MỘT
THẾ GIỚI VƯỢT NGOÀI MỌI GIÁC QUAN
Những thứ liên quan đến vật chất, những vật dụng trong
không gian phụ cận N&L, đều có thể cảm nhận bằng năm giác quan. Khi một vật
dụng di chuyển xa khỏi chúng ta, từ không gian phụ cận đến không gian ngoại vi
dopamine, chúng ta dần mất khả năng trải nghiệm chúng bằng từng giác quan một
theo khoảng cách xa dần đó. Đầu tiên là chúng ta không thể nếm được chúng, tiếp
theo là không thể chạm được. Và khi chúng xa hơn, chúng ta mất khả năng ngửi thấy
chúng, nghe thấy chúng, và cuối cùng là không còn có thể nhìn thấy chúng. Đây
là lúc mà mọi thứ bắt đầu trở nên thú vị. Bằng cách nào mà chúng ta có thể cảm
nhận thứ gì đó ở xa – xa tới mức chúng ta không còn nhìn thấy được chúng nữa? Bằng
trí tưởng tượng.
Các mô hình là diễn giải tưởng tượng của chúng ta về
thế giới, chúng ta xây dựng mô hình để hiểu hơn về thế giới. Trong một số
phương diện, xây dựng các mô hình cũng giống như ức chế tiềm ẩn. Các mô hình chỉ
chứa những yếu tố mà người xây dựng mô hình cho là quan trọng. Các chi tiết
khác bị lược bỏ. Điều này sẽ giúp thế giới trở nên dễ hiểu hơn, và, giúp người
ta tưởng tượng ra nhiều phương thức đa dạng để kiểm soát thế giới nhằm tối đa
hóa lợi ích. Chúng ta không ý thức được việc xây dựng mô hình này. Não bộ xây dựng
các mô hình một cách tự động hóa khi chúng ta sống từng ngày và cập nhật chúng khi
chúng ta học nhiều điều mới.
Các mô hình không chỉ đơn giản hóa khái niệm của chúng
ta về thế giới; chúng còn cho phép chúng ta phổ
quát hóa, đem những trải nghiệm cụ thể để đúc kết các nguyên tắc chung rộng
lớn hơn. Nhờ đó, chúng ta có thể dự đoán và xử lý các tình huống mà chúng ta
chưa từng gặp trước đây. Có thể tôi chưa từng nhìn thấy chiếc Ferrari, nhưng
ngay khi tôi nhìn thấy nó, tôi biết nó dùng để lái. Tôi không cần phải kiểm tra
nó, hay tiến hành nhiều bước khác nhau mới có thể hiểu được điều đó. Dựa trên
kinh nghiệm mà tôi có với những chiếc xe thực tế đã gặp, tôi đã xây dựng một mô
hình về một chiếc xe phổ quát. Nếu có một chiếc xe tôi chưa thấy bao giờ phù hợp
về phần mô tả chung của khái niệm phổ quát này, tôi sẽ nhanh chóng phân loại nó
và biết rằng nó dùng để lái.
Nhận biết một chiếc xe hơi trông có vẻ là một việc khá
tầm thường, nhưng việc mô hình hóa này cũng giúp chúng ta nhận diện những khái
niệm phổ quát mang tầm vũ trụ. Nhìn thấy cách mà mọi thứ chuyển động đã giúp
Newton xây dựng quy luật phổ quát về định luật vạn vật hấp dẫn, thứ không chỉ
giúp dự đoán những trái táo sẽ rơi khỏi cây như thế nào, mà còn dự đoán cả chuyển
động của các hành tinh, các ngôi sao, và cả những dãy ngân hà.
DU
HÀNH THỜI GIAN BẰNG TRÍ ÓC
Các mô hình cũng rất có ích khi chúng ta cần phải lựa
chọn giữa một cơ số các lựa chọn khác nhau. Chúng cho phép chúng ta chạy thử
các kịch bản khác nhau trong trí tưởng tượng của mình để chọn ra thứ tốt nhất.
Ví dụ, nếu tôi cần phải đi từ Washington, DC, đến New York City, tôi có thể đón
tàu lửa hay xe buýt, hay tôi cũng có thể đón máy bay. Để quyết định xem đâu là
thứ nhanh nhất, tiện lợi nhất, hay dễ chịu nhất, tôi trải nghiệm từng lựa chọn
trong trí tưởng tượng của mình, sau đó, dựa trên sự trải nghiệm nội tại này,
tôi tạo ra quyết định ở thế giới thực. Quá trình này gọi là du hành thời gian bằng trí óc. Chúng ta
sử dụng trí tưởng tượng để đưa bản thân vào những tương lai đa dạng khả dĩ, trải
nghiệm chúng bằng trí óc của mình, rồi quyết định xem cách nào có thể giúp
chúng ta đạt được lợi ích lớn nhất, tối đa hóa nguồn lực của chúng ta, bao gồm
chỗ ngồi rộng rãi, vé giá rẻ, hay đi nhanh nhất.
Du hành thời gian bằng trí óc là một công cụ mạnh mẽ của
hệ thống dopamine. Nó cho phép chúng ta trải nghiệm một tương lai như thể chúng
ta thực sự đã trải qua điều đó – mặc dù điều này hoàn toàn chưa xảy ra ở hiện tại.
Du hành thời gian bằng trí óc phụ thuộc vào các mô hình, bởi vì chúng ta tạo ra
các dự đoán về những tình huống tương lai mà chúng ta chưa từng trải nghiệm. Đời
tôi sẽ ra sao nếu như tôi mua cái máy rửa chén này? Nếu người ta lên Sao Hỏa,
thì người ta sẽ gặp phải những khó khăn gì? Điều gì sẽ xảy ra nếu như tôi vượt
đèn đỏ?
Chúng ta liên tục sử dụng phương thức du hành thời
gian bằng trí óc này, vì nó là cơ chế cho mọi quyết định có ý thức trong cuộc đời
của chúng ta. Đối với não bộ, mỗi một quyết định cẩn thận về tương lai đều là kết
quả đến từ hệ thống dopamine và các mô hình mà nó đã tạo ra, dù đó là việc bạn
chọn món gì ở Burger King hay việc tổng thống quyết định liệu có nên gây chiến
tranh. Du hành thời gian bằng trí óc chịu trách nhiệm cho mọi “bước tiếp theo”
trong đời chúng ta.
TẠI
SAO TÔI LẠI TẠO RA MỘT MÔ HÌNH THẤY GỚM NHƯ VẦY, VÀ LIỆU TÔI CÓ SỬA NÓ ĐƯỢC
KHÔNG?
Trước
khi bác sĩ trị liệu gặp người bệnh nhân – một sinh viên đại học 20 tuổi tên
May, cha cô đã gặp vị bác sĩ này trước để chuẩn bị cho cuộc gặp mặt đầu tiên giữa
anh và cô ấy. “Con bé chưa từng gây rắc rối gì cho chúng tôi cả,” ông nói. “Nó
là một cô bé ngoan.” May đã từng là một sinh viên hoản hảo. Cô ấy đã từng là thủ
khoa của lớp và được nhận vào một chương trình danh giá của đại học gần đó. Cô ấy
chưa từng gây ra bất kỳ rắc rối nào: không ma túy, không rượu bia, không đi
chơi khuya. Cô ấy đã luôn luôn lễ phép với bố mẹ là dân di cư của mình, và đã sống
đúng như mọi kỳ vọng mà bố mẹ dành cho cô. Giờ thì cô mới được xuất viện – cô
phải nhập viện phòng hồi sức cấp cứu một tuần sau khi cố tự sát.
Khi
May đến gặp bác sĩ lần đầu tiên, cô đến sớm 30 phút và kiên nhẫn chờ đến lượt
mình ở khu vực tiếp tân. Cô thon thả, và ăn mặc như thể đang đi phỏng vấn xin
việc. Cô nói giọng nhỏ nhẹ. Đôi khi khó nghe thấy cô đang nói gì. Như thể cô
không tin rằng điều mình nói đủ quan trọng để nói lớn tiếng.
May
kể với bác sĩ rằng cô không thể tập trung được, không thể ngủ được, và thỉnh
thoảng cô khóc liên tục hàng tiếng đồng hồ. Cô phải dừng việc học, và ở trong
phòng ngủ kéo rèm kín mít cả ngày. Rõ ràng là cô không thể thích nghi với môi
trường căng thẳng của những khóa học nâng cao mà cô đã đăng ký, nên cô phải xin
nghỉ. Và hơn hết, cô cảm thấy tội lỗi. Cô luôn là đứa con hoàn hảo, giờ thì cô
tin rằng mình là nỗi nhục của gia đình.
Ban
đầu, khi gia đình của May mới đặt chân đến nước Mỹ, cô chỉ là một bé gái, nhưng
cô học nói tiếng Anh rất nhanh, và chịu trách nhiệm chăm sóc cả gia đình. Cô phải
đảm bảo rằng các hóa đơn đã được thanh toán. Cô phải gọi thợ ống nước khi đường
ống bị tắt. Và khi cha mẹ của cô cãi nhau, cô phải là trọng tài. Cô tin rằng hạnh
phúc và thành công của gia đình được đặt lên vai cô. Cô phải là một học sinh
toàn điểm A. Cô phải thon thả và ăn mặc chỉn chu. Cô không được phép phản nghịch
như những đứa trẻ vị thành niên khác. Cô luôn phải làm những điều được bảo và
không bao giờ được phép phản đối.
Bác
sĩ của cô hy vọng cô phản ứng tốt với việc trị liệu. Cô rất hợp tác và thông
minh. Nhưng dù anh làm bất kỳ điều gì, thì cũng chẳng có gì thay đổi. Bệnh trầm
cảm của cô không hề thuyên giảm. Khi kỳ nghỉ của cô kết thúc, May xin rút khỏi
trường.
Mất
một khoảng thời gian khá dài trước khi May thú nhận bí mật của mình. Cô ấy đã lạm
dụng amphetamines. Đó là cách duy nhất giúp cô theo kịp tiến độ học của mình,
duy trì cân nặng mà mẹ cô yêu cầu, và quản lý tất cả mọi thứ liên quan đến
trách nhiệm gia đình mà cô phải gánh vác. Ban đầu, amphetamines khá hiệu quả,
nhưng việc uống amphetamine vốn đã định sẵn sẽ mất hiệu quả theo thời gian. Kèm
theo các vấn đề về cảm xúc nữa. Bỏ qua giai đoạn nổi loạn tuổi dậy thì thông
thường, sự hỗn loạn của những cơn giận và sự thù hằn xáo trộn bên trong cô, và
cô không biết phải làm gì với những cảm xúc đáng sợ này. Cuối cùng, liệu pháp
duy nhất khả thi đối vối cô là chuyển đến một thành phố khác. Cô cần phải cách
xa gia đình mình nhiều dặm trước khi có
thể biết được bản thân cô là ai.
Việc các mô hình mà chúng ta xây dựng phù hợp với thế
giới thực như thế nào là vô cùng quan trọng. Nếu các mô hình này tồi tệ, chúng
ta sẽ tạo ra những dự đoán sai lầm về tương lai và những quyết định tệ hại. Có
nhiều nguyên nhân tạo ra những mô hình tồi về thế giới thực: không có đủ thông
tin, gặp khó khăn trong việc suy nghĩ phổ quát, hay sự ngoan cố của những giả định
sai. Những giả định sai này có tai hại tới mức chúng dẫn đến những căn bệnh tâm
lý như căng thẳng và trầm cảm. Ví dụ, một đứa trẻ lớn lên với bố mẹ hay chỉ
trích, thì đứa bé có thể sẽ tin chắc rằng bản thân mình là một người đầy khuyết
điểm, và suy nghĩ này sẽ định hình các mô hình thế giới mà đứa bé sẽ tạo ra
trong suốt cuộc đời của nó. Các bác sĩ trị liệu thông qua trị liệu tâm lý có thể
thấy được những lỗi này – thông thường là các giả định tiềm thức, và trị liệu
tâm lý ở đây có thể bao gồm phương pháp trị liệu tập trung nội tại – bệnh nhân
và bác sĩ trị liệu sẽ cùng nhau khai phá những ký ức bị đè nén đã khóa chặt các
giả định tiêu cực này. Một kỹ thuật hữu ích là CBT, giải quyết các giả định, và
hướng dẫn bệnh nhân những chiến lược thực tế để thay đổi chúng.
Khi chúng ta có được những trải nghiệm về thế giới,
chúng ta sẽ xây dựng những mô hình tốt hơn, và đây là nền tảng của sự thông
thái. Chúng ta giữ gìn những mô hình có hiệu quả, và lược bỏ những mô hình
không mang lại cho chúng ta thứ mình muốn. Kiến thức đến từ các thế hệ trước có
thể giúp chúng ta cải thiện các mô hình của mình theo cách khác so với những trải
nghiệm trực tiếp. Chúng ta có các kinh nghiệm dân gian, dạy chúng ta rằng “việc
hôm nay chớ để ngày mai” (a stitch in tiem saves nine), cũng như nhữ kiến thức
được thừa hưởng từ những triết gia và những nhà khoa học vĩ đại.
PHÁ
VỠ MÔ HÌNH: BƯỚC LÊN CON ĐƯỜNG SÁNG TẠO
Nếu
bạn chỉ có búa, thì mọi thứ xung quanh đều trông như đinh.
- ngạn ngữ
Các mô hình là những công cụ mạnh mẽ, nhưng chúng cũng
có khuyết điểm. Chúng có thể khóa chặt chúng ta trong một cách suy nghĩ cụ thể,
khiến chúng ta bỏ qua các cơ hội để cải thiện thế giới của mình. Ví dụ như, hầu
hết tất cả mọi người đều biết rằng các máy tính đều cần các lệnh lập trình thì
mới có thể chạy được. Các lập trình viên gọi những lệnh này trên bàn phím. Điều
này dẫn đến một mô hình đơn giản: gõ lệnh
trên bàn phím là phương thức vận hành máy vi tính. Các nhà khoa học ở Xerox
PARC phải tự giải phóng bản thân khỏi mô hình này trước khi họ phát minh ra chuột
máy tính và giao diện đồ họa cho người dùng. Dopamine tạo ra các mô hình, và
cũng chính dopamine phá vỡ chúng. Cả hai quá trình này đều đòi hỏi chúng ta phải
nghĩ về những thứ chưa từ tồn tại, nhưng có thể tồn tại trong tương lai.
Có thể bắt gặp việc phá vỡ mô hình này ở một số loại
câu hỏi, được gọi là vấn đề bên trong (insight problem). Những mô hình thông
thường phải bị phá vỡ để nhìn vấn đề theo cách hoàn toàn mới. Đây là một ví dụ:
Tôi ở trong năm nhưng không phải tháng. Tôi ở trong tuần
nhưng không phải là ngày. Tôi là cái gì?
(I’m in years but not months. I’m in weeks but not days. What am I?)
Đây là một câu đố khó, và trừ phi mà đã từng nghe về
nó hay bạn có mắc chứng ức chế tiềm ẩn thấp, nếu không thì bạn khó có thể biết
được câu trả lời là chữ e. Câu đố này
đã kéo bạn đến mô hình suy nghĩ liên quan đến lịch ngày tháng năm, dẫn dắt khiến
bạn ức chế những thông tin rõ ràng là không liên quan, như những kí tự đã tạo
nên từ years/months/weeks/days.
Đây là một ví dụ khác. Loạt chữ “HIJKLMNO” đại diện cho
từ nào? Một người đàn ông bị phân vân bởi câu đố này đã trải nghiệm hàng loạt
giấc mơ liên quan đến nước. Anh ấy không hiểu được sự liên kết ở đây, nhưng khi
chúng ta nhìn vào câu trả lời thì mọi thứ trở nên rõ ràng: H20*. Chúng ta sẽ
nghiên cứu kỹ hơn về năng lực liên quan đến dopamine của những giấc mơ ở phần
sau của chương này.
T/N: cụm từ
HIJKLMNO là bảng chữ cái tiếng Anh, từ H đến O, tiếng Anh là H to O, đọc tương
tự như H two O, H2O.
Còn đây là một câu đố khác, vài thập niên trước để giải
câu đố này thì cần phải phá vỡ mô hình quan trọng. Còn ngày này thì mọi chuyện
dễ hơn nhiều.
Người cha và con trai gặp tai nạn xe. Người cha chết
ngay lập tức, và đứa con trai được đưa đến bệnh viện gần nhất. Bác sĩ phẫu thuật
đến và la lên rằng, “Tôi không thể phẫu thuật cho đứa bé này. Nó là con trai
tôi!” Điều này sao có thể xảy ra?
T/N: trong trường
hợp mô hình này chưa bị phá vỡ trong trí óc bạn, thì câu trả lời là: đó là mẹ đứa
bé.
KHÁM
PHÁ NGUỒN GỐC CỦA SỰ SÁNG TẠO…
Oshin Vartania, một nhà nghiên cứu ở Đại học York,
Toronto, muốn tìm hiểu xem phần nào của não bộ hoạt động mạnh nhất khi người ta
khám phá ra những phương án giải quyết mới cho các vấn đề, ông đã quét não của
người ta khi họ giải quyết các vấn đề đòi hỏi sự sáng tạo. Ông phát hiện ra rằng
khi họ tìm ra giải pháp cho vấn đề, phần não phải nằm ở phía trước mà nơi được
kích hoạt mạnh nhất. Ông tự hỏi liệu phần não bộ này có phải cũng liên quan tới
việc phá vỡ các mô hình không.
Ở thí nghiệm tiếp theo, ông không yêu cầu những người
tham gia thí nghiệm giải đố nữa, mà chỉ yêu cầu họ tưởng tượng. Ban đầu, ông
yêu cầu họ tưởng tượng những thứ có thật, như “một bông hoa hồng”. Sau đó ông
yêu cầu họ tưởng tượng như thứ không có thận, những thứ không khớp với những mô
hình thông thường trong đời thực, như “một sinh vật giống như máy bay trực
thăng.” Khi quét não người tham gia thí nghiệm, ông phát hiện ra rằng phần não
bộ tương tự như thí nghiệm trước đó cũng phát sáng, nhưng nó chỉ phát sáng khi
những người tham gia nghĩ về những thứ không tồn tại trong đời thực. Khi họ tưởng
tượng về những thứ tồn tại thực, vùng này không phát sáng.
Khi quét não những người mắc chứng tâm thần phân liệt,
người ta cũng phát hiện sự thay đổi ở phần não này – phần vỏ thùy giữa trước
trán bên phải. Có lẽ bởi vì khi chúng ta sáng tạo, chúng ta đang hành xử hơi giống
với một người mắc chứng tâm thần phân liệt. Chúng ta ngừng việc ức chế những
khía cạnh thực tế mà trước đây chúng ta thường cho là không quan trọng, và
chúng ta gắn kết sự nổi bật cho những thứ mà chúng ta đã từng nghĩ là không
đáng chú ý.
…
VÀ DÙNG NÓ GÂY SỐC CHO CUỘC ĐỜI
Việc có thể tìm ra được nguồn gốc thần kinh của trí
sáng tạo tạo ra tiềm năng khổng lồ, bởi vì trí sáng tạo là một trong những nguồn
lực giá trị nhất trên thế giới. Nhiều phương thức gieo trồng mới đã giúp nuôi sống
hàng triệu người. Từ nến đến bóng đèn, những phát minh biến nhiên liệu thành
ánh sáng đã giảm chi phí của nó xuống cả nghìn lần. Liệu rằng sẽ có một cách
nào đó giúp tăng cường kho báu vô giá này không? Liệu người ta có thể trở nên
sáng tạo hơn không nếu một nhà khoa học thúc đẩy phần não bộ hoạt động mạnh
trong quá trình sáng tạo?
Các nhà nghiên cứu được tài trợ bởi Quỹ Khoa Học Quốc
Gia quyết định thử xem sao. Họ dùng một kỹ thuật gọi là kích thích dòng điện một
chiều xuyên sọ (transcranial direct current stimulation – tDCS). Đúng như tên gọi
của nó, các phần não cụ thể được kích thích bằng dòng điện một chiều (DC) – loại
điện mà bạn có thể tìm thấy ở những cục pin, trái ngược với dòng điện xoay chiều
(AC), thứ ở ổ điện. DC an toàn hơn AC và lượng điện sử dụng rất nhỏ. Một số thiết
bị được nạp điện bằng một cục pin 9 vol đơn giản, loại giống như thứ mà bạn đặt
vào máy báo khói ở nhà. Các máy móc dùng trong tDCS có thể rất đơn giản. Dù những
loại máy móc thương mại thường dùng trong nghiên cứu trị giá cả nghìn đô la, những
người dũng cảm có thể tạo ra những loại nguyên thủy hơn với giá tầm $15 từ những
phần mua được ở cửa hàng điện gia dụng địa phương. (Tip tiêu dùng: Đừng có làm
chuyện này!)
Trong những nghiên cứu nhỏ, những thiết bị này đã chứng
minh được việc thúc đẩy học tập, tăng cường sự tập trung, và thậm chí là chữa
trị được chứng trầm cảm. Để thử tăng cường sự sáng tạo, các điện cực được gắn
liền với phần trước trán của 31 tình nguyện viên, và phần não bộ nằm phía sau mắt
sẽ được kích hoạt. Sự sáng tao được đo lường bằng cách kiểm tra khả năng loại
suy của những người tham gia thí nghiệm.
Phép loại suy thể hiện một cách nghĩ về thế giới mang
tính dopamine cao. Ví dụ: ánh sáng đôi khi hành động như những viên đạn đơn lẻ
bắn ra từ một khẩu súng, và những lúc khác, nó giống như gợn sóng lan ra khắp mặt
hồ. Phép loại suy tạo ra tính chất trừu tượng không nhìn thấy được của một khái
niệm, và kết nối chúng với một tính chất tương tự từ một khái niệm rõ ràng
không liên quan đến chúng. Các giác quan trên cơ thể chúng ta cảm nhận được hai
thứ khác nhau, nhưng lý trí hiểu được chúng giống nhau như thế nào. So sánh một
ý tưởng mới mẻ với một ý tưởng cũ quen thuộc sẽ giúp cho ý tưởng mới dễ hiểu
hơn.
Khả năng kết nối giữa hai thứ trước đây hoàn toàn
không liên quan đến nhau là một phần quan trọng của quá trình sáng tạo. So với
những người tham gia thí nghiệm được kích thích tDCS giả, những người thực sự
được kích thích bằng dòng điển đã tạo ra những phép loại suy bất thường hơn –
phép loại suy giữa hai thứ trông hết sức khác nhau. Không những thế, những phép
loại suy có tính sáng tạo cao này cũng chính xác hệt như những phép loại suy rõ
ràng hơn được tạo ra bởi những người tham gia mang thiết bị đã bị bí mật tắt
đi.
Các loại thuốc kích thích dopamine cũng tạo ra hiệu quả
tương tự. Trong khi một số bệnh nhân dùng thuốc kích thích dopamine để trị bệnh
Parkinson đã hình thành những cưỡng chế tai hại, nhiều người khác đã trải nghiệm
được sự tăng cường sáng tạo. Một bệnh nhân đến từ một gia đình có truyền thống
thơ ca, nhưng chưa từng tạo ra bất kỳ tác phẩm sáng tạo nào. Sau khi dùng thuốc
thúc đẩy dopamine để trị bệnh Parkinson, anh ta đã viết ra một bài thơ tháng giải
thường niên của Hiệp Hội Thơ Ca Quốc Tế. Những họa sĩ được dùng thuốc điều trị
Parkinson thường gia tăng việc sử dụng các màu sắc sống động hơn. Một bệnh nhân
đã phát triển một phong cách mới sau khi dùng thuốc điều trị đã nói rằng,
“Phong cách mới này ít chính xác hơn, nhưng sinh động hơn. Tôi có nhu cầu thể
hiện bản thân hơn. Tôi chỉ để bản thân mình tự do thể hiện.” Cũng giống như
Winnie-the-Pooh đã nói: “Đó là cách tốt nhất để viết thơ, cứ để mọi thứ đến.”
NHỮNG
GIẤC MƠ:
NƠI MÀ SỰ SÁNG TẠO VÀ SỰ ĐIÊN RỔ NHẬP NHẰNG VỚI NHAU
Có rất ít người trong số chúng ta là thiên tài hoặc kẻ
điên, nhưng chúng ta đều đã từng trải nghiệm điểm giữa trên con đường kết nối
hai điều này: những giấc mơ. Những giấc mơ giống với những suy nghĩ trừu tượng ở
chỗ chúng cũng lấy nguyên liệu từ thế giới thực, nhưng chúng sắp xếp những
nguyên liệu này theo cách thức không hề bị giới hạn bởi các định luật vật lý
thông thường. Những giấc mơ đôi khi theo chủ đề “bay lên”, với nội dung bao gồm
việc bay lượn hay rơi xuống từ những nơi rất cao. Những giấc mơ cũng thường có
chủ đề “tương lai”, thi thoảng được tạo ra dưới hình thức theo đuổi những mục
tiêu mà người ta khao khát mãnh liệt và khó có được trong thực tế. Tác biệt khỏi
những giác quan thông thường trong thế giới thực, những giấc mơ trừu tượng này
mang tính chất của dopamine.
Freud gọi hoạt động trí óc khi chúng ta nằm mơ là “quá
trình sơ cấp” (primary process), thứ hỗn loạn, phi lý, được tạo ra mà không xét
đến các giới hạn thực tế, và được dẫn dắt bởi các ham muốn nguyên thủy. Quá
trình sơ cấp cũng được dùng để mô tả quá trình suy nghĩ thường thấy ở những người
mắc chứng tâm thần phân liệt. Như triết gia người Đức Arthur Schopenhauer đã viết,
“Những giấc mơ là chứng điên loạn trong thời gian ngắn, và chứng điên loạn là
những giấc mơ diễn ra trong thời gian dài.”
Dopamine được giải phóng khi người ta nằm mơ, thoát khỏi
sự kềm hãm của các chất dẫn truyền thần kinh N&L tập trung vào thực tế. Các
hoạt động trong mạch thần kinh N&L bị đè nén vì các thông tin cảm giác từ
thế giới bên ngoài truyền đến bộ não đã bị khóa lại khi ta đang ngủ. Sự tự do
này cho phép mạch thần kinh dopamine tạo ra các kết nối kỳ lạ - đặc điểm riêng
biệt của những giấc mơ. Sự tầm thường, những thứ vốn không được chú ý, và sự kỳ
quặc, có thể được đưa nâng lên đến mức độ nổi bật, cung cấp cho chúng ta nhiều
ý tưởng mới mà bình thường chúng ta sẽ không thể nào nghĩ ra được.
Sự giống nhau giữa nằm mơ và bệnh tâm thần đã khiến
cho rất nhiều nhà nghiên cứu cảm thấy thú vị, và đã sản sinh ra rất nhiều
nghiên cứu khoa học đa dạng. Một nhóm đến từ Đại học Milan ở Italy đã nghiên cứu
về sự tồn tại của những suy nghĩ kỳ quặc trong các giấc mơ của những người hoàn
toàn khỏe mạnh, so sánh chúng với những ảo tưởng họ có khi họ thức giấc, và với
những ảo tưởng của những người mắc chứng tâm thần phân liệt.
Các nhà khoa học đã thúc đẩy những ảo tưởng khi thức
giấc bằng cách dùng Bài kiểm tra sự tiếp nhận chuyên đề (Thematic Apperception
Test – TAT), một loạt các thẻ hiển thị hình ảnh chung chung, đôi khi là các
hình ảnh thể hiện cảm xúc của con người trong các tình huống khác nhau. Chủ đề
bao gồm thành công và thất bại, cạnh tranh và đố kỵ, giận dữ, và tình dục. Những
người tham gia được yêu cầu nghiên cứu bức tranh, sau đó tạo ra một câu chuyện
để giải thích câu chuyện đằng sau bức tranh đó.
Những nhà nghiên cứu người Italy so sánh những câu
chuyện từ thí nghiệm TAT với những mô tả về các giấc mơ của các bệnh nhân mắc
chứng tâm thần phân liệt và của những người hoàn toàn khỏe mạnh, họ dùng một bảng
đánh giá gọi là Thước đo Mật độ Kỳ cục. Kết quả của những bài kiểm tra đã xác
nhận rằng những giấc mơ khá giống với chứng tâm thần phân liệt. Bảng đo lường Mật
độ Kỳ cục gần như đã giống hệt nhau trong ba phân loại hoạt động trí óc: (1) mô
tả về giấc mơ của những người bị tâm thần phân liệt, (2) những câu chuyện TAT
khi thức giấc của những người mắc chứng tâm thần phân liệt, (3) mô tả về giấc
mơ của những người hoàn toàn khỏe mạnh. Mặt khác, phân loại thứ tư, những câu
chuyện TAT khi thức giấc của những người hoàn toàn khỏe mạnh, đạt điểm thấp hơn
rất nhiều trong bảng đo lường này. Nghiên cứu này đã củng cố khái niệm của Schopenhauer
rằng sống mà mắc chứng tâm thần phân liệt cũng giống như sống trong một giấc mơ
dài.
0 nhận xét:
Đăng nhận xét