Bảo
thủ: Một chính khách say mê với những tệ nạn hiện có, khác với người theo chủ
nghĩa tự do –người muốn thay thế chúng bằng những tệ nạn khác.
Ambrose
Bierce, The Devil’s Dictionary
CHƯƠNG
5
CHÍNH
TRỊ
Tại
sao chúng ta không thể hiểu nổi.
Trong
đó chúng ta biết được cách những người quyền lực và việc rửa sạch tay ảnh hưởng
đến hệ tư tưởng chính trị của chúng ta như thế nào
TIẾC
NUỐI CỦA NHỮNG NHÀ VĂN
Tháng 4 năm 2002, tạp chí American Journal of Political Science đã xuất bản một báo cáo
nghiên cứu, “Tương quan không phải là Nhân quả: Mối Quan Hệ Giữa Tính Cách và Hệ
Tư Tưởng Chính Trị.” Bài báo này được viết bởi một nhóm các nhà nghiên cứu đến
từ Đại Học Virginia Commonwealth, những người đã nghiên cứu ra mối liên hệ giữa
các niềm tin chính trị và tính cách cá nhân. Họ phát hiện ra rằng hai thứ này
liên quan đến nhau, và sự liên quan này có thể đến từ gene. Cùng với đó, họ
cũng nói rằng có những đặc tính cá nhân nhất định gắn liền với đảng tự do, và số
khác thì gắn với đảng bảo thủ.
Họ đặc biệt chú ý đến tập hợp những đặc tính cá nhân –
thứ mà các bác sĩ trị liệu tâm lý gọi là chòm
sao tính cách – có tên là P. Các tác giả đã ghi nhận rằng những người có điểm
P thấp thường “vị tha, kết nối xã hội
tốt, thấu cảm, và truyền thống.” Ngược lại, những người có điểm P cảo thường “thích thao túng, đầu óc cứng
rắn, và thực tế,” và đại diện cho những tính cách như là “mạo hiểm, tìm kiếm cảm
xúc, bốc đồng, và độc đoán.” Họ kết luận, “Như vậy, chúng ta có thể nói rằng những
người có điểm P cao sẽ có thái độ chính trị nghiêng về bảo thủ hơn.”
Thứ họ suy đoán chính xác là thứ mà họ đã phát hiện. Họ
nói, các khuôn mẫu tính cách là có thật: những người thuộc phái bảo thủ thường
bốc đồng và độc đoán, còn những người thuộc phái tự do thường hòa đồng và hào
phóng. Nhưng trong khoa học, khi bạn tìm thấy thứ mà bạn mong đợi, nó có thể là
dấu hiệu của một cảnh báo. Vào tháng 1 năm 2016, 14 năm sau bảng báo cáo đầu
tiên đó, tờ báo đã thu hồi lại bài báo này:
Những tác giả rất hối tiếc
vì phiên bản báo cáo đã được phát hành “Tương quan không phải là Nhân quả: Mối
Quan Hệ Giữa Tính Cách và Hệ Tư Tưởng Chính Trị.” Kết luận của nghiên cứu này …
phải được diễn giải theo hướng hoàn toàn ngược lại.
Ai đó đã lật ngược thế cờ. Cách diễn giải đúng đắn lại
trái ngược với những gì họ đã báo cáo. Chính những người theo chủ nghĩa tự do
trong nghiên cứu của họ mới là những người thích thao túng, đầu óc cứng rắn và
thực tế - chứ không phải những người theo chủ nghĩa bảo thủ. Và những người thuộc
phái bảo thủ, mới là những người vị tha, kết nối xã hội, thấu cảm và truyền thống
– chứ không phải những người thuộc phái tự do. Nhiều người đã ngạc nhiên trước
sự đảo ngược này. Nhưng nếu chúng ta xem xét kết quả của nghiên cứu này ở mức độ
căn bản nhất và cách mà nó liên quan đến hệ thống dopamine, kết quả ngược lại
mà mới là thứ hợp lý hơn cả - rõ ràng là hợp lý hơn so với kết quả ban đầu, dù
nó hợp với những dự đoán của đa số, nhưng hóa ra hoàn toàn sai ngược.
GIỚI
HẠN CỦA VIỆC ĐO ĐẠC TÍNH CÁCH
Các nhà tâm lý học đã nghiên cứu trong hàng thập kỷ để
phát triển ra các cách thức để đo đạc tính cách. Họ phát hiện ra rằng tính cách
con người có thể được chia làm nhiều mảng khác nhau, như độ cởi mở, sẵn sàng
đón nhận những thứ mới mẻ, hay tính kỷ luật. Các nhà tâm lý học Hoa Kỳ chia
tính cách ra làm năm nhóm chính, còn những nhà tâm lý học ở Anh thì chia làm ba
nhóm. Dù với cách chia nào đi chăng nữa, khi một nhà khoa học tập trung vào một
trong số các nhóm chính này, cô ấy chỉ đo đạc được một lát cắt mỏng trong tính
cách của một người, chứ không đo được toàn bộ người đó. Hãy xem xét hai y tá
khi họ có cùng thang điểm nhân ái. Khi mới nhìn vào, người ta có thể tưởng tượng
ra hai người giống nhau. Nhưng cũng có những nhóm tính cách khác nữa. Một người
y tá có thể cởi mở và tràn đầy cảm xúc, người kia có thể sống hướng nội và kềm
chế cảm xúc. Thậm chí dù những người y tác này có một số tính cách giống nhau,
họ là một nhóm được tạo lên bởi các cá nhân khác nhau.
Một giới hạn khác trong việc đo đạc tính cách là các
nhà khoa học thường báo cáo một nhóm những điểm trung bình. Vì vậy, nếu một nghiên cứu phát hiện ra rằng những người
thuộc phái tự do thích mạo hiểm hơn những người thuộc phái bảo thủ, thì có thể
trong nhóm những người thuộc phái tự do vẫn có nhiều người thích sự an toàn.
Nghiên cứu về tính cách có thể giúp chúng ta dự đoán về một nhóm người, chứ
không phải về một cá nhân cụ thể.
ĐẢNG
TIẾN BỘ TƯỞNG TƯỢNG MỘT TƯƠNG LAI TỐT ĐẸP HƠN
Những tính cách gắn liền với đảng tự do – mạo hiểm,
tìm kiếm cảm xúc, bốc đồng và độc đoán – như kết quả sau của nghiên cứu, chính
là tính cách đến từ dopamine mức độ cao. Nhưng những người có dopamine cao có
thực sự ủng hộ đảng tự do? Có vẻ câu trả lời là có. Những người thuộc phái tự
do thường gọi bản thân mình là những người
tiến bộ (progressive), một thuật ngữ ám chỉ sự cải tiến liên tục. Những người
tiến bộ yêu thích sự thay đổi. Họ tưởng tượng về một tương lai tốt đẹp hơn và
trong vài trường hợp, họ thậm chí tin rằng sự kết họp đúng đắn giữa công nghệ
và chính sách cộng đồng có thể xóa bỏ những vấn đề cơ bản của con người như sự
nghèo khó, ngu dốt và chiến tranh. Những người tiến bộ là những người theo chủ
nghĩa lý tưởng (idealist – những người
tin rằng có thể đạt được những điều tốt đẹp), họ sử dụng dopamine để tưởng
tượng về một thế giới tốt hơn nhiều so với thế giới mà chúng ta đang sống. Chủ
nghĩa tiến bộ là một mũi tên chỉ thẳng về phía trước.
Mặt khác, cụm từ bảo
thủ, ám chỉ việc duy trì những những tốt nhất mà chúng ta đã thừa hưởng từ
những người đi trước. Những người thuộc phái bảo thủ thường nghi ngờ sự đổi mới.
Họ không thích các chuyên gia cố gắng cải tiến dân chúng bằng cách bảo họ phải
làm thế này thế kia, ngay cả khi việc này tạo ra lợi ích cho họ, ví dụ, bộ luật
yêu cầu người chạy xe mô tô phải đội nón bảo hiểm, hay các quy định để ăn uống
lành mạnh. Những người thuộc phái bảo thủ không tin vào chủ nghĩa lý tưởng của
những người tiến bộ, họ chỉ trích nó là một nỗ lực vô ích để xây dựng một xã hội
trong mơ hoàn hảo; một nỗ lực thường dẫn tới chủ nghĩa độc đoán mà giới thượng
lưu sẽ thống trị mọi lĩnh vực trong đời sống cá nhân và cộng đồng. Ngược lại với
mũi tên đại diện cho chủ nghĩa tiến bộ, chủ nghĩa bảo thủ thường được đại diện
bởi một vòng tròn.
Matt Bai, cựu phóng viên chính trị của tờ New York Times, vô tình đã nhận ra sự
khác biệt về dopamine giữa cánh tả và cánh hữu khi ông viết rằng, “Đảng dân chủ
chỉ thắng khi họ nhấn mạnh sự hiện đại hóa. Chủ nghĩa tự do chỉ thắng khi nó đại
diện một chính phủ được cải tổ, thay vì giữ gìn thứ đang có… người Mỹ không cần
Đảng dân chủ đại diện cho sự hoài cổ và bảo lưu. Họ đã có Đảng cộng hòa để làm
điều đó rồi.”
Mối liên quan giữa dopamine và chủ nghĩa tự do được mô
tả kỹ hơn khi nhìn vào những nhóm người cụ thể. Những người có dopamine cao thường
sáng tạo. Họ cũng giỏi trong việc nắm bắt các khái niệm trừu tượng. Họ theo đuổi
sự mới mẻ và không thỏa mãn với việc giữ nguyên hiện trạng. Liệu có bất kỳ bằng
chứng nào cho việc những người này có xu hướng chính trị nghiêng về tự do? Các
công ty start-up ở Thung Lũng thu hút chính xác những người có loại tính cách
này: sáng tạo, chủ nghĩa lý tưởng, giỏi trong những lĩnh vực trừu tượng như kỹ
thuật, toán học, và thiết kế. Họ là những kẻ nổi loạn, thích theo đuổi sự thay
đổi, ngay cả khi đứng trước nguy cơ phá sản. Các doanh nhân ở Thung lũng
Silicon, và những người làm việc cho họ, thường có độ dopamine khá cao. Họ có đầu
óc cứng rắn, ưa mạo hiểm, tìm kiếm cảm xúc, và thực tế - những đặc điểm tính
cách liên quan đến người theo chủ nghĩa tự do mà bài báo American Journal of Policical Science phiên bản đính chính đã nhắc
đến.
Chúng ta biết gì về những nhà chính trị ở Thung Lũng
Silicon? Một khảo sát từ các nhà sáng lập doanh nghiệp start-up đã tiết lộ rằng
hơn 83% những người này có tư tưởng tiến bộ rằng giáo dục có thể giải quyết tất
cả hoặc hầu hết các vấn đề xã hộ. Trong khi ở khảo sát chung, thì tỉ lệ người
tin điều này chỉ khoảng 44%. So với người bình thường, những nhà sáng lập
startup có nhiều xu hướng tin rằng chính phủ nên khuyến khích các quyết định cá
nhân thông minh. 80% trong số họ tin rằng hầu hết thay đổi về lâu về dài sẽ
mang lại kết quả tốt. Vào trong năm bầu cử tổng thống 2012, hơn 80% phiếu bầu từ
những nhà máy công nghệ hàng đầu là dành cho Barack Obama.
TỪ
HOLLYWOOD ĐẾN HARVARD
Một ví dụ khác cho sự liên quan giữa dopamine và chủ
nghĩa tự do đến từ ngành công nghiệp giải trí. Hollywood là thánh địa mecca của
sự sáng tạo Mỹ, cũng như là khuôn mẫu cho sự gia tăng về dopamine trong con người.
Những người nổi tiếng luôn sốt sắng theo đuổi nhiều hơn: nhiều tiền hơn, nhiều thuốc hơn, nhiều sex hơn, và nhiều
hơn bất kỳ thứ đang là mô-đen mới nhất. Họ dễ bị buồn chán. Theo một nghiên cứu
đến từ Tổ chức Hôn nhân, một tổ chức tư vấn của Anh, tỉ lệ ly hôn giữa những
người nổi tiếng nhiều gấp đôi người bình thường. Trong năm đầu tiên của hôn
nhân, tỉ lệ này còn có thể tệ hơn, vì đây là năm mà cặp đôi phải chuyển từ trạng
thái tình yêu đam mê sang trạng trái tình yêu đồng hành. Những cặp đôi nổi tiếng
mới kết hôn có khả năng ly hôn cao hơn người bình thường gần sáu lần.
Nhiều vấn đề mà những người diễn viên gặp phải về bản
chất có liên quan đến dopamine. Trong nghiên cứu năm 2016 ở nhiều diễn viên người
Úc, người ta phát hiện ra rằng bất chấp “cảm giác về sự phát triển cá nhân và
nhận thức về mục tiêu công việc của người diễn viên”, họ rất nhạy cảm với những
căn bệnh tâm thần. Những người diễn viên được nhận định là dễ bị mắc một số chứng
bệnh bao gồm “vấn đề tự chủ, thiếu khả năng làm chủ môi trường, các quan hệ cá
nhân phức tạp và hay tự chỉ trích bản thân.” Đây là những thử thách có thể xem
là khó khăn nhất mà một người có dopamine cao phải đối mặt, những người này
luôn cần cảm giác kiểm soát đối với môi trường của họ và thường gặp khó khăn
trong việc định hướng những mối quan hệ phức tạp giữa người và người.
Về lĩnh vực chính trị, tư tưởng tự do thống trị
Hollywood. Theo CNN, những người nổi tiếng đã đóng góp $800,000 cho chiến dịch
tái tranh cử của Tổng thống Barack Obama, so với số tiền chỉ tầm $76,000 cho
người đối thủ Đảng Cộng Hòa là Mitt Romney. Trung Tâm Chính Trị Phản Ứng, nơi
đã xuất bản trang website Opensecrets.org, đã báo cáo rằng trong suốt quá trình
bầu cử, những người làm việc tại bảy công ty truyền thống lớn đã đóng góp cho Đảng
Dân Chủ nhiều gấp sáu lần Đảng Cộng Hòa.
Tiếp theo trên danh sách này là lĩnh vực học thuật. Học
thuật là thánh địa của dopamine. Giới học thuật được mô tả như những người đang
sống trong tháp ngà (trái ngược với –
thí dụ như, chòi đất). Họ cống hiến đời mình cho những tư tưởng trừu tượng phi
vật chất. Và họ vô cùng mang tính tự do. Một quan điểm trên tờ New York Times đã cho rằng chỉ có 2% các
giáo sư người Anh là thuộc đảng Bảo thủ, trong khi 18% các nhà khoa học xã hội
nhận định rằng bản thân họ theo chủ nghĩa Marx.
Việc thực thi chủ nghĩa tự do chính thống được thực hiện
rộng rãi ở các trường đại học nhiều hơn ở bất kỳ nơi nào khác. Diễn viên hài
Chris Rock đã từng nói với tờ The
Atlantic rằng anh ấy sẽ không biểu diễn ở bất kỳ trường đại học nào vì các
khán giả dễ bị bực bội nếu màn biểu diễn đi ngược lại với lý tưởng tự do. Jerry
Seinfeld cũng nói trong một buổi phỏng vấn trên radio rằng những diễn viên hài
khác đã từng nói với anh rằng đừng đến gần các trường đại học. Anh được cảnh
báo rằng: “Bọn họ cực kỳ nhạy cảm với chính trị.”
NHỮNG
NGƯỜI THUỘC PHÁI TỰ DO CÓ THÔNG MINH HƠN KHÔNG?
Một nghề nghiệp liên quan đến học thuật thường là dấu
hiệu chung cho một trí thông minh siêu việt, nhưng liệu trí thông minh siêu việt
nói chung có phát triển thành những người theo chủ nghĩa tự do, những người có
hệ thống dopamine đặc biệt năng động hay không? Có thể. Một phần cơ bản trong
việc đo lường trí thông minh của các nhà tâm lý học là kiểm tra khả năng điều
khiển những ý tưởng trừu tượng, một dạng của kiểm tra mạch thần kinh dopamine
kiểm soát.
Để so sánh sự thông minh của những người theo chủ
nghĩa tự do và chủ nghĩa bảo thủ, Satoshi Kanazawa, một nhà khoa học ở Trường
Kinh tế và Khoa học Chính trị London, đã đánh giá một nhóm những người đàn ông
và phụ nữ đã thực hiện trắc nghiệm IQ khi họ còn học trung học. Điểm số được
tính trung bình theo hệ tư tưởng chính trị, và kết quả xuất hiện một xu hướng
rõ ràng. Những người lớn tự mô tả bản thấy là rất tự do có điểm IQ cao hơn so với những người người mô tả bản
thân là tự do. Những người theo chủ
nghĩa tự do có điểm cao hon những người mô tả bản thân là nửa này nửa kia, và tiến độ này tiếp tục như vậy cho đến khi so
sánh những người mô tả bản thân là rất bảo
thủ. Với điểm trung bình là 100, những người lớn theo chủ nghĩa tự do có IQ
l06 và những người lớn theo chủ nghĩa bảo thủ có IQ là 95.
Một so sánh nhỏ hơn nhưng tương tự cũng xảy ra trong
lĩnh vực tôn giác. Những người vô thần có IQ trung bình 103, còn những người mô
tả bản thân là mộ đạo thì có IQ trung bình là 97. Cần phải nhấn mạnh rằng đây
chỉ là con số trung bình. Trong các nhóm lớn hơn, sẽ có những người thuộc phái
bảo thủ xuất sắc và những người thuộc phái tự do không quá xuất sắc. Hơn nữa, sự
chênh lệch nói chung khá nhỏ. Chỉ số IQ “bình thường” rơi vào khoảng 90-109. “Cực
kỳ thông minh” bắt đầu từ mức 110, và “Thiên tài” bắt đầu từ 140.
Sự linh hoạt trí óc – khả năng tự thay đổi hành vi để
thích nghi với sự thay đổi của môi trường – cũng là một thành phần quan trọng để
đo đạc trí thông minh. Để đánh giá sự linh hoạt trí óc, các nhà nghiên cứu ở Đại
học New York đã tạo ra một thí nghiệm, họ yêu cầu những người tham gia thí nghiệm
nhấn một cái nút khi nhìn thấy kí tự W và thả tay ra khi nhìn thấy kí tự M. Những
người tham gia phải suy nghĩ thật nhanh. Khi kí tự xuất hiện, họ chỉ có nửa
giây để quyết định có nhấn nút hay không. Để khiến cho thí nghiệm khó khăn hơn,
những nhà thí nghiệm thí nghiệm thi thoảng lại thay đổi luật: nhấn khi thấy M,
thả khi thấy W.
Những người thuộc phái bảo thủ gặp nhiều khó khăn hơn
so với những người thuộc phái tự do, đặc biệt là khi chuỗi các dấu hiệu nhấn
theo sau bởi dấu hiệu thả. Khi nhìn thấy dấu hiệu để thay đổi, họ gặp khó khăn
để điều chỉnh hành vi của mình.
Để hiệu rõ hơn về những gì đang xảy ra, các nhà khoa học
đã gắn các điện cực lên đầu những người tham gia để đo đạc hoạt động của não bộ
trong quá trình thí nghiệm. Khi dấu hiệu nhấn xuất hiện, thì não bộ những người
thuộc phái tự do và bảo thủ không khác nhau mấy. Những khi dấu hiệu không-nhấn
xuất hiện, và những người tham gia có nửa giây để quyết định, thì những người
thuộc phái tự do lập tức bùng nổ ở phần não bộ chịu trách nhiệm phát hiện lỗi
(bao gồm dự đoán, sự tập trung, và động lực), bùng nổ theo một cách mà các nhà
nghiên cứu không nhìn thấy ở những người thuộc phái bảo thủ. Khi tình huống
thay đổi, những người thuộc phái tự do giỏi hơn trong việc kích hoạt các mạch
thần kinh một cách nhanh chóng, và điều chỉnh phản ứng của họ để thích nghi với
những thử thách mới.
TRÍ
THÔNG MINH LÀ GÌ?
Có nhiều cách để định nghĩa trí thông mình. Nhiều
chuyên gia tin rằng bài kiểm tra IQ không đo đạc trí thông minh chung chung. Nó
chỉ đo đạc khả năng tạo ra mô thức chung từ những dữ liệu không hoàn chỉnh và
tìm kiếm thông tin mới bằng cách dùng những quy tắc trừu tượng. Nói cách khác,
bài kiểm tra IQ đo đạc khả năng xây dựng các mô hình tưởng tượng dựa trên những
trải nghiệm quá khứ, và sau đó sử dụng những mô hình này để đoán những gì sẽ xảy
ra trong tương lai. Ở đây, dopamine kiểm soát đóng một vai trò lớn.
Tuy nhiên, có nhiều cách khác để định nghĩa trí thông
minh, như là khả năng tạo ra những quyết định đúng đắn hàng ngày. Đối với dạng
hoạt động trí não này, các cảm xúc (N&L) là thứ đóng vai trò quan trọng.
Antonio Damsio, một nhà khoa học thần kinh ở Đại Học Southern California, và là
tác giả của quyền sách Descartes’s Error:
Emotion, Reason, and the Human Brain, đã nhận định rằng hầu hết các quyết định
đều không được tạo ra chỉ đơn thuần bằng con đường lý trí. Hoặc là chúng ta
không có đủ thông tin, hoặc là chúng ta có quá nhiều thông tin để xử lý. Ví dụ:
Tôi nên vào đại học nào? Làm sao để nói xin lỗi cô ấy? Tôi có nên kết bạn với
người này không? Tôi nên sơn nhà bếp màu gì? Tôi có nên cưới anh ấy không? Giờ
có phải là lúc để bày tỏ ý kiến của mình không, hay là mình nên im lặng thì
hơn?
Hiểu rõ cảm xúc của bản thân và xử lý một cách khéo
léo các thông tin cảm xúc này là vô cùng quan trọng đối với hầu hết các quyết định.
Mọi người đều quen thuộc với việc một thiên tài khoa học hay một nhà văn xuất
chúng trong đời thực lại giống như một đứa trẻ vô vọng bởi vì anh ta bị thiếu
“ý thức thông thường”(common sense) – khả năng tạo ra những quyết định đúng đắn.
Vai trò của cảm xúc trong việc tạo ra các quyết định
chưa được nghiên cứu nhiều như vai trò của những suy nghĩ lý trí; tuy nhiên,
cũng không hề vô lý khi chúng ta cho rằng những người có hệ thống N&L mạnh
mẽ sẽ có nhiều lợi thế trong lĩnh vực này. Điểm IQ cao có thể là một dấu hiệu
cho thành công về mặt học thuật, nhưng để sống cuộc đời hạnh phúc, sự thông
thái về cảm xúc có lẽ quan trọng hơn.
SỰ
KHÁC BIỆT GIỮA XU HƯỚNG NHÓM VÀ TRƯỜNG HỢP CÁ NHÂN
Các nhà khoa học thường nghiên cứu trên những nhóm nhiều
người. Họ đo đạc các tính cách mà họ quan tâm và tính ra các giá trị trung bình.
Sau đó họ so sánh các giá trị trung bình này với cái gọi là một nhóm kiểm soát.
Một nhóm kiểm soát có thể là nhóm những người bình thường, những người khỏe mạnh,
hay nhóm chung chung. Ví dụ, một nhà khoa học có thể thực hiện một nghiên cứu
dân số tiết lộ rằng những người hút thuốc lá có khả năng cao bị mắc ung thư hơn
những người bình thường. Cô ấy cũng có thể nghiên cứu gene và phát hiện những
người có gene tăng cường hệ thống dopamine thì sáng tạo nhiều hơn người bình
thường.
Vấn đề là khi chúng ta nói về con số trung bình ở một
nhóm lớn, luôn có những ngoại lệ xuất hiện, đôi khi là rất nhiều ngoại lệ. Nhiều
người trong chúng ta có thể biết ai đó hút thuốc nhiều vô cùng như vẫn sống khỏe
tới tận 90 tuổi. Tương tự, không phải người nào có gene dopamine cao cũng sáng
tạo.
Có nhiều thứ ảnh hưởng đến hành vi con người: ví dụ
như, cách mà hàng tá gene khác nhau tương tác với nhau, bạn sinh ra trong gia
đình như thế nào, và liệu bạn có được khuyến khích sáng tạo khi còn nhỏ tuổi
không. Có một loại gene đặc biệt thường chỉ có ảnh hưởng rất nhỏ. Vì thế, trong
khi những nghiên cứu này giúp chúng ta tăng cường hiểu biết về cách thức hoạt động
của não bộ, chúng cũng không hẳn là chính xác khi dùng để dự đoán hành vi cá
nhân – một người cụ thể trong nhóm lớn. Nói cách khác, các kết luận về nhóm của
bạn có thể không đúng với riêng bạn. Điều này là hoàn toàn có thể.
GENE
THỤ CẢM VÀ SỰ PHÂN TÁCH GIỮA TỰ DO – BẢO THỦ
Sự khó khăn mà những người thuộc phái bảo thủ gặp phải
có khả năng cao xuất phát từ sự khác biệt trong DNA của họ. Trên thực tế, thái
độ chính trị nói chung bị ảnh hưởng bởi gene. Ngoài bài báo trong tờ American
Journal of Political Science mà chúng ta đã nhắc trước đó, những nghiên cứu
khác cũng củng cố sự liên kết giữa định vị di truyền với một tính cách dopamine
và hệ tư tưởng tự do. Các nhà nghiên cứu từ Đại Học California, Sandiego đã tập
trung vào một gene chuyên lập trình cho loại thụ thể dopamine gọi là D4. Như hầu
hết các gene khác, gene D4 có nhiều biến thể khác nhau. Các biến thể nhẹ trong
gene gọi là alleles. Mỗi người đều có
một bộ các alleles khác nhau (cùng với môi trường mà họ lớn lên) giúp xác định
tính cách riêng biệt của họ.
Một trong những biến thể của D4 gọi là 7R. Những người
có biến thể 7R có xu hướng tìm kiếm những thứ mới mẻ. Họ không thể chịu đựng được
sự đơn điệu và luôn theo đuổi những thứ mới lạ và bất thường. Họ có thể bốc đồng,
thích khám phá, hay thay đổi, dễ bị kích động, nóng nảy và ngông cuồng. Mặt
khác, những người có ít tính cách tìm kiếm sự mới mẻ thường cẩn trọng, cứng nhắc,
trung thành, khắc kỷ, điềm đạm và tiết kiệm.
Các nhà nghiên cứu tìm thấy sự liên quan giữa allele
7R và hệ tư tưởng tự do, nhưng chỉ khi người đó lớn lên xung quanh những người
có quan điểm chính trị đa dạng. Phải có cả yếu tố về gene lẫn về xã hội thì sự
liên quan này mới xuất hiện. Một liên kết tương tự cũng được tìm thấy ở nhóm
các sinh viên người Hoa gốc Hán ở Singapore, chỉ ra rằng mối liên kết giữa
allele 7R và hệ tư tưởng tự do không chỉ thuộc về văn hóa Tây phương.
CON
NGƯỜI HAY NHÂN LOẠI?
Trong khi những người thuộc phái bảo thủ về trung bình
thường thiếu một số tài năng điêu luyện đến từ dopamine, họ thường xu hướng tận
hưởng lợi thể từ một hệ thống N&L mạnh mẽ. Điều này bao gồm sự thấu cảm và
sự nhân hậu – cụ thể là dưới hình thức từ thiện – và khả năng tạo ra những mối
quan hệ chung thủy lâu dài.
Sự chênh lệch của cánh tả và cánh hữu trong hoạt động
từ thiện đã được mô tả trong bài báo cáo nghiên cứu bởi The Chronicle of Philanthropy. Các nhà nghiên cứu sử dụng dữ liệu
IRS để đánh giá hoạt động từ thiện ở từng bang dựa trên số phiếu bầu của mỗi
bang vào cuộc bầu cử năm 2012.
Chronicle
phát
hiện ra rằng những người đóng góp phần trăm thu nhập của mình cao nhất cho từ
thiện là những người sống ở những bang bầu cho Romney, trong khi những người cho
đi tỉ lệ phần trăm thấp nhất sống ở những bang bầu cho Obama. Thực tế, mười sáu
bang đóng góp tỉ lệ phần trăm thu nhập cho từ thiện cao nhất đều là những bang
bầu cho Romney. Chi tiết hơn, các thành phố thuộc đảng tự do như San Francisco
và Boston ở gần chót bảng, trong khi Salt Lake City, Birmingham, Memphis,
Nashville, và Atlanta là những nơi hào phóng nhất. Sự khác biệt này không liên
quan đến thu nhập. Những người thuộc phái bảo thủ nghèo, giàu, và trung lưu đều
cho đi nhiều hơn những người thuộc phái tự do.
Kết quả này không có ý là người thuộc phái bảo thủ
quan tâm đến người nghèo nhiều hơn người thuộc phái tự do. Thay vào đó, có lẽ
là, như Albert Einstein, những người thuộc phái tự do thường tập trung vào nhân
loại nhiều hơn là con người. Những người thuộc phái tự do ủng hộ các bộ luật
giúp đỡ người nghèo. So với việc đóng góp từ thiện, các bộ luật là một chiến lược
tiếp cận từ một khoảng cách xa hơn đến vấn đề nghèo khó của xã hội. Điều này phản
ánh khác biệt trong sự tập trung mà chúng ta thường thấy: trong khi những người
có mức N&L cao có xu hướng tập trung vào những thứ gần tầm với, những người
có dopamine cao thường thích thú với những hành động từ xa và các kế hoạch.
Trong trường hợp này, chính phủ hoạt động như một đại diện cho sự nhân hậu của
những người thuộc phái tự do và đóng vai trò như một bộ đệm giữa người thụ hưởng
và nhà hảo tâm. Các nguồn lực dành cho người nghèo được cung cấp thông qua cơ
chế quan liêu thường được tài trợ bởi hàng triệu người đóng thuế.
Cái gì tốt hơn: chính sách hay từ thiện? Nó tùy thuộc
vào cách mà bạn nhìn nhận nó. Như người ta nghĩ, tiếp cận theo cách dopamine,
các chính sách, đã tối đa hóa các nguồn lực để giúp đỡ người nghèo. Tối đa hóa
cá nguồn lực là điều mà dopamine làm tốt nhất. Năm 2012, chính quyền liên bang,
tiểu bang và địa phương đã chi hơn $1 tỉ cho các chương trình chống nghèo.
Tương đương với hơn $20,000 cho mỗi người nghèo ở Mỹ. Mặt khác, đóng góp từ thiện,
chỉ tầm $360 tỉ. Giải pháp đến từ dopamine cung cấp gần gấp 3 số tiền.
Mặt khác, giá trị của sự giúp đỡ không chỉ nằm ở đồng
tiền. Các cảm xúc đến khi nhận được sự trợ giúp của chính phủ rất khác so các cảm
xúc đến từ nhà thờ hay các tổ chức từ thiện. Các tổ chức từ thiện thì linh hoạt
hơn luật nhiều, vì vậy nó tập trung vào nhu cầu thực sự của từng cá nhân tốt
hơn so với việc tiếp cận một nhóm người chung chung. Những người làm việc cho
các tổ chức từ thiện tư nhân thường có quan hệ mật thiết với những người mà họ
giúp đỡ, thường là những quan hệ trực tiếp. Quan hệ thân thiết này cho phép họ
hiểu về người mà họ giúp, và cá nhân hóa sự giúp đỡ. Bằng cách này, những nguồn
lực vật chất có thể được tăng lên cùng với sự hỗ trợ cảm xúc, như giúp đỡ những
người khỏe mạnh tìm việc làm, hay, nói chung là, cho những người cần giúp đỡ thấy
rằng vẫn có nhiều người khác quan tâm đến họ. Nhiều tổ chức từ thiện nhấn mạnh
rằng trách nhiệm cá nhân và một nhân cách tốt là vũ khí quan trọng để chống lại
đói nghèo. Chiến lược này không phù hợp với tất cả mọi người, nhưng với một số
người, nó hiệu quả hơn là nhận những khoản trợ giúp từ chính phủ.
Và cũng có những lợi ích về mặt cảm xúc cho những nhà
từ thiện nữa. Nghịch lý chủ nghĩa khoái lạc
(hedonistic paradox) cho rằng khi người ta tìm kiếm hạnh phúc, người ta sẽ
không tìm thấy nó, nhưng khi giúp đỡ người khác, thì họ sẽ tìm được hạnh phúc.
Chủ nghĩa nhân đạo gắn với hạnh phúc lớn hơn, với sức khỏe và sự trường thọ. Thậm
chí còn có bằng chứng cho thấy việc giúp đỡ người khác đã làm chậm quá trình
lão hóa ở mức độ tế bào. Các nhà nghiên cứu ở Khoa Đạo đức Sinh học tại Đại học
Case Western Reserve cho rằng lợi ích của chủ nghĩa nhân đạo có thể đến từ “hòa
nhập xã hội sâu hơn và tích cực hơn, phân tán tư tưởng khỏi những vấn đề cá
nhân và căng thẳng từ những mối bận tâm cá nhân, nâng cao ý nghĩa và mục đích sống,
và một lối sống năng động hơn.” Đây là những lợi ích không thể đạt được từ việc
chỉ đóng thuế mà thôi.
Nếu các chính sách có thể chi nhiều tiền hơn cho người
nghèo, thì các hoạt động từ thiện sẽ đem lại nhiều ích lợi khác kèm theo, vậy tại
sao không làm cả hai? Vấn đề là dopamine và chất dẫn truyền thần kinh N&L
thường chống lại nhau, điều này tạo ra tình huống hoặc thế này hoặc thế kia. Những
người ủng hộ việc chính phủ trợ giúp người nghèo (chiến lược dopamine) ít khi
đóng góp từ thiện (chiến lược N&L) và ngược lại.
Khảo sát xã hội chung của Đại học Chicago đã theo dõi
các xu hướng, thái độ và hành vi của xã hội Hoa Kỳ từ năm 1972. Một phần của khảo
sát liên quan đến sự mất cân bằng thu nhập. Kết quả cho thấy những người Mỹ phản
đối mạnh mẽ sự tái phân chia thu nhập của chính phủ đóng góp cho từ thiện nhiều
gấp 10 lần so với những người ủng hộ mạnh mẽ hành động này của chính phủ:
$1,627 so với $140. Tương tự, so với những người muốn chi nhiều hơn cho phúc lợi
xã hội, những người nghĩ rằng chính phủ đang chi quá nhiều cho các phúc lợi xã
hội thường vui vẻ chỉ đường cho người khác, trả lại tiền thừa cho thu ngân, và
quyên tặng tiền bạc và thức ăn cho người vô gia cư nhiều hơn. Hầu hết mọi người
đều muốn giúp đỡ người nghèo. Những tùy thuộc vào việc họ có tính cách kiểu
N&L hay dopamine, họ sẽ làm điều này với nhiều phương thức khác nhau. Những
người tính cách dopamine muốn người nghèo nhận được nhiều giúp đỡ hơn, trong
khi những người tính cách N&L muốn giúp đỡ theo kiểu giúp từng người một.
0 nhận xét:
Đăng nhận xét