Thứ Năm, 11 tháng 8, 2022

The Molecule Of More - chương 4 (2)

 

MỘT THẾ GIỚI VƯỢT NGOÀI MỌI GIÁC QUAN

Những thứ liên quan đến vật chất, những vật dụng trong không gian phụ cận N&L, đều có thể cảm nhận bằng năm giác quan. Khi một vật dụng di chuyển xa khỏi chúng ta, từ không gian phụ cận đến không gian ngoại vi dopamine, chúng ta dần mất khả năng trải nghiệm chúng bằng từng giác quan một theo khoảng cách xa dần đó. Đầu tiên là chúng ta không thể nếm được chúng, tiếp theo là không thể chạm được. Và khi chúng xa hơn, chúng ta mất khả năng ngửi thấy chúng, nghe thấy chúng, và cuối cùng là không còn có thể nhìn thấy chúng. Đây là lúc mà mọi thứ bắt đầu trở nên thú vị. Bằng cách nào mà chúng ta có thể cảm nhận thứ gì đó ở xa – xa tới mức chúng ta không còn nhìn thấy được chúng nữa? Bằng trí tưởng tượng.

Các mô hình là diễn giải tưởng tượng của chúng ta về thế giới, chúng ta xây dựng mô hình để hiểu hơn về thế giới. Trong một số phương diện, xây dựng các mô hình cũng giống như ức chế tiềm ẩn. Các mô hình chỉ chứa những yếu tố mà người xây dựng mô hình cho là quan trọng. Các chi tiết khác bị lược bỏ. Điều này sẽ giúp thế giới trở nên dễ hiểu hơn, và, giúp người ta tưởng tượng ra nhiều phương thức đa dạng để kiểm soát thế giới nhằm tối đa hóa lợi ích. Chúng ta không ý thức được việc xây dựng mô hình này. Não bộ xây dựng các mô hình một cách tự động hóa khi chúng ta sống từng ngày và cập nhật chúng khi chúng ta học nhiều điều mới.

Các mô hình không chỉ đơn giản hóa khái niệm của chúng ta về thế giới; chúng còn cho phép chúng ta phổ quát hóa, đem những trải nghiệm cụ thể để đúc kết các nguyên tắc chung rộng lớn hơn. Nhờ đó, chúng ta có thể dự đoán và xử lý các tình huống mà chúng ta chưa từng gặp trước đây. Có thể tôi chưa từng nhìn thấy chiếc Ferrari, nhưng ngay khi tôi nhìn thấy nó, tôi biết nó dùng để lái. Tôi không cần phải kiểm tra nó, hay tiến hành nhiều bước khác nhau mới có thể hiểu được điều đó. Dựa trên kinh nghiệm mà tôi có với những chiếc xe thực tế đã gặp, tôi đã xây dựng một mô hình về một chiếc xe phổ quát. Nếu có một chiếc xe tôi chưa thấy bao giờ phù hợp về phần mô tả chung của khái niệm phổ quát này, tôi sẽ nhanh chóng phân loại nó và biết rằng nó dùng để lái.

Nhận biết một chiếc xe hơi trông có vẻ là một việc khá tầm thường, nhưng việc mô hình hóa này cũng giúp chúng ta nhận diện những khái niệm phổ quát mang tầm vũ trụ. Nhìn thấy cách mà mọi thứ chuyển động đã giúp Newton xây dựng quy luật phổ quát về định luật vạn vật hấp dẫn, thứ không chỉ giúp dự đoán những trái táo sẽ rơi khỏi cây như thế nào, mà còn dự đoán cả chuyển động của các hành tinh, các ngôi sao, và cả những dãy ngân hà. 

DU HÀNH THỜI GIAN BẰNG TRÍ ÓC

Các mô hình cũng rất có ích khi chúng ta cần phải lựa chọn giữa một cơ số các lựa chọn khác nhau. Chúng cho phép chúng ta chạy thử các kịch bản khác nhau trong trí tưởng tượng của mình để chọn ra thứ tốt nhất. Ví dụ, nếu tôi cần phải đi từ Washington, DC, đến New York City, tôi có thể đón tàu lửa hay xe buýt, hay tôi cũng có thể đón máy bay. Để quyết định xem đâu là thứ nhanh nhất, tiện lợi nhất, hay dễ chịu nhất, tôi trải nghiệm từng lựa chọn trong trí tưởng tượng của mình, sau đó, dựa trên sự trải nghiệm nội tại này, tôi tạo ra quyết định ở thế giới thực. Quá trình này gọi là du hành thời gian bằng trí óc. Chúng ta sử dụng trí tưởng tượng để đưa bản thân vào những tương lai đa dạng khả dĩ, trải nghiệm chúng bằng trí óc của mình, rồi quyết định xem cách nào có thể giúp chúng ta đạt được lợi ích lớn nhất, tối đa hóa nguồn lực của chúng ta, bao gồm chỗ ngồi rộng rãi, vé giá rẻ, hay đi nhanh nhất.

Du hành thời gian bằng trí óc là một công cụ mạnh mẽ của hệ thống dopamine. Nó cho phép chúng ta trải nghiệm một tương lai như thể chúng ta thực sự đã trải qua điều đó – mặc dù điều này hoàn toàn chưa xảy ra ở hiện tại. Du hành thời gian bằng trí óc phụ thuộc vào các mô hình, bởi vì chúng ta tạo ra các dự đoán về những tình huống tương lai mà chúng ta chưa từng trải nghiệm. Đời tôi sẽ ra sao nếu như tôi mua cái máy rửa chén này? Nếu người ta lên Sao Hỏa, thì người ta sẽ gặp phải những khó khăn gì? Điều gì sẽ xảy ra nếu như tôi vượt đèn đỏ?

Chúng ta liên tục sử dụng phương thức du hành thời gian bằng trí óc này, vì nó là cơ chế cho mọi quyết định có ý thức trong cuộc đời của chúng ta. Đối với não bộ, mỗi một quyết định cẩn thận về tương lai đều là kết quả đến từ hệ thống dopamine và các mô hình mà nó đã tạo ra, dù đó là việc bạn chọn món gì ở Burger King hay việc tổng thống quyết định liệu có nên gây chiến tranh. Du hành thời gian bằng trí óc chịu trách nhiệm cho mọi “bước tiếp theo” trong đời chúng ta.

TẠI SAO TÔI LẠI TẠO RA MỘT MÔ HÌNH THẤY GỚM NHƯ VẦY, VÀ LIỆU TÔI CÓ SỬA NÓ ĐƯỢC KHÔNG?

Trước khi bác sĩ trị liệu gặp người bệnh nhân – một sinh viên đại học 20 tuổi tên May, cha cô đã gặp vị bác sĩ này trước để chuẩn bị cho cuộc gặp mặt đầu tiên giữa anh và cô ấy. “Con bé chưa từng gây rắc rối gì cho chúng tôi cả,” ông nói. “Nó là một cô bé ngoan.” May đã từng là một sinh viên hoản hảo. Cô ấy đã từng là thủ khoa của lớp và được nhận vào một chương trình danh giá của đại học gần đó. Cô ấy chưa từng gây ra bất kỳ rắc rối nào: không ma túy, không rượu bia, không đi chơi khuya. Cô ấy đã luôn luôn lễ phép với bố mẹ là dân di cư của mình, và đã sống đúng như mọi kỳ vọng mà bố mẹ dành cho cô. Giờ thì cô mới được xuất viện – cô phải nhập viện phòng hồi sức cấp cứu một tuần sau khi cố tự sát.

Khi May đến gặp bác sĩ lần đầu tiên, cô đến sớm 30 phút và kiên nhẫn chờ đến lượt mình ở khu vực tiếp tân. Cô thon thả, và ăn mặc như thể đang đi phỏng vấn xin việc. Cô nói giọng nhỏ nhẹ. Đôi khi khó nghe thấy cô đang nói gì. Như thể cô không tin rằng điều mình nói đủ quan trọng để nói lớn tiếng.

May kể với bác sĩ rằng cô không thể tập trung được, không thể ngủ được, và thỉnh thoảng cô khóc liên tục hàng tiếng đồng hồ. Cô phải dừng việc học, và ở trong phòng ngủ kéo rèm kín mít cả ngày. Rõ ràng là cô không thể thích nghi với môi trường căng thẳng của những khóa học nâng cao mà cô đã đăng ký, nên cô phải xin nghỉ. Và hơn hết, cô cảm thấy tội lỗi. Cô luôn là đứa con hoàn hảo, giờ thì cô tin rằng mình là nỗi nhục của gia đình.

Ban đầu, khi gia đình của May mới đặt chân đến nước Mỹ, cô chỉ là một bé gái, nhưng cô học nói tiếng Anh rất nhanh, và chịu trách nhiệm chăm sóc cả gia đình. Cô phải đảm bảo rằng các hóa đơn đã được thanh toán. Cô phải gọi thợ ống nước khi đường ống bị tắt. Và khi cha mẹ của cô cãi nhau, cô phải là trọng tài. Cô tin rằng hạnh phúc và thành công của gia đình được đặt lên vai cô. Cô phải là một học sinh toàn điểm A. Cô phải thon thả và ăn mặc chỉn chu. Cô không được phép phản nghịch như những đứa trẻ vị thành niên khác. Cô luôn phải làm những điều được bảo và không bao giờ được phép phản đối.

Bác sĩ của cô hy vọng cô phản ứng tốt với việc trị liệu. Cô rất hợp tác và thông minh. Nhưng dù anh làm bất kỳ điều gì, thì cũng chẳng có gì thay đổi. Bệnh trầm cảm của cô không hề thuyên giảm. Khi kỳ nghỉ của cô kết thúc, May xin rút khỏi trường.

Mất một khoảng thời gian khá dài trước khi May thú nhận bí mật của mình. Cô ấy đã lạm dụng amphetamines. Đó là cách duy nhất giúp cô theo kịp tiến độ học của mình, duy trì cân nặng mà mẹ cô yêu cầu, và quản lý tất cả mọi thứ liên quan đến trách nhiệm gia đình mà cô phải gánh vác. Ban đầu, amphetamines khá hiệu quả, nhưng việc uống amphetamine vốn đã định sẵn sẽ mất hiệu quả theo thời gian. Kèm theo các vấn đề về cảm xúc nữa. Bỏ qua giai đoạn nổi loạn tuổi dậy thì thông thường, sự hỗn loạn của những cơn giận và sự thù hằn xáo trộn bên trong cô, và cô không biết phải làm gì với những cảm xúc đáng sợ này. Cuối cùng, liệu pháp duy nhất khả thi đối vối cô là chuyển đến một thành phố khác. Cô cần phải cách xa gia đình mình nhiều dặm  trước khi có thể biết được bản thân cô là ai.

Việc các mô hình mà chúng ta xây dựng phù hợp với thế giới thực như thế nào là vô cùng quan trọng. Nếu các mô hình này tồi tệ, chúng ta sẽ tạo ra những dự đoán sai lầm về tương lai và những quyết định tệ hại. Có nhiều nguyên nhân tạo ra những mô hình tồi về thế giới thực: không có đủ thông tin, gặp khó khăn trong việc suy nghĩ phổ quát, hay sự ngoan cố của những giả định sai. Những giả định sai này có tai hại tới mức chúng dẫn đến những căn bệnh tâm lý như căng thẳng và trầm cảm. Ví dụ, một đứa trẻ lớn lên với bố mẹ hay chỉ trích, thì đứa bé có thể sẽ tin chắc rằng bản thân mình là một người đầy khuyết điểm, và suy nghĩ này sẽ định hình các mô hình thế giới mà đứa bé sẽ tạo ra trong suốt cuộc đời của nó. Các bác sĩ trị liệu thông qua trị liệu tâm lý có thể thấy được những lỗi này – thông thường là các giả định tiềm thức, và trị liệu tâm lý ở đây có thể bao gồm phương pháp trị liệu tập trung nội tại – bệnh nhân và bác sĩ trị liệu sẽ cùng nhau khai phá những ký ức bị đè nén đã khóa chặt các giả định tiêu cực này. Một kỹ thuật hữu ích là CBT, giải quyết các giả định, và hướng dẫn bệnh nhân những chiến lược thực tế để thay đổi chúng.

Khi chúng ta có được những trải nghiệm về thế giới, chúng ta sẽ xây dựng những mô hình tốt hơn, và đây là nền tảng của sự thông thái. Chúng ta giữ gìn những mô hình có hiệu quả, và lược bỏ những mô hình không mang lại cho chúng ta thứ mình muốn. Kiến thức đến từ các thế hệ trước có thể giúp chúng ta cải thiện các mô hình của mình theo cách khác so với những trải nghiệm trực tiếp. Chúng ta có các kinh nghiệm dân gian, dạy chúng ta rằng “việc hôm nay chớ để ngày mai” (a stitch in tiem saves nine), cũng như nhữ kiến thức được thừa hưởng từ những triết gia và những nhà khoa học vĩ đại.

PHÁ VỠ MÔ HÌNH: BƯỚC LÊN CON ĐƯỜNG SÁNG TẠO

Nếu bạn chỉ có búa, thì mọi thứ xung quanh đều trông như đinh.
- ngạn ngữ

Các mô hình là những công cụ mạnh mẽ, nhưng chúng cũng có khuyết điểm. Chúng có thể khóa chặt chúng ta trong một cách suy nghĩ cụ thể, khiến chúng ta bỏ qua các cơ hội để cải thiện thế giới của mình. Ví dụ như, hầu hết tất cả mọi người đều biết rằng các máy tính đều cần các lệnh lập trình thì mới có thể chạy được. Các lập trình viên gọi những lệnh này trên bàn phím. Điều này dẫn đến một mô hình đơn giản: gõ lệnh trên bàn phím là phương thức vận hành máy vi tính. Các nhà khoa học ở Xerox PARC phải tự giải phóng bản thân khỏi mô hình này trước khi họ phát minh ra chuột máy tính và giao diện đồ họa cho người dùng. Dopamine tạo ra các mô hình, và cũng chính dopamine phá vỡ chúng. Cả hai quá trình này đều đòi hỏi chúng ta phải nghĩ về những thứ chưa từ tồn tại, nhưng có thể tồn tại trong tương lai.

Có thể bắt gặp việc phá vỡ mô hình này ở một số loại câu hỏi, được gọi là vấn đề bên trong (insight problem). Những mô hình thông thường phải bị phá vỡ để nhìn vấn đề theo cách hoàn toàn mới. Đây là một ví dụ:

Tôi ở trong năm nhưng không phải tháng. Tôi ở trong tuần nhưng không phải là ngày. Tôi là cái gì?
(I’m in years but not months. I’m in weeks but not days. What am I?)

Đây là một câu đố khó, và trừ phi mà đã từng nghe về nó hay bạn có mắc chứng ức chế tiềm ẩn thấp, nếu không thì bạn khó có thể biết được câu trả lời là chữ e. Câu đố này đã kéo bạn đến mô hình suy nghĩ liên quan đến lịch ngày tháng năm, dẫn dắt khiến bạn ức chế những thông tin rõ ràng là không liên quan, như những kí tự đã tạo nên từ years/months/weeks/days.

Đây là một ví dụ khác. Loạt chữ “HIJKLMNO” đại diện cho từ nào? Một người đàn ông bị phân vân bởi câu đố này đã trải nghiệm hàng loạt giấc mơ liên quan đến nước. Anh ấy không hiểu được sự liên kết ở đây, nhưng khi chúng ta nhìn vào câu trả lời thì mọi thứ trở nên rõ ràng: H20*. Chúng ta sẽ nghiên cứu kỹ hơn về năng lực liên quan đến dopamine của những giấc mơ ở phần sau của chương này.

T/N: cụm từ HIJKLMNO là bảng chữ cái tiếng Anh, từ H đến O, tiếng Anh là H to O, đọc tương tự như H two O, H2O.

Còn đây là một câu đố khác, vài thập niên trước để giải câu đố này thì cần phải phá vỡ mô hình quan trọng. Còn ngày này thì mọi chuyện dễ hơn nhiều.

Người cha và con trai gặp tai nạn xe. Người cha chết ngay lập tức, và đứa con trai được đưa đến bệnh viện gần nhất. Bác sĩ phẫu thuật đến và la lên rằng, “Tôi không thể phẫu thuật cho đứa bé này. Nó là con trai tôi!” Điều này sao có thể xảy ra?

T/N: trong trường hợp mô hình này chưa bị phá vỡ trong trí óc bạn, thì câu trả lời là: đó là mẹ đứa bé.

KHÁM PHÁ NGUỒN GỐC CỦA SỰ SÁNG TẠO…

Oshin Vartania, một nhà nghiên cứu ở Đại học York, Toronto, muốn tìm hiểu xem phần nào của não bộ hoạt động mạnh nhất khi người ta khám phá ra những phương án giải quyết mới cho các vấn đề, ông đã quét não của người ta khi họ giải quyết các vấn đề đòi hỏi sự sáng tạo. Ông phát hiện ra rằng khi họ tìm ra giải pháp cho vấn đề, phần não phải nằm ở phía trước mà nơi được kích hoạt mạnh nhất. Ông tự hỏi liệu phần não bộ này có phải cũng liên quan tới việc phá vỡ các mô hình không.

Ở thí nghiệm tiếp theo, ông không yêu cầu những người tham gia thí nghiệm giải đố nữa, mà chỉ yêu cầu họ tưởng tượng. Ban đầu, ông yêu cầu họ tưởng tượng những thứ có thật, như “một bông hoa hồng”. Sau đó ông yêu cầu họ tưởng tượng như thứ không có thận, những thứ không khớp với những mô hình thông thường trong đời thực, như “một sinh vật giống như máy bay trực thăng.” Khi quét não người tham gia thí nghiệm, ông phát hiện ra rằng phần não bộ tương tự như thí nghiệm trước đó cũng phát sáng, nhưng nó chỉ phát sáng khi những người tham gia nghĩ về những thứ không tồn tại trong đời thực. Khi họ tưởng tượng về những thứ tồn tại thực, vùng này không phát sáng.

Khi quét não những người mắc chứng tâm thần phân liệt, người ta cũng phát hiện sự thay đổi ở phần não này – phần vỏ thùy giữa trước trán bên phải. Có lẽ bởi vì khi chúng ta sáng tạo, chúng ta đang hành xử hơi giống với một người mắc chứng tâm thần phân liệt. Chúng ta ngừng việc ức chế những khía cạnh thực tế mà trước đây chúng ta thường cho là không quan trọng, và chúng ta gắn kết sự nổi bật cho những thứ mà chúng ta đã từng nghĩ là không đáng chú ý.

… VÀ DÙNG NÓ GÂY SỐC CHO CUỘC ĐỜI

Việc có thể tìm ra được nguồn gốc thần kinh của trí sáng tạo tạo ra tiềm năng khổng lồ, bởi vì trí sáng tạo là một trong những nguồn lực giá trị nhất trên thế giới. Nhiều phương thức gieo trồng mới đã giúp nuôi sống hàng triệu người. Từ nến đến bóng đèn, những phát minh biến nhiên liệu thành ánh sáng đã giảm chi phí của nó xuống cả nghìn lần. Liệu rằng sẽ có một cách nào đó giúp tăng cường kho báu vô giá này không? Liệu người ta có thể trở nên sáng tạo hơn không nếu một nhà khoa học thúc đẩy phần não bộ hoạt động mạnh trong quá trình sáng tạo?

Các nhà nghiên cứu được tài trợ bởi Quỹ Khoa Học Quốc Gia quyết định thử xem sao. Họ dùng một kỹ thuật gọi là kích thích dòng điện một chiều xuyên sọ (transcranial direct current stimulation – tDCS). Đúng như tên gọi của nó, các phần não cụ thể được kích thích bằng dòng điện một chiều (DC) – loại điện mà bạn có thể tìm thấy ở những cục pin, trái ngược với dòng điện xoay chiều (AC), thứ ở ổ điện. DC an toàn hơn AC và lượng điện sử dụng rất nhỏ. Một số thiết bị được nạp điện bằng một cục pin 9 vol đơn giản, loại giống như thứ mà bạn đặt vào máy báo khói ở nhà. Các máy móc dùng trong tDCS có thể rất đơn giản. Dù những loại máy móc thương mại thường dùng trong nghiên cứu trị giá cả nghìn đô la, những người dũng cảm có thể tạo ra những loại nguyên thủy hơn với giá tầm $15 từ những phần mua được ở cửa hàng điện gia dụng địa phương. (Tip tiêu dùng: Đừng có làm chuyện này!)

Trong những nghiên cứu nhỏ, những thiết bị này đã chứng minh được việc thúc đẩy học tập, tăng cường sự tập trung, và thậm chí là chữa trị được chứng trầm cảm. Để thử tăng cường sự sáng tạo, các điện cực được gắn liền với phần trước trán của 31 tình nguyện viên, và phần não bộ nằm phía sau mắt sẽ được kích hoạt. Sự sáng tao được đo lường bằng cách kiểm tra khả năng loại suy của những người tham gia thí nghiệm.

Phép loại suy thể hiện một cách nghĩ về thế giới mang tính dopamine cao. Ví dụ: ánh sáng đôi khi hành động như những viên đạn đơn lẻ bắn ra từ một khẩu súng, và những lúc khác, nó giống như gợn sóng lan ra khắp mặt hồ. Phép loại suy tạo ra tính chất trừu tượng không nhìn thấy được của một khái niệm, và kết nối chúng với một tính chất tương tự từ một khái niệm rõ ràng không liên quan đến chúng. Các giác quan trên cơ thể chúng ta cảm nhận được hai thứ khác nhau, nhưng lý trí hiểu được chúng giống nhau như thế nào. So sánh một ý tưởng mới mẻ với một ý tưởng cũ quen thuộc sẽ giúp cho ý tưởng mới dễ hiểu hơn.

Khả năng kết nối giữa hai thứ trước đây hoàn toàn không liên quan đến nhau là một phần quan trọng của quá trình sáng tạo. So với những người tham gia thí nghiệm được kích thích tDCS giả, những người thực sự được kích thích bằng dòng điển đã tạo ra những phép loại suy bất thường hơn – phép loại suy giữa hai thứ trông hết sức khác nhau. Không những thế, những phép loại suy có tính sáng tạo cao này cũng chính xác hệt như những phép loại suy rõ ràng hơn được tạo ra bởi những người tham gia mang thiết bị đã bị bí mật tắt đi.

Các loại thuốc kích thích dopamine cũng tạo ra hiệu quả tương tự. Trong khi một số bệnh nhân dùng thuốc kích thích dopamine để trị bệnh Parkinson đã hình thành những cưỡng chế tai hại, nhiều người khác đã trải nghiệm được sự tăng cường sáng tạo. Một bệnh nhân đến từ một gia đình có truyền thống thơ ca, nhưng chưa từng tạo ra bất kỳ tác phẩm sáng tạo nào. Sau khi dùng thuốc thúc đẩy dopamine để trị bệnh Parkinson, anh ta đã viết ra một bài thơ tháng giải thường niên của Hiệp Hội Thơ Ca Quốc Tế. Những họa sĩ được dùng thuốc điều trị Parkinson thường gia tăng việc sử dụng các màu sắc sống động hơn. Một bệnh nhân đã phát triển một phong cách mới sau khi dùng thuốc điều trị đã nói rằng, “Phong cách mới này ít chính xác hơn, nhưng sinh động hơn. Tôi có nhu cầu thể hiện bản thân hơn. Tôi chỉ để bản thân mình tự do thể hiện.” Cũng giống như Winnie-the-Pooh đã nói: “Đó là cách tốt nhất để viết thơ, cứ để mọi thứ đến.”

NHỮNG GIẤC MƠ:
NƠI MÀ SỰ SÁNG TẠO VÀ SỰ ĐIÊN RỔ NHẬP NHẰNG VỚI NHAU

Có rất ít người trong số chúng ta là thiên tài hoặc kẻ điên, nhưng chúng ta đều đã từng trải nghiệm điểm giữa trên con đường kết nối hai điều này: những giấc mơ. Những giấc mơ giống với những suy nghĩ trừu tượng ở chỗ chúng cũng lấy nguyên liệu từ thế giới thực, nhưng chúng sắp xếp những nguyên liệu này theo cách thức không hề bị giới hạn bởi các định luật vật lý thông thường. Những giấc mơ đôi khi theo chủ đề “bay lên”, với nội dung bao gồm việc bay lượn hay rơi xuống từ những nơi rất cao. Những giấc mơ cũng thường có chủ đề “tương lai”, thi thoảng được tạo ra dưới hình thức theo đuổi những mục tiêu mà người ta khao khát mãnh liệt và khó có được trong thực tế. Tác biệt khỏi những giác quan thông thường trong thế giới thực, những giấc mơ trừu tượng này mang tính chất của dopamine.

Freud gọi hoạt động trí óc khi chúng ta nằm mơ là “quá trình sơ cấp” (primary process), thứ hỗn loạn, phi lý, được tạo ra mà không xét đến các giới hạn thực tế, và được dẫn dắt bởi các ham muốn nguyên thủy. Quá trình sơ cấp cũng được dùng để mô tả quá trình suy nghĩ thường thấy ở những người mắc chứng tâm thần phân liệt. Như triết gia người Đức Arthur Schopenhauer đã viết, “Những giấc mơ là chứng điên loạn trong thời gian ngắn, và chứng điên loạn là những giấc mơ diễn ra trong thời gian dài.”

Dopamine được giải phóng khi người ta nằm mơ, thoát khỏi sự kềm hãm của các chất dẫn truyền thần kinh N&L tập trung vào thực tế. Các hoạt động trong mạch thần kinh N&L bị đè nén vì các thông tin cảm giác từ thế giới bên ngoài truyền đến bộ não đã bị khóa lại khi ta đang ngủ. Sự tự do này cho phép mạch thần kinh dopamine tạo ra các kết nối kỳ lạ - đặc điểm riêng biệt của những giấc mơ. Sự tầm thường, những thứ vốn không được chú ý, và sự kỳ quặc, có thể được đưa nâng lên đến mức độ nổi bật, cung cấp cho chúng ta nhiều ý tưởng mới mà bình thường chúng ta sẽ không thể nào nghĩ ra được.

Sự giống nhau giữa nằm mơ và bệnh tâm thần đã khiến cho rất nhiều nhà nghiên cứu cảm thấy thú vị, và đã sản sinh ra rất nhiều nghiên cứu khoa học đa dạng. Một nhóm đến từ Đại học Milan ở Italy đã nghiên cứu về sự tồn tại của những suy nghĩ kỳ quặc trong các giấc mơ của những người hoàn toàn khỏe mạnh, so sánh chúng với những ảo tưởng họ có khi họ thức giấc, và với những ảo tưởng của những người mắc chứng tâm thần phân liệt.

Các nhà khoa học đã thúc đẩy những ảo tưởng khi thức giấc bằng cách dùng Bài kiểm tra sự tiếp nhận chuyên đề (Thematic Apperception Test – TAT), một loạt các thẻ hiển thị hình ảnh chung chung, đôi khi là các hình ảnh thể hiện cảm xúc của con người trong các tình huống khác nhau. Chủ đề bao gồm thành công và thất bại, cạnh tranh và đố kỵ, giận dữ, và tình dục. Những người tham gia được yêu cầu nghiên cứu bức tranh, sau đó tạo ra một câu chuyện để giải thích câu chuyện đằng sau bức tranh đó.

Những nhà nghiên cứu người Italy so sánh những câu chuyện từ thí nghiệm TAT với những mô tả về các giấc mơ của các bệnh nhân mắc chứng tâm thần phân liệt và của những người hoàn toàn khỏe mạnh, họ dùng một bảng đánh giá gọi là Thước đo Mật độ Kỳ cục. Kết quả của những bài kiểm tra đã xác nhận rằng những giấc mơ khá giống với chứng tâm thần phân liệt. Bảng đo lường Mật độ Kỳ cục gần như đã giống hệt nhau trong ba phân loại hoạt động trí óc: (1) mô tả về giấc mơ của những người bị tâm thần phân liệt, (2) những câu chuyện TAT khi thức giấc của những người mắc chứng tâm thần phân liệt, (3) mô tả về giấc mơ của những người hoàn toàn khỏe mạnh. Mặt khác, phân loại thứ tư, những câu chuyện TAT khi thức giấc của những người hoàn toàn khỏe mạnh, đạt điểm thấp hơn rất nhiều trong bảng đo lường này. Nghiên cứu này đã củng cố khái niệm của Schopenhauer rằng sống mà mắc chứng tâm thần phân liệt cũng giống như sống trong một giấc mơ dài.

>>> (3)

0 nhận xét:

Đăng nhận xét