SỰ
KẾT HỢP CỦA NHỮNG NGƯỜI THUỘC PHÁI BẢO THỦ
Những đặc điểm tính cách thiên về sự tiếp xúc cá nhân
gần gũi, thứ làm cho những người thuộc phái bảo thủ thiên về những giải pháp trực
tiếp để giúp đỡ người nghèo, cũng giúp họ xây dựng những mối quan hệ chung thủy
và lâu dài. Theo tờ New York Times,
“việc lớn lên gần vùng xanh (đỏ: bảo thủ,
xanh: tự do) Hoa Kỳ - đặc biệt là những pháo đài tự do như New York,
San Francisco, Chicago, Boston hay Washington – khiến người ta giảm ý muốn kết
hôn hơn khoảng 10% so với những nơi khác trong nước.” Thêm vào đó, khi những người
thuộc phái tự do kết hôn, họ dễ ngoại tình hơn.
Ngoài việc khảo sát về đóng góp từ thiện, Khảo sát xã
hội chung cũng theo dõi hành vi tình dục của người Mỹ. Từ năm 1991, họ bắt đầu
đặt những câu hỏi như, “Bạn có từng quan hệ tình dục với ai đó khác chồng/vợ của
bạn trong khi bạn đang kết hôn?” Tiến sĩ Kanazawa, người đo lường mối quan hệ
giữa hệ tư tưởng và trí thông minh, đã phân tích dữ liệu này để tìm xem ai là
người hay trả lời “có” cho câu hỏi này nhất. Đối với người tự đánh giá bản thân
là bảo thủ, con số này rơi vào khoảng 13%. Còn đối với người thuộc phái tự do,
con số này là khoảng 24%, và 26% ngoại tình là con số của những người nói rằng
họ cực kỳ thiên hướng tự do. Khi người ta tách riêng dữ liệu của đàn ông và phụ
nữ, thì xu hướng vẫn như vậy.
Những người thuộc phái bảo thủ ít quan hệ tình dục hơn
những người thuộc phái tự do, có thể vì những người thuộc phái bảo thủ có xu hướng
xây dựng mối quan hệ đồng hành – mà trong mối quan hệ loại này, testosterone bị
lấn át bởi oxytocin và vasopressin. Mặc dù tình dục ít thường xuyên hơn, nhưng
nó thường kết thúc với cực khoái dành cho cả hai. Theo một nghiên cứu có tên là
“Những người độc thân ở Mỹ”, một khảo sát trên hơn 5,000 người lớn bởi Viện
Nghiên cứu Tiến hóa của Đại học Binghamton, những người thuộc phái bảo thủ
thích trải nghiệm cao trào trong quan hệ tình dục hơn những người thuộc phái tự
do.
Tiến sĩ Helen Fisher, trưởng cố vấn khoa học tại
Match.com, nhấn mạnh rằng những người thuộc phái bảo thủ giỏi việc từ bỏ kiểm
soát – một hành động cần thiết để đạt được cực khoái. Cô ấy tin rằng khả năng
này liên quan chặt chẽ với việc sở hữu những giá trị rõ ràng hơn, điều khiến họ
dễ dàng cảm thấy thư giãn hơn. Lời giải thích này dựa trên mối tương quan giữa
những giá trị rõ ràng và sự phi ức chế (disinhibition) khi đạt tới cao trào, và
nó cũng không phải là một lời giải thích thẳng thắn nhất. Có nhiều lời giải
thích đơn giản hơn dựa trên những điều chúng ta đã biết về sinh học thần kinh.
Mà rõ ràng nhất là, trong các mối quan hệ mà người ta tin tưởng lẫn nhau, việc
buông bỏ quyền kiềm soát – thứ cần thiết để đạt cao trào – trở nên dễ dàng hơn
nhiều. Mà loại quan hệ này thì phổ biến hơn đối với cộng đồng những người thuộc
phái bảo thủ luôn tìm kiếm sự ổn định mang tính N&L, so với những người
theo trường phái tự do, luôn tìm kiếm điều mới lạ có tính dopamine cao. Thêm
vào đó, khả năng để tận hưởng những cảm giác thuộc về thể xác trong quan hệ
tình dục ngay ở hiện tại đòi hỏi chúng ta phải dùng các chất dẫn truyền thần
kinh N&L như endorphins và endocannabionoids để đè nén dopamine xuống. Khi
hoạt động của hệ thống N&L mạnh hơn so với hoạt động của dopamine, quá
trình này sẽ xảy ra dễ dàng hơn.
Trang web hẹn hò OkCpuid đã tạo một khảo sát trên vấn
đề tình dục, và phát hiện ra một thông tin gây tranh cãi liên qua đến thứ mà
người ta cho là quan trọng, thứ họ cho là không quan trọng, và cực khoái. Họ đã
đặt câu hỏi rằng, “Có phải cực khoái là phần quan trọng nhất trong tình dục
không?” Họ chia dữ liệu dựa trên mối tương quan với chính trị và nghề nghiệp của
người được hỏi. Những người có xu hướng trả lời không cho câu hỏi này thường là những nhạc sĩ, họa sĩ và nhà văn
thuộc phái tự do.
Nếu bạn có mức dopamine rất cao – giống như những nhà
văn, họa sĩ và nhạc sĩ – thì phần quan trọng nhất của tình dụ có lẽ thường xuất
hiện trước sự kiện chính. Đó là sự chinh phục. Khi một khao khát vật chất tưởng
tượng biến thành một người thật, khi hy vọng được thay thế bởi sự sở hữu, thì
vai trò của dopamine đến đây là hết. Cơn sốt đi qua, và cực khoái là thứ gây thất
vọng vì nó không gây hưng phấn như bạn đã tưởng tượng. (anticlimactic)
Cuối cùng, như chúng ta đã nghĩ khi so sánh phái tự do
(với nồng độ dopamine cao) và phái bảo thủ (với nồng độ các chất dẫn truyền thần
kinh N&L cao), phái bảo thủ thường hạnh phúc hơn. Một cuộc thăm dò của
Gallup từ năm 2005 đến 2007 cho thấy rằng có 66% người thuộc Đảng Cộng Hòa nói
rằng họ hài lòng với cuộc sống của họ, so với con số 53% đến từ Đảng Dân Chủ.
61% những người thuộc Đảng Cộng Hòa mô tả bản thân “rất hạnh phúc”, và con số
này ở Đảng Dân Chủ là ít hơn 50%. Với cơ chế tương tự, những người đã kết hôn
thường hạnh phúc hơn những người độc thân, và những người đi nhà thờ thì hạnh
phúc hơn những người không đi.
Dù vậy, thế giới hiếm khi lại đơn giản dễ hiểu như vậy.
Bất chấp tỉ lệ cao trong hạnh phúc hôn nhân, cực khoái, và ít ngoại tình hơn,
các cặp đôi ở các bang đỏ (bảo thủ) thường có xu hướng ly dị nhiều hơn các cặp
đôi ở bang xanh (tự do). Họ cũng tiêu thụ nhiều ấn phẩn đồi trụy hơn. Tuy là những
nghiên cứu này trông có vẻ bất hợp lý, có một cách giải thích rằng đó là kết quả
của chúng là kết quả của sự chú trọng văn hóa nhiều hơn vào tôn giáo có tổ chức.
Các cặp đôi trong các bang đỏ bị áp lực cưới sớm hơn, và họ ít khi sống chung
hay quan hệ tình dục trước hôn nhân. Kết quả là, các cặp đôi ở bang đỏ bình
quân ít có cơ hội để tìm hiểu nhau trước khi kết hôn, và điều này sẽ phá vỡ hôn
nhân của họ. Tương tự, việc phản đối tình dục trước hôn nhân có thể tạo ra nhiều
nhu cầu hơn đối với các ấn phẩm đồi trụy để giải tỏa nhu cầu tình dục.
NHỮNG
NGƯỜI HIPPIES VÀ NHỮNG NGƯỜI TRUYỀN GIÁO
Thêm vào sự phức tạp này, các đảng phái chính trị thường
bao gồm những thành phần không đồng nhất, những nhóm người có các niềm tin khác
biệt với nhau. Trong Đảng Cộng Hòa, có những nhóm ủng hộ nhỏ tin rằng các cá
nhân cần được tự do trong các quyết định của mình, không bị kiểm soát bởi luật
lệ và quy định. Những cũng có nhiều nhóm truyền giáo năng nổ về chính trị muốn
biến đất nước mình thành một nơi tốt đẹp hơn thông qua việc áp đặt các quy tắc
đạo đức. Không có gì đáng ngạc nhiên khi một nhóm người tự định nghĩa bản thân
thông qua việc cầu khẩn đấng tối cao và chú trọng những giá trị trừu tượng như
sự công bằng và nhân đạo thường sẽ có xu hướng giải quyết các vấn đề cuộc sống
theo hướng dopamine. Sự chú ý của họ đối với việc phát triển các giá trị đạo đức
liên tục và cuộc sống sau cái chết cũng cho thấy một sự tập turng ở tương lai.
Họ là những người tiến bộ thuộc cánh hữu.
Ở cánh tả, những người hippies – những người trân trọng
sự bền vững và thường tránh xa công nghệ, yêu thích sống một cuộc đời gắn liền
với trái đất. Họ tận hưởng những trải nghiệm ở hiện tại thay vì theo đuổi những
thứ mà họ chưa có. Họ là những người bảo thủ thuộc cánh tả, từ chối mũi tên tiến
bộ, và yêu thích vòng tròn bảo thủ.
Sự phức tạp này nhắc chúng ta về việc khi nghiên cứu
các xu hướng xã hội, điều quan trọng là phải cẩn thận và duy trì một đầu óc cởi
mở. Việc kết quả về xu hướng tính cách và chính trị của các đảng phái bị đảo
ngược hoàn toàn chứng minh rằng các dữ liệu có thể bị diễn giải một cách nhầm lẫn
mà vẫn được xem là chính xác. Thậm chí, chất lượng của dữ liệu luôn không hoàn
hảo, và những thông tin thu thập được từ các khảo sát đến từ hàng nghìn người sẽ
có nhiều lỗi hơn những dữ liệu từ các thử nghiệm lâm sàng được giám sát chặt chẽ.
Các khảo sát cũng dựa trên sự thành thật của những người tham gia. Cũng có thể
là so với những người thuộc phái tự do, những người bảo thủ không muốn thừa nhận
về sự không chung thủy trong hôn nhân hay việc họ sống không hạnh phúc, điều
này có thể sẽ bẻ cong kết quả của Khảo sát Xã hội chung.
Một vấn đề khác là những nghiên cứu khoa học có thể
không đồng nhất. Ví dụ như, một số nghiên cứu khoa học thần kinh về các tư tưởng
chính trị thường có những “anh em sinh đôi ác độc” – cùng một câu hỏi nhưng lại
ra kết quả đối nghịch nhau. Tuy nhiên, nói chung là, các dữ liệu đều ủng hộ kết
quả rằng, những người có tính cách thiên về dopamine thường có hệ tư tưởng
chính trị tiến bộ, còn những người có nồng độ dopamine thấp và N&L cao thì
thường có xu hướng nghiêng về phe bảo thủ.
Bức tranh lớn sẽ trông như vầy: Bình quân, những người thuộc phái tự do thường thích suy nghĩ về
phía trước, họ lý trí, không kiên định, sáng tạo, thông minh, và ít khi hài
lòng. Ngược lại, những người thuộc phái bảo thủ, thường thoải mái với các xúc cảm,
đáng tin cậy, kiên định, bình thường, ít trí tuệ hơn, và hạnh phúc hơn.
SỰ
ĐÁNG TIN CẬY CỦA NHỮNG NGƯỜI BỎ PHIẾU PHI LÝ TRÍ
Mặc dù những người rất bảo thủ vầ những người rất tự
do thường bỏ phiêu cho phe của mình, những người còn lại thường có một hệ tư tưởng
có tính trung bình. Họ là những người bỏ phiếu độc lập luôn cởi mở với những giải
pháp chính trị. Thuyết phục được những người này là một bước vô cùng quan trọng
trong chiến dịch tranh cử, và khoa học thần kinh có thể sẽ giúp soi sáng phương
thức tốt nhất để làm điều này.
Điểm giao nhau giữa nghệ thuật thuyết phục và khoa học
thần kinh là lúc người tao tạo ra các quyết định và thực hiện các hành động – sự
giao nhau giữa mạch thần kinh dopamine ham muốn và dopamine kiểm soát khi chúng
ta cân nhắc giữa các lựa chọn và tạo ra các quyết định về điều mà chúng ta cho
là sẽ tạo ra một tương lai tốt đẹp nhất. Dù đó là việc chọn chai nước giặt đồ
nào trên kệ hay gạch tên ứng viên nào trong cuộc bầu cử chính trị, thì những
quyết định này cũng thuộc lãnh địa của dopamine kiểm soát, đặt một câu hỏi đơn
giản rằng, Điều gì là tốt nhất cho tương
lai về lâu về dài của tôi? Những để thuyết phụ dopamine kiểm soát, vượt qua
mọi đối số (counterarguments) chắc chắn sẽ nảy sinh, là điều mà một miếng
sticker dán hay một quảng cáo 30 giây trên truyền hình hk6ong thể làm được. Và
từ góc nhìn hoàn toàn thực tế, thì dù sao cũng chẳng đáng để làm như vậy. Những
quyết định lý trí khá yếu ớt, chúng sẽ luôn thay đổi khi có thêm các thông tin
mới. Sự phi lý trí mới là thứ vững bền hơn, và người ta có thể lợi dụng cả
dopamine lẫn N&L để khiến cho người khác tạo ra những quyết định phi lý
trí. Những công cụ hiệu quả nhất là nỗi sợ hãi, ham muốn, và sự đồng cảm.
Nỗi sợ hãi là thứ hiệu quả hơn cả, đây cũng là lý do tại
sao những quảng cáo tấn công đối thủ, mô tả đối thủ là nguy hiểm, lại phổ biến
như vậy. Nỗi sợ hãi nói với những mối bận tâm nguyên thủy của chúng ta rằng: Liệu tôi có thể sống sót hay không? Liệu con
cái của tôi có an toàn không? Liệu tôi có giữ được việc làm của mình để có tiền
trang trải cuộc sống hay không? Khuấy động nỗi sợ hãi là một phần không thể
thiếu của bất kỳ chiến dịch chính trị nào. Một hiệu ứng phụ đáng tiếc ở đây là
việc này cũng khiến dân Mỹ ghét bỏ lẫn nhau.
TẠI
SAO CHÚNG TA GIẢI TRÍ TỚI CHẾT?
Trong cuốn sách đầy khiêu thích xuất bản năm 1985 có
tên là Giải trí tới chết (Amusing Ourselves to Death), học giả
truyền thông Neil Postman cho rằng sự gia tăng của truyền hình đã giảm bớt các
diễn ngôn chính trị. Ông đã quan sát thấy rằng các tin tức trên truyền hình vào
thời đó đã mang tính giải trí cao. Ông trích dẫn từ phát ngôn viên truyền hình
Robert MacNeil: “Anh ta viết rằng, ý tưởng rằng “để giúp cho mọi thứ ngắn gọn,
để không làm cạn kiệt sự tập trung của bất kỳ ai, thay vào đó cung cấp một sự
thúc giục liên tục thông qua sự đa dạng, tính mới mẻ, các hành động và sự chuyển
động. Bạn cần phải … không quá chú ý vào bất kỳ khái niệm, nhân vật hay vấn đề
nào trong thời gian nhiều hơn vài giây.” Hơn ba thập niên sau đó, tin tức trên
internet cũng y như vậy. Thậm chí các thông tin còn bị nhồi nhét trầm trọng hơn
bằng những tiêu đề ngắn gọn đầy khiêu khích. Hầu hết chúng đều không phải là những
tài liệu dài và ý nghĩa để đọc, mà toàn là những videos ngắn và bóng bẩy để
xem.
Postman cho rằng điều này tạo ra một hệ quả khủng khiếp,
nhưng ông không đoán được tại sao chúng ta lại thích giải trí hơn là suy nghĩ
nghiêm túc khi chúng ta tranh cãi những câu hỏi quan trọng mang tầm quốc gia.
Ba mươi năm sau, người ta vẫn không đoán được lý do cho việc này. Các công nghệ
truyền thông có vô số những hình thức khác nhau, nhưng tại sao tin tức trên
internet lại, giống như tin tức trên truyền hình, đề cao sự ngắn gọn và mới mẻ
thay vì những phân tích chuyên sâu? Không phải các sự kiện trên thế giới đáng để
chú ý hơn sao?
Câu trả lời chính là dopamine ham muốn. Một câu chuyện
bóng bẩy ngắn gọn bật lên giữa biển thông tin – đó là sự nổi bật. Nó tạo ra một cú hit dopamine và chộp lấy sự chú ý của
chúng ta. Vì thế chúng ta click vào hàng tá các tiêu đề khiêu khích dẫn tới những
video về mèo con và bỏ qua những bài nghiên cứu dài về sức khỏe. Những câu chuyện
về sức khỏe có vẻ thích hợp với chúng ta hơn, nhưng hiệu quả từ việc đọc loại
chuyện đó không thể nào so sánh được với khoái cảm đơn giản đến từ những cú hit
dopamine. Dopamine kiểm soát có thể đẩy lùi những điều này, nhưng nó luôn bị
đàn áp bởi cơn lũ những thứ mới mẻ và bóng bẩy, và những như này chính là tiền
tệ của Internet.
Điều này sẽ dẫn tới đâu? Có lẽ không phải là một sự phục
hưng của những bài báo dài rồi. Những câu chuyện ngắn gọn càng ngày càng thịnh
hành trong môi trường tin tức, và chúng càng ngày phải càng ngắn gọn và nông cạn
hơn nữa để cạnh tranh với nhau. Hầu hết các điện thoại di động trong thời đại
này đều đề xuất thay thế cho những cụm từ bằng một thứ nhanh và đơn giản hơn
(và thô tục hơn) để bắt mắt: các emoji.
Postman có lẽ không biết về nguyên nhân đến từ khoa học
thần kinh để lý giải điều này, nhưng ông hiểu được hậu quả của nó: “Và như thế,
chúng ta nhanh chóng chuyển sang một môi trường thông tin mà đúng ra có thể được
gọi là theo đuổi các giá trị tầm thường. Và vì việc này khiến cho những sự thật
bị sử dụng như một trò vui, các tin tức của chúng ta cũng sẽ như vậy. Người ta
đã chứng minh rằng một nền văn hóa có thể sống sót trước sự nhiễu loạn thông
tin và những ý kiến trái chiều. Nhưng người ta chưa biết được rằng liệu một nền
văn hóa có thể sống sót được không nếu nó đo đạc thế giới trong vòng 20 phút.
Hoặc nếu giá trị của tin tức được xác định bằng việc nó gây cười nhiều như thế
nào.”
KHIẾN
YÊU THƯƠNG VÀ MẤT MÁT ĐAU ĐỚN HƠN
Ngoài việc khai khác các nhu cầu nguyên thủy, một lý
do khác để nỗi sợ hãi có hiệu quả lớn đến vậy là ác cảm đối với mất mát, nghĩa là nỗi đau đến từ những thứ chúng ta
mất mát mạnh hơn so với niềm vui đến từ những thứ mà chúng ta đạt được. Ví dụ,
nỗi đau đến từ việc mất $20 lớn hơn hạnh phúc đến từ việc thắng $20. Đó là lý
do tại sao nhiều người từ chối việc cá cược tung đồng xu 50/50 khi số tiền
tương đương. Trên thực tế, hầu hết mọi người đều từ chối ngay cả khi thắng $30
còn thua thì mất $20. Số tiền thắng phải gấp đôi, nghĩa là thắng $40 và thua
$20 thì họ mới đồng ý đặt cược.
Một nhà toán học sẽ nói rằng, khi có 50/50 cơ hội thắng,
số tiền thắng nhiều hơn số tiền cược, thì người đánh cược sẽ có được giá trị ròng dương – và như thế thì bạn
nên đánh cược đi. (Điều quan trọng phải biết là điều này chỉ hiệu quả khi vụ cá
cược này nằm trong khả năng chi trả của chúng ta. Dùng $20 trong quỹ tiền đi
xem phim để cá cược thì được, chứ dùng $200 trong quỹ trả tiền nhà thì không.)
Nhưng hầu như mọi người đều sẽ từ chối cơ hội thắng $30 thua $20. Tại sao họ lại
như vậy?
Khi các nhà khoa học tiến hành quét não bộ trong các
thí nghiệm cá cược như vậy, họ nhìn vào dopamine trước tiên. Họ phát hiện ra rằng
các hoạt động thần kinh trong mạch thần kinh ham muốn tăng lên sau mỗi chiến thắng
và giảm đi sau mỗi lần thua cuộc – đúng như mong đợi. Nhưng sự thay đổi này
không cân xứng với nhau. Mức độ giảm đi sau mỗi lần thua lớn hơn mức độ tăng
lên sau mỗi lần thắng. Mạch thần kinh dopamine phản chiếu trải nghiệm chủ quan.
Hiệu quả đến từ sự thua cuộc lớn hơn hiệu quả đến từ sự thắng cuộc.
Hoạt động não bộ nào có thể lý giải cho sự bất cân đối
này? Thứ gì đã phóng to hơn phản ứng của chúng ta trước sự mất mát? Các nhà
nghiên cứu chuyển sự chú ý sang hạch hạnh nhân (amygdala) – một cấu trúc
N&L chịu trách nhiệm cho nỗi sợ hãi và những cảm xúc tiêu cực. Mỗi khi người
tham gia thí nghiệm thua trong cá cược, hạch hạnh nhân của họ phát sáng, khiến
cho cảm giác phiền muộn chán nản của họ tăng cao. Chính các cảm xúc N&L
đang dẫn dắt cảm giác thua cuộc chán nản. Hệ thống N&L không quan tâm tới
tương lai. Nó chẳng quan tâm đến những thứ mà chúng ta có thể sẽ đạt được. Nó
chỉ quan tâm đến những thứ mà chúng ta đang có ở hiện tại. Và khi những thứ này
bị đe dọa, chúng ta sẽ trải qua cảm giác sợ hãi và đau khổ.
Những nghiên cứu khác cũng phát hiện ra kết quả tương
tự. Trong một thí nghiệm nọ, những người tham gia được phân phát ngẫu nhiên một
cốc cà phê. Nửa nhóm có cốc cà phê, nửa nhóm không có. Ngay khi họ được đưa cho
cái cốc cà phê, các nhà nghiên cứu cho những người tham gia cơ hội được đổi chiếc
cốc này thanh tiền. Những người sở hữu các cốc sẽ ra giá cho cốc của họ, và người
mua cốc sẽ ra giá để mua những cái cốc này. Giá mà người sở hữu đề ra là khoảng
$5.78, trong khi giá mà người mua đề ra chỉ khoảng $2.21. Những người bán muốn
giữ cái cốc của họ, còn những người mua thì muốn giữ tiền của mình. Cả người
mua và người bán đều muốn giữ gìn thứ mà họ đang có.
Vai trò quan trọng của hạch hạnh nhân (amygdala) trong
cảm giác chán ghét sự mất mát được xác nhận bằng một thứ được gọi là thí nghiệm
tự nhiên. Các thí nghiệm tự nhiên là những căn bệnh và chấn thương đã tiết lộ
những kiến thức khoa học quan trọng. Chúng vô cùng thú vị vì chúng thường đại
diện cho “những thí nghiệm” vô cùng phi đạo đức mà các nhà khoa học không thể
thực hiện được. Không ai có thể yêu cầu một bác sĩ giải phẩu mở sọ một người rồi
cắt bỏ hạch hạnh nhân (amydala) của người đó đi. Nhưng đôi khi việc này thực ra
xảy ra. Trong trường hợp này, các nhà khoa học nghiên cứu hai bệnh nhân mắc chứng
Urbach-Wiethe – một chứng bệnh hiếm gặp phá hủy hạch hạnh nhân (amydala) ở cả
hai bán cầu não. Khi những người nay tham gia thí nghiệm cá cược, họ có mức độ
cảm xúc như nhau khi thắng và thua cuộc. Không có hạch hạnh nhân, cảm giác chán
ghét sự mất mát đã biến mất.
Nói theo cách nào đó, thì cảm giác chán ghét sự mất
mát là phép toán đơn giản. Thắng cuộc tương đương với một tương lai tốt đẹp
hơn, vì vậy nó chỉ có liên quan tới dopamine. Khả năng thắng cuộc được 1 điểm cộng
từ dopamine. Nó không tạo ra điểm nào từ N&L, vì N&L chỉ quan tâm tới
hiện tại. Thua cuộc cũng liên quan tới tương lai, vì thế nó cũng liên quan tới
dopamine, và thua cuộc sẽ bị trừ 1 điểm từ dopamine. Ngoài ra, thì thua cuộc
cũng liên quan tới H&N, vì nó ảnh hưởng tới tài sản hiện tại. Nên H&N
cũng trừ 1 điểm. Đặt chúng cùng với nhau, ta có: thắng cuộc= +1, thua cuộc =
-2, kết quả hoàn toàn chính xác so với những gì chúng ta thấy khi quét não và
trong những thí nghiệm cá cược.
Nỗi sợ hãi, cũng giống như ham muốn, nguyên bản vốn là
một khái niệm tương lai – lãnh địa của dopamine. Nhưng hệ thống N&L đã tăng
nỗi đau đến từ mất mát bằng cách kích hoạt hạch hạnh nhân, bổ sung vào sự đánh
giá của chúng ta khi chúng ta phải quyết định cách nào là tốt nhất để phòng
tránh rủi ro.
CUNG
CẤP HAY BẢO VỆ?
Mặc dù ác cảm đối với mất mát là một hiện tượng phổ
quát, những nhóm khác nhau sẽ có những đặc điểm khác nhau. Nói chung, những người
thuộc phái tự do có dopamine cao thường thiên về những thứ cung cấp lợi ích,
như cơ hội để có nhiều nguồn lực hơn, trong khi những người thuộc phái bảo thủ
N&L thì thiên về những thứ cung cấp sự bảo đảm, như khả năng giữ gìn những
thứ mà họ đang có. Người thuộc phái tự do sẽ ủng hộ những chương trình mà họ
tin rằng sẽ dẫn tới một tương lai tốt đẹp hơn, như việc tài trợ cho giáo dục, kế
hoạch đô thị, và tài trợ của chính phủ trong việc phát triển công nghệ. Người
thuộc phái bảo thủ thì thích những chương trình giúp họ giữ gìn lối sống của
mình, như chi tiêu cho sự phòng vệ, luật lệ và trật tự, và hạn chế dân nhập cư.
Người thuộc phái tự do và người thuộc phái bảo thủ đều
có lý do của họ để tập trung vào các mối đe dọa hay các lợi ích, họ tin rằng lý
lẽ của mình là hợp lý – và đây là kết quả từ cách mà họ cân nhắc kỹ lưỡng các bằng
chứng. Điều này có thể không đúng. Có nhiều khả năng là điều này đến từ sự khác
biệt cơ bản trong phương thức hoạt động của não bộ của họ.
Các nhà nghiên cứu tại Đại học Nebraska đã chọn ra một
nhóm các tình nguyện viên dựa trên tư tưởng chính trị của họ và đo lường mức độ
kích động của họ khi cho họ xem những bức hình kích thích sự ham muốn và cảm
xúc tiêu cực. Đôi khi sự kích động được dùng để mô tả sự hưng phấn tình dục,
nhưng nói chung nó là một đơn vị đo lường liên quan đến việc một người chú ý đến
những thứ xảy ra xung quanh người đó nhiều ít như thế nào. Khi một người cảm thấy
thích thú một thứ gì đó và gắn kết với nó, nhịp tim của người này sẽ tăng lên,
huyết áp cũng tăng lên một chút, và anh ta sẽ đổ một ít mồ hôi. Các bác sĩ gọi
đây là phản ứng thông cảm. Cách thông thường để đo lường phản ứng thông cảm này
đang gắn các điện cực vào cơ thể một người, và đo xem cường độ dòng điện như thế
nào. Mồ hôi là nước muối – thứ tạo ra điện tốt hơn một làn da khô kháo. Một người
bị kích động càng nhiều thì cường độ dòng điện càng cao.
Sau khi các điện cực được gắn vào những người tham gia
thí nghiệm, họ được cho xem ba bức ảnh tiêu cực (một con nhện trên mặt một người,
một vết thương hở lở loét, và một đám đông đang đánh một người). Và ba bức hình
tích cực (một đứa trẻ hạnh phúc, một tô trái cây, và một con thỏ đáng yêu). Những
người thuộc phái tự do có phản ứng mạnh mẽ hơn với những bức ảnh tích cực, người
thuộc phái bảo thủ phản ứng mạnh hơn với những bức ảnh tiêu cực. Vì các nhà
nghiên cứu đo đạc dựa trên phản ứng sinh học – sự đổ mồ hôi – nên những người
tham gia thí nghiệm không thể kiểm soát những phản ứng này được. Trong thí nghiệm
này, người ta đo lường một thứ còn cơ bản hơn những lựa chọn lý trí.
Tiếp theo họ sử dụng một thiết bị theo dõi mắt để xác
nhận những người tình nguyện viên sẽ nhìn một bức hình gồm nhiều bức tranh ghép
lại với nhau – những bức tiêu cực và tích cực khi chúng xuất hiện cùng một lúc.
Kết quả này cũng phù hợp với hiện tượng phổ quát về ác cảm đối với mất mát. Tuy
nhiên, những người thuộc phái bảo thủ dành nhiều thời gian để nhìn vào những bức
ảnh kích thích sự sợ hãi hơn, trong khi người thuộc phái tự do thì chia sự chú
ý của mình cho hai bức hình bằng nhau. Các bằng chứng cho ác cảm đối với mất mát
đều có thể tìm thấy ở hai nhóm, nhưng chúng rõ ràng hơn ở nhóm người thuộc phái
bảo thủ.
CHÚNG
TÔI CÓ NHIỀU CÁCH BIẾN BẠN THÀNH NGƯỜI THUỘC PHÁI BẢO THỦ
Mối quan hệ giữa chủ nghĩa bảo thủ vào các mối đe dọa
là một mối quan hệ hai chiều. Những người thuộc phái bảo thủ có xu hướng tập
trung vào các mối đe dọa hơn so với người thuộc phái tự do. Cùng lúc đó, khi
người ta nghiêng về cảm giác bị đe dọa, họ trở nên bảo thủ hơn. Có một hiện tượng
nổi tiếng rằng những sự kiện khủng bố thường gia tăng độ nổi tiếng của các ứng
viên bảo thủ. Nhưng những mối đe dọa nhỏ hơn – những mối đe dọa nhỏ tới mức
chúng ta không nhận thức được chúng một cách có ý thức – thường đẩy người ta về
phía cánh hữu.
Để kiểm tra mối quan hệ giữa những đe dọa nhẹ với hệ
tư tưởng bảo thủ, các nhà nghiên cứu đã đến gần và yêu cầu các sinh viên đang
trong khuôn viên trường học điền vào một bảng khảo sát liên quan đến tư tưởng
chính trị của họ. Phân nửa số người tham gia đang ngồi trong khu vực ở gần máy
khử trùng tay – một thứ nhắc cho họ nhớ về nguy cơ lây nhiệm; phân nửa còn lại
được đưa đến một nơi khác. Những người ngồi gần máy khử trùng tay cho thấy mức
độ cao hơn đối với chủ nghĩa bảo thủ đạo đức, xã hội và tài chính. Kết quả
tương tự cũng xuất hiện khi một nhóm các sinh viên riêng lẻ được yêu cầu dùng
khăn lau tay khử trùng trước khi ngồi vào máy tính để trả lời các câu hỏi khảo
sát. Điều đáng chú ý là khi cuộc bầu cử diễn ra trong mùa dịch cúm, và các màn
hình bầu cử khiến cho virus lây lan. Do đó, không có gì lạ khi thấy các bình đựng
nước rửa tay có sẵn để cử tri sử dụng tại các địa điểm bỏ phiếu.
Giáo sư Glenn D.Wilson, một nhà tâm lý học chuyên
nghiên cứu về sự ảnh hưởng của thuyết tiến hóa lên hành vi con người, đã đùa rằng
trong mùa bầu cử, những tấm bảng trong phòng tắm kêu gọi “Các nhân viên phải rửa
tay trước khi quay về làm việc” là những tấm bảng quảng cáo cho Đảng Cộng Hòa.
0 nhận xét:
Đăng nhận xét