sợ này. Họ phục tùng các ý tưởng, chứ không phải lực lượng thực tế.

Bởi vì chính phủ vốn có tính dopamine, nên những người thuộc phái tự do có xu hướng yêu thích chính phủ nhiều hơn những người thuộc phái bảo thủ N&L. Nếu 500 người thuộc phái tự do tụ tập trên đường phố, thì đó có thể là một cuộc biểu tình. Còn nếu 500 người thuộc phái bảo thủ tụ tập, thì đó hẳn chỉ là một cuộc diễu hành. Ngoài sự nhiệt tình trong việc tham gia vào các chính sách chính trị, thì người thuộc phái tự do thường theo đuổi các bằng cấp cao trong các chính sách công cộng, và họ bị thu hút bởi những lĩnh vực như báo chí – nơi mà họ có thể làm các việc liên quan đến chính sách chính trị hàng ngày. Ngược lại, những người thuộc phái bảo thủ thường không tin tưởng vào chính phủ, đặc biệt là những chính phủ hoạt động ở khoảng cách xa. Những người thuộc phái bảo thủ có xu hướng tin những chính phủ ở gần họ, với quyền lực được thực hiện ở cấp tiểu bang hoặc địa phương hơn là cấp liên bang.

Khoảng cách rất quan trọng. Hãy nghĩ về bài toán xe đẩy, chúng ta sẽ dễ dàng tối đa hóa nguồn lực hơn khi xóa bỏ cảm xúc khỏi tình huống sự việc. Đẩy ai đó xuống đường ray xe lửa để chặn xe lửa là một chuyện bất khả thi. Đứng từ xa gạt một cái nút thì dễ hơn. Tương tự, nhiều bộ luật tạo ra lợi ích cho người này nhưng gây thiệt hại cho người khác. Bạn càng ở xa, thì bạn càng dễ bị thiệt hại từ những thứ tạo ra lợi ích lớn lao hơn. Tăng thuế, giảm tài trợ, cử người tham chiến; những người được trả lương ít hơn, nhận được ít sự giúp đỡ hơn, và phải núp dưới hố tránh bom, ít khi là những người cùng nhóm với người đã đẩy anh ta vào tình huống này, miễn là người đó ở Washington, DC. Mạch thần kinh N&L không có cơ hội để tạo ra những cảm xúc tiêu cực – thứ khiến những quyết định này trở nên khó khăn hơn.

TẠI SAO LÚC NÀO WASHING CŨNG PHẢI “LÀM CÁI GÌ ĐÓ!”

Ngoài khoảng cách, một thứ khác để chứng minh chính phủ có tính dopamine chính là việc lúc nào chính phủ cũng chuẩn bị làm cái gì đó. Chưa từng nghe nói một nhà chính trị nào lên chiến lược tranh cử hứa hẹn rằng anh ta sẽ đến Washington và không làm gì cả. Chính trị luôn dùng để tạo ra các thay đổi, và thay đổi thì liên quan đến dopamine. Bất cứ khi nào có bi kịch xảy ra, lời kêu gọi này lại vang lên, Làm cái gì đó đi! Vì thế, sau cuộc tấn công của khủng bố, các cổng bảo vệ ở sân bay thường xuyên vang lên tiếng bíp, bất chấp những bằng chứng cho thấy rằng các thủ tục rườm rà và gây nhục nhã cho hành khách này không hề giúp tăng sự an toàn. Các đặc vụ quản lý an ninh vận tải – những người kiểm tra hệ thống – hầu như luôn có thể tuồn vũ khí vào bên trong. Nhưng dù sao thì, nhu cầu làm cái gì đó được thỏa mãn.

Theo GovTrack.us, chính phủ liên bang đã ban hành từ 200 đến 800 luật trong mỗi kỳ họp quốc hội kéo dài hai năm kể từ năm 1973. Quá nhiều luật lệ, nhưng đấy chẳng là gì so với điều nhà các chính trị gia đang cố gắng làm. Trong những kỳ họp này, Quốc hội đã nỗ lực thông qua từ 8.000 đến 26.000 luật. Khi người ta cho rằng phải làm cái gì đó, thì các chính trị gia vui vẻ nghe theo.

Ham muốn kiểm soát là thứ không thể tránh khỏi. Một số người ở Washington tự nhận là người thuộc phái tự do và số khác thì tự nhận là người thuộc phái bảo thủ, nhưng hầu hết mọi người đều có tính dopamine khi dính tới chính trị. Nếu không thì họ sẽ không đắc cử. Các chiến dịch chính trị đòi hỏi một động lực mạnh mẽ. Cần phải sẵn sàng hy sinh mọi thứ để đạt được thành công. Cụ thể là hy sinh thời gian dành cho gia đình. Những người N&L – những người mà đối với họ việc ở cùng với người họ yêu thương là ưu tiên hàng đầu, thì không thể thành công trong lĩnh vực chính trị được. Ở Anh, tỉ lệ ly hôn ở các thành viên Quốc hội cao gấp đôi người bình thường. Ở Mỹ, người ta thường thấy các thành viên Quốc hội sống ở Washington, trong khi gia đình của họ sống ở quê nhà. Họ ít khi gặp vợ/chồng của mình, và có rất nhiều nhân viên trẻ tuổi được trang bị loại năng lực giúp họ thỏa mãn các ham muốn mang tính dopamine của mình. Đối với chính trị gia, các mối quan hệ không phải để đem lại niềm vui; chúng đều có mục đích, dù mục đích đó là có được phiếu bầu, thông qua một dự luật, hay giải quyết một nhu cầu sinh lý. Tổng thống Harry Truman đã từng nói rằng, “Nếu bạn muốn tìm một người bạn ở Washington, hãy mua một con chó.”

ỨNG CỬ VIÊN BẢO THỦ, NGƯỜI LÀM LUẬT TỰ DO

Sự cần thiết của tính dopamine trong việc đắc cử là một vấn nạn đối với người thuộc phái bảo thủ bởi vì các cử tri có tính N&L lại đi bầu cho những chính trị gia có tính dopamine thì việc này hẳn sẽ không tạo ra hiệu quả mong muốn. Trong những năm gần đây những người thuộc phái bảo thủ đã phẫn nộ với với cái gọi là đảng Cộng hòa phát triển – những người hứa hẹn rằng sẽ giảm quy mô chính phủ, nhưng cuối cùng lại tăng nó lên. Phong trào Tiệc Trà (là một phong trào chính trị phân quyền cánh hữu tại Hoa Kỳ nổi bật chủ yếu vì kêu gọi giảm nợ công quốc gia và ngân sách liên bang bằng cách giảm chi phí và thuế má) là một trong những ví dụ dễ thấy nhất của sự phẫn nộ này. Nhóm bảo thủ này đã thể hiện một sự nhiệt tình bất thường, nhưng cho đến hiện nay thì nhóm này vẫn không thể đạt được mục tiêu làm chậm làm sự phát triển của bộ máy chính phủ.

Sự phát triển có thể sẽ không bao giờ dừng lại. Nhiệm vụ của dopamine là nhiều hơn nữa. Sự thay đổi – thứ đại diện cho sự tiến bộ hay sự mất mát các truyền thống cũ, tùy thuộc vào góc nhìn của mỗi người – là không thể tránh khỏi. Chỉ có những mạch thần kinh N&L mới có thể đem lại cảm giác thỏa mãn, thứ cảm giác về việc đã đạt đến đích và đã đến lúc dừng lại. Endorphins, endocannabinoids, và những chất dẫn truyền thần kinh N&L khác sẽ nói với chúng ta là chúng ta đã xong việc rồi, giờ là lúc nghỉ ngơi và tận hưởng thành quả lao động. Nhưng dopamine lấn át những chất này. Dopamine không bao giờ nghỉ ngơi. Trò chơi chính trị được chơi trong suốt 24 giờ mỗi ngày, 7 ngày mỗi tuần, và việc dừng lại hay việc nói ra chữ “đủ rồi” sẽ dẫn tới thất bại.

Điều đó không nói lên rằng sự phát triển của chính phủ luôn dẫn đến kết quả tệ hại. Sự tăng trưởng của những quyền lực được sử dụng cho lợi ích công cộng có thể tạo ra ảnh hưởng tích cực lên cuộc sống của hàng triệu người. Nếu chính phủ nhân đạo và hoạt động hiệu quả, quyền lực của chính phủ có thể tăng trưởng để tập trung bảo vệ quyền lợi cho những người yếu thế và giúp người nghèo thoát nghèo. Điều này sẽ bảo vệ người lao động và người tiêu dùng khỏi sự lợi dụng của các tập đoàn quyền lực. Nhưng nếu các chính trị gia thông qua những bộ luật tạo ra lợi ích cho chính họ thay vì các cử tri đã bầu cho họ, nếu tham nhũng gia tăng, hoặc nếu những nhà làm luật không biết mình đang làm gì, thì sự tự do và sự thịnh vượng sẽ phải gánh chịu hậu quả.

Trong quá khứ, cách duy nhất để đảo ngược sự bành trướng của quyền lực là thay thế sự thay đổi lớn bằng sự thay đổi khổng lồ dưới hình thức của cách mạng. John Calhoun, thượng nghị sĩ và phó tổng thống Nam Carolina thế kỷ 19, cho thấy sự hiểu biết thấu đáo của ông về những người đang chơi trò chơi quyền lực – dù người chơi ở đây là kẻ nổi loạn hay một bạo chúa – khi ông nói rằng, có được tự do thì dễ dàng hơn là giữ được tự do. Những kẻ nổi loạn mang tính dopamine và các chính trị gia cũng mang tính dopamine. Mục tiêu của cả hai đều sẽ thay đổi.

ĐỪNG ĐỂ BỊ LỪA NỮA

Cuối cùng, chướng ngại cơ bản để đạt được sự hòa hợp chính là việc não bộ của những người thuộc phái tự do rất khác so với não bộ của người thuộc phái bảo thủ, và điều này khiến cho họ khó mà hiểu được nhau. Bởi vì chính trị là một trò chơi đối đầu, sự thiếu hiểu biết lẫn nhau này sẽ dẫn đến việc bên này cảm thấy bên kia ác độc. Những người thuộc phái tự do tin rằng những người thuộc phái bảo thủ muốn đưa đất nước về thời mà những người yếu thể bị đối xử bất công. Những người thuộc phái bảo thủ thì tin rằng những người thuộc phái tự do muốn thông qua các bộ luật có tính đàn áp cao để kiểm soát mọi khía cạnh của cuộc đời họ.

Thực tế thì, đa số mọi người ở cả hai bên đều muốn những điều tốt nhất cho người Mỹ. Có nhiều người là ngoại lệ; người xấu thì nơi nào cũng có, và người ta chỉ toàn chú ý vào những người xấu này. Họ thú vị hơn những người tốt, và họ là vũ khí chính trị hiệu quả. Nhưng họ không hề đại diện cho Đảng Dân Chủ hay Đảng Cộng Hòa.

Nhiều người thuộc phái bảo thủ chỉ muốn được yên thân. Họ muốn tự do để tự quyết định dựa trên các giá trị riêng của họ. Hầu hết những người thuộc phái tự do đều muốn giúp người khác có cuộc sống tốt đẹp hơn. Mục tiêu của họ là khiến cho mọi người khỏe mạnh hơn, an toàn hơn, và không bị phân biệt đối xử. Nhưng những lãnh đạo chính trị sẽ hưởng lợi từ việc khuấy động sự thù địch giữa hai nhóm vì điều này sẽ củng cố sự ủng hộ của những người theo phe họ. Điều quan trọng ở đây là chúng ta phải nhớ rằng, những người thuộc phái tự do muốn giúp người khác trở nên tốt hơn, những người thuộc phái bảo thủ muốn giúp người khác hạnh phúc, còn chính trị gia thì chỉ muốn quyền lực.

>>> Chương 6 (1)

0 nhận xét:

Đăng nhận xét