Thứ Năm, 11 tháng 8, 2022

The Molecule Of More - chương 4 (3)

 

LÀM THẾ NÀO ĐỂ GẶT HÁI SỰ SÁNG TẠO TỪ MỘT GIẤC MƠ

Nếu nằm mơ cũng giống như bị tâm thần phân liệt, thì chúng ta quay trở lại con người bình thường của mình bằng cách nào? Điều này có xảy ra ngay lập tức không, hay là nó cần phải có thời gian để bổ sung lại những suy nghĩ lô gic bình thường? Nếu việc này cần có thời gian, thì liệu trong quá trình chuyển tiếp này, chúng ta có hơi điên một chút? Đây là một dẫn chứng đáng xem xét: đôi khi chúng ta nằm mơ khi đang ngủ, đôi khi lại không. Khi chúng ta chuyển tiếp từ trạng thái ngủ đến trạng thái thức giấc, thì việc thức giấc khi đang mơ và thức giấc khi không mơ có khiến quá trình suy nghĩ trong đầu chúng ta khác nhau hay không?

Các nhà nghiên cứu tại Đại học New York đã dùng phương pháp TAT để đánh giá các loại câu chuyện mà người ta tạo ra sau khi họ thức dậy từ một giấc mơ, và so sánh chúng với những câu chuyện TAT họ tạo ra khi thức dậy từ một giấc ngủ không mộng mị. Họ đã phát hiện ra rằng những ảo tưởng được tạo ra ngay sau giấc mơ thường phức tạp hơn rất nhiều. Chúng dài hơn, và chứa đựng nhiều ý tưởng hơn. Những hình ảnh sống động hơn, và nội dung thì kỳ quái hơn. Đây là một ví dụ của câu chuyện được chia sẻ từ một tình nguyện viên hoàn toàn khỏe mạnh sau khi thức dậy từ trạng thái nằm mơ. Người tình nguyện viên được cho xem một bức hình của một cậu bé đang nhìn chiếc đàn violin:

Cậu bé đang nghĩ về cây đàn violin của cậu. Cậu có biểu cảm buồn bã. Chờ đã! Cậu đang chảy máu miệng! Và đôi mắt của cậu… có vẻ như cậu bé bị mù!

Một tình nguyện viên khác thức dậy từ một giấc mơ được cho xem bức hình một người chàng trai đang nằm dài trên sàn, gối đầu lên một cái ghế. Có một cây súng trên sàn kế bên anh ta. Đây là phản ứng của tình nguyện viên:

Có một cậu bé trong giường. Cậu có vấn đề về cảm xúc. Cậu gần như là đang khóc, hoặc có thể cậu đang cười, hay có thể đang chơi trò chơi. Cũng có thể có một cô bé khác. Chúng đều chết rồi. Hay có lẽ là một con mèo? Có gì đó trên sàn… chùm chìa khóa, một bông hoa, hay là một món đồ chơi, một chiếc thuyền.

Sau khi thức dậy từ một giấc ngủ không mộng mị, người tình nguyện viên này được cho xem một thẻ hình khác, và viết ra một mô tả ít kỳ quái hơn trước rất nhiều, đơn giản là “một cậu bé mặc áo thun, không mang vớ. Tôi không thấy được nhiều thứ khác.”

Nhiều người đã trải qua việc thức dậy từ những giấc mơ, và cảm thấy như thể họ bị kẹt giữa hai thế giới. Các suy nghĩ trở nên lỏng lẻo hơn, nhảy từ chủ đề này đến chủ đề khác, không bị hạn chế bởi các quy tắc lô gic thông thường. Thực tế, một số người đã nói rằng họ có được những suy nghĩ sáng tạo nhất chính là trong khoảng thời gian giữa hai thế giới này. Bộ lọc N&L hướng sự chú ý của chúng ta vào thế giới bên ngoài chưa được sắp xếp lại, các mạch thần kinh dopamine tiếp tục phun ra không kềm chế, và các ý tưởng trôi nổi một cách tự do.

Friedrich August Kekulé nổi tiếng với khám phá cấu trúc phân tử benzen, một trong những hóa chất công nghiệp quan trọng vào thời đó. Các nhà hóa học đã xây dựng mô hình phân tử bao gồm sáu nguyên tử carbon và sáu nguyên tử hydrogen, điều này gây ngạc nhiên. Thông thường các phân tử dạng này sẽ phải có nhiều nguyên tử hydrogen hơn là nguyên tử carbon. Rõ ràng là dù phân tử này có cấu trúc thế nào, thì nó cũng không phải dạng bình thường.

Các nhà hóa học đã cố gắng sắp xếp các nguyên tử carbon và hydrogen bằng đủ cách để không vi phạm nguyên tắc kết hợp hóa học. Họ biết rằng các nguyên tử carbon phải nối với nhau như các hạt trên cùng một chuỗi, và cũng có nhiều nhánh với các góc độ đúng, những chẳng có mô hình nào phù hợp với tính chất của phân tử benzene. Hình dáng thật của phân tử này là một bí ẩn. Kekulé đã mô tả khoảnh khắc mà ông phát hiện ra hình dáng như sau:

“Tôi ngồi ở đó và viết cuốn [giáo khoa hóa học] của tôi, nhưng không viết được mấy, trí óc tôi lơ lửng ở chỗ khác. Tôi xoay ghế về phía lò sưởi và nửa tỉnh nửa mơ. Các nguyên tử một lần nữa lại đùa giỡn trước mắt tôi. Lần này chúng nhóm thành các nhóm nhỏ khiêm tốn ở sau nền. Đôi mắt của trí óc tôi, được rèn luyện bởi các hình ảnh tương tự, giờ đã phân biệt các dạng lớn hơn của các hình dáng đa dạng. Những hàng dài, theo nhiều cách mà mật độ dày hơn, mọi thứ đều chuyển động, vặn xoắn như những con rắn. Và, nhìn kìa, cái gì kia? Một con rắn tự cắn cái đuôi của mình, và hình dáng này quay cuồng trước mắt tôi. Như bị sét đánh, tôi tỉnh dậy.”

Hình ảnh con rắng ngậm cái đuôi của nó trong miệng, biểu tượng rắn ăn đuôi (ouroboros) cổ xưa, đã đưa đến suy nghĩ rằng sáu nguyên tử carbon của phân tử benzene đã nối với nhau thành một vòng tròn. Cũng giống như con rắn với cái đuôi trong miệng nó – hoàn thành chính nó và bởi nó – những giấc mơ là sự diễn giải bên trong của những ý tưởng bên trong. Thoát khỏi các giác quan, những giấc mơ cho phép dopamine chạy tự do, không bị kềm hãm bởi những sự thật cứng nhắc từ thế giới thực bên ngoài.

Tiến sĩ Deidre Barrett, một nhà tâm lý học và nhà nghiên cứu giấc mơ ở Học viện Y học Havard, đã nói rằng việc Kekulé tìm ra đáp án cho vấn đề của mình dựa trên một hình ảnh là không đáng ngạc nhiên chút nào. Phần lớn não bộ của chúng ta cũng linh động khi đang mơ nhiều như khi đang tỉnh, nhưng có một sự khác biệt quan trọng. Không hề bất ngờ khi phần não bộ vốn dùng để lọc những chi tiết có vẻ không quan trọng – phần thùy trước – bị tắt đi. Và hoạt động của vùng được gọi là vỏ não thị giác thứ cấp (secondary visual cortex) được tăng lên. Phần não này không nhận được tín hiệu trực tiếp từ mắt, nên khi chúng ta mơ thì nó không nhận được bất kỳ thông tin gì. Thay vào đó, nó chịu trách nhiệm xử lý các kích thích thị giác. Nó giúp não bộ lý giải những thứ mà đôi mắt nhìn thấy.

Những giấc mơ có tính thị giác cao. Trong cuốn sách Ủy ban Giấc ngủ: các Nghệ thuật gia, Nhà khoa học, và Vận động viên sử dụng Giấc Mơ để giải quyết vấn đề một cách sáng tạo như thế nào – và bạn cũng có thể làm điều đó như thế nào? (The Committee of Sleep: How Artists, Scientists, and Athletes Use Dreams for Creative Problem Solving—and How You Can Too), Tiến sĩ Barrett đã giải thích rằng cũng như khi Kekulé khám phá ra cấu trúc của benzene trong trạng thái giống như đang mơ, những người bình thường cũng có thể sử dụng các giấc mơ để giải quyết các vấn đề thực tế. Tiến sĩ Barrett đã kiểm tra năng lực giải quyết vấn đề của các giấc mơ bằng cách thí nghiệm trên một nhóm các sinh viên chưa tốt nghiệp ở Havard.

Cô ấy yêu cầu họ chọn một vấn đề quan trọng đối với bản thân. Vấn đề này có thể là vấn đề cá nhân, vấn đề học thuật, hay những vấn đề chung chung. Sau đó, cô ấy hướng dẫn họ kỹ thuật để nuôi ấp các giấc mơ. Có nhiều cách mà người ta có thể dùng để tăng khả năng có được một giấc mơ giúp giải quyết các vấn đề. Những sinh viên này sẽ viết ra những giấc mơ của họ mỗi đêm trong vòng một tuần hoặc cho đến khi họ tin rằng họ đã giải quyết được vấn đề của họ. Những vấn đề và những giấc mơ sẽ được nộp về một ban giám khảo để quyết định xem liệu những giấc mơ có thực sự tạo ra giải pháp không.

Kết quả vô cùng đáng kinh ngạc. Phân nửa số sinh viên có một giấc mơ liên quan đến vấn đề của họ, và 70% những người mơ về vấn đề mình gặp phải tin rằng giấc mơ của họ đã tạo ra giải pháp. Những người giám khảo cũng đồng ý với điều này. Trong số các sinh viên mơ về vấn đề của mình, các giám khảo tin rằng có hơn phân nửa đã có được giải pháp từ giấc mơ của họ.

Một sinh viên trong nghiên cứu này đã cố gắng để quyết định xem sau khi tốt nghiệp thì sẽ theo đuổi ngành nghề nào. Cậu ấy đã nộp đơn vào hai khóa học tâm lý học trị liệu, cả hai đều nằm ở quê nhà Massachusetts của cậu. Cậu cũng nộp đơn vào hai chương trình tâm lý công nghiệp* khác, một ở Texas và một ở California. Một đêm nọ cậu mơ rằng mình đang trên máy bay, bay qua bản đồ nước Mỹ. Máy bay gặp sự cố máy móc, và phi công thông báo rằng họ phải tìm một nơi an toàn để đáp xuống. Họ đang ở ngay trên Massachusetts, và người sinh viên đề nghị nên đáp ở đây, nhưng người phi công trả lời rằng ở đây quá nguy hiểm để đáp xuông. Khi cậu tỉnh giấc, cậu nhận ra rằng sau khi đã sống cả đời ở Massachusetts, đã đến lúc cậu phải đi tiếp. Đối với cậu, nơi để theo học sau tốt nghiệp quan trọng hơn lĩnh vực học. Mạch thần kinh dopamine của cậu đã cung cấp một góc nhìn mới cho vấn đề.

T/N *: ngành học nghiên cứu về tâm lý nơi công sở

MƠ VỀ NHỮNG CÂU CHUYỆN VÀ NHỮNG BÀI CA

Mơ là một nguồn cung cấp thường xuyên của sáng tạo trong nghệ thuật. Paul McCartney nói rằng anh đã từng nghe giai điệu của bài “Yesterday” trong một giấc mơ. Keith Richards nói anh sáng tác ra lời và điệp khúc trong bài “Satisfaction” từ một giấc mơ. “Tôi mơ thấy các màu sắc, tôi mơ thấy các hình dạng, và tôi mơ thấy các âm thanh,” Billy Joel đã nói như vậy về bài hát “River of Dreams” trong cuộc phỏng với với Hartford Courant. “Tôi thức giấc và hát bài đó một lần, sau đó thì nó không biến mất.” Micheal Stipe của nhóm REM viết lời cho bài hit của nhóm, “Đó là bài “the End of the World as We Know It (And I Feel Fine)”, theo cách tương tự. “Tôi đã mơ về một bữa tiệc,” anh kể với tạp chí Interview, “Mọi người trong bữa tiệc này đều có cái tên bắt đầu với chữ L. B trừ tôi. Họ là Lester Bangs, Lenny Bruce, Leonard Bernstein. Đó là cách mà tôi sáng tác ra một đoạn trong bài hát.” Nhà văn Robert Louis Stevenson nói rằng chính các giấc mơ là nguồn gốc của The Strange Case of Dr. Jekyll and Mr.Hyde, và Stephen King nói rằng tiểu thuyết Misery của ông cũng đến từ một giấc mơ.

 

NUÔI ẤP CÁC GIẤC MƠ:
LÀM SAO CÓ THỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TRONG LÚC NGỦ

Hãy chọn một vấn đề quan trọng với bạn, một vấn đề mà bạn khao khát muốn được giải quyết. Càng khao khát, thì vấn đề càng có khả năng sẽ xuất hiện trong giấc mơ của bạn. Hãy nghĩ về vấn đề này trước khi bạn đi ngủ. Nếu có thể, hãy tưởng tượng về nó dưới dạng các hình ảnh thị giác. Nếu vấn đề này liên quan đến ai đó, hãy tưởng tượng về người đó. Nếu bạn đang tìm cảm hứng, hãy tưởng tượng một trang giấc trắng. Nếu bạn đang vướng vào một dự án nào đó, hãy tưởng tượng một vật thể đại diện cho dự án đó. Hãy giữ hình ảnh này trong đầu, để nó trở thành thứ cuối cùng trong đầu bạn trước khi bạn ngủ.

Hãy chắc rằng bạn để giấy bút ở gần giường. Ngay khi bạn thức giấc, hãy viết lại nó, dù nó có liên quan đến vấn đề của bạn hay không. Những giấc mơ có thể rất đánh đố, và câu trả lời cũng có thể bị ngụy trang. Quan trọng là bạn viết ra giấc mơ của mình ngay tức thì vì trí nhớ sẽ bốc hơi trong vài giây nếu bạn bắt đầu nghĩ về thứ khác. Nhiều người đã từng trải nghiệm cảm giác thức dậy từ một giấc mơ mạnh mẽ, một giấc mơ tràn ngập ý nghĩa đối với họ, nhưng một phút sau đó lại không thể nhớ về bất kỳ chi tiết nào của giấc mơ này.

Có thể bạn sẽ mất vài đêm trước khi tìm ra thứ mình muốn, và giải pháp mà bạn có từ giấc mơ có thể không phải giải pháp tốt nhất. Nhưng nó có thể là một giải pháp mới mẻ, một cách tiếp cận vấn đề theo hướng hoàn toàn mới.

TẠI SAO NHỮNG NGƯỜI THẮNG GIẢI NOBEL THÍCH VẼ

Nghệ thuật và khoa học có nhiều điểm chung hơn người ta nghĩ, vì cả hai đều được dẫn dắt bởi dopamine. Một nhà thơ viết nên những dòng thơ về một người tình tuyệt vọng không khác mấy so với một nhà vật lý nguệch ngoạc các công thức về những điện cực bị kích thích. Họ đều cần khả năng kéo tầm nhìn ra khỏi thế giới của các giác quan để nhìn vào một thế giới các ý tưởng trừu tượng vĩ đại hơn. Các nhà khoa học trong xã hội thượng lưu thường có một tâm hồn ngập tràn nghệ thuật. Các thành viên của Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ có sở thích liên quan đến nghệ thuật nhiều gấp rưỡi người thường chúng ta. Các thành viên của Hiệp hội Hoàng Gia Anh thì gấp đôi, và những người thắng giải Nobel thì gần như gấp ba. Bạn càng giỏi trong việc kiểm soát các ý tưởng trừu tượng phức tạp thì bạn càng có xu hướng trở thành nghệ thuật gia.

Điểm giống nhau giữa nghệ thuật và khoa học trở nên đặc biệt quan trọng khi một cơn suy thoái lập trình máy tính xuất hiện ở cú ngoặt thế kỷ. Các lập trình viên máy tính có thói quen viết tắt các năm bằng 2 con số cuối (ví dụ, 99 cho năm 1999) để tiết kiệm bộ nhớ đắt tiền (và ít phải gõ phím hơn). Các lập trình viên đã không nghĩ tới thiên niên kỷ tiếp theo, khi 99 có thể là 2099. Hàng nghìn chương trình máy tính gặp phải nguy cơ bị sập, không chỉ các trang web hay phần mềm đánh chữ, mà còn các phần mềm kiểm soát hàng không, các đập nước, và các nhà máy điện hạt nhân. Vấn đề Y2K, như đã biết, đã ảnh hưởng đến quá nhiều hệ thống đến nỗi không có đủ lập trình viên máy tính để sửa hết chúng. Dựa trên một số báo cáo, một số công ty đã phải thuê những nhạc sĩ ngoài-giờ vì họ có thể dễ dàng học được cách lập trình.

TẠI SAO CÁC THIÊN TÀI LÀ BỌN KHỐN

Âm nhạc và toán học đi cùng nhau bởi vì mức độ tăng cao của dopamine thường đi theo gói: nếu bạn có mức độ dopamine cao ở một lĩnh vực, thì bạn thường cũng có mức dopamine cao ở những lĩnh vực khác. Các nhà khoa học là các nghệ thuật gia, các nhạc sĩ là các nhà toán học. Nhưng vẫn có mặt trái. Đôi khi, sở hữu quá nhiều dopamine là một gánh nặng.

Mức độ dopamine cao khiến các chức năng N&L bị đè ép, vì thế những người xuất sắc thường dở tệ trong các mối quan hệ giữa người và người. Chúng ta cần có N&L thấu cảm để hiểu được người khác đang nghĩ gì – đây là một kỹ năng cần thiết để giao tiếp xã hội. Nhà khoa học mà bạn gặp ở bữa tiệc cocktail không thể ngậm miệng ngừng nói về nghiên cứu của anh ta vì anh ta không biết bạn đang chán ngán. Tương tự, Albert Einstein đã từng nói rằng, “Ý thức mãnh liệt về công bằng xã hội và trách nhiệm xã hội của tôi luôn luôn đối nghịch một cách kỳ cục với nhu cầu ít ỏi của tôi trong việc liên hệ trực tiếp với những con người khác.” Và “Tôi yêu nhân loại, nhưng tôi ghét con người.” Những khái niệm trừu tượng về công bằng xã hội và nhân loại thì rất dễ dàng, nhưng những trải nghiệm thực tế khi đối diện với người khác thì thật khó khăn.

Đời tư của Einstein đã phản ánh khó khăn trong các mối quan hệ của ông. Ông thích khoa học hơn con người rất nhiều. Hai năm trước khi chia tay vợ, ông ngoại tình với em họ của mình, sau đó cưới luôn bà ấy. Một lần nữa, ông lại không chung thủy, lừa gạt em họ mình để ngoại tình với thư ký của ông và gần nửa tá bạn gái khác. Bộ não đầy dopamine của ông vừa là một phép lành vừa là một lời nguyền – dopamine cường độ cao trong não ông là thứ đã giúp ông khám phá ra lực hấp dẫn, cũng chính nó đã dẫn dắt ông đi từ mối quan hệ này đến mối quan hệ khác, không bao giờ cho phép ông chuyển sang chế độ N&L – loại tình yêu đồng hành lâu dài và tập trung.

Hiểu được cách thức các bộ não thiên tài hoạt động đã cung cấp cho chúng ta một cái nhìn sâu hơn vào các tính cách mang tính dopamine cao, và những cách thức khác nhau mà nó có thể tự mô tả chính nó. Chúng ta đã nhìn thấy những người tìm kiếm khoái cảm một cách không kềm chế được, họ gặp khó khăn trong việc duy trì mối quan hệ dài lâu và vô cùng nhạy cảm với việc nghiện ngập. Chúng ta cũng nhìn thấy những nhà chiến lược cô độc thà làm việc thêm giờ còn hơn là đi chơi với bạn bè. Giờ thì chúng ta nhìn thấy khả năng thứ ba: những thiên tài sáng tạo – dù là họa sĩ, nhà thơ hay nhà vật lý học – những người gặp rất nhiều rắc rối với các mối quan hệ giữa người và người đến mức có thể hơi bị tự kỷ. Thêm vào đó, những thiên tài dopamine cũng quá tập trung vào thế giới ý tưởng nội tại đến mức anh ta có thể mang hai chiếc vớ khác nhau, quên chải đầu, và thường xuyên lỡ đễnh với bất kỳ việc gì thuộc về thế giới ngay và luôn thực tế trước mắt. Plato đã từng kể một câu chuyện về Socrates – triết gia Hy Lạp cổ đại, rằng có lần ông đã đứng sững ở một chỗ cả ngày lẫn đêm, để nghĩ về một vấn đề, hoàn toàn không quan tâm đến những gì xảy ra xung quanh.

Ba loại tính cách này bên ngoài có vẻ rất khác nhau, nhưng chúng đều có một điểm chung. Chúng quá tập trung vào việc tối đa hóa nguồn lực tương lai và đánh đổi bằng việc tận hưởng hiện tại. Những người tìm kiếm khoái cảm luôn muốn nhiều hơn. Dù anh ta có được bao nhiêu thì đối với anh ta chúng không bao giờ là đủ. Dù anh ta có mong đợi bao nhiêu vào những khoái cảm đầy hứa hẹn sắp tới, anh ta không bao giờ có thể cảm thấy thỏa mãn với chúng. Ngay khi khoái cảm này vừa xuất hiện, thì anh ta đã lập tức tìm cái tiếp theo. Những nhà chiến lược cô độc cũng mất cân bằng giữa hiện tại/tương lai. Cũng giống như người đi tìm khoái cảm, anh ta có một nhu cầu vĩnh cửu để tìm kiếm nhiều hơn, nhưng anh ta nhìn ở góc độ xa hơn, đuổi theo nhiều đam mê dưới dạng trừu tượng hơn như danh dự, sự giàu có, và quyền lực. Các thiên tài sống trong thế giới của những điều bí ẩn, chưa được khám phá, họ bị ám ảnh với việc tạo ra một thế giới tốt đẹp hơn bằng công việc của mình. Các thiên tài thay đổi thế giới – những sự ám ảnh này của họ thường thể hiện dưới dạng thờ ơ với người khác.

NHỮNG KẺ GHÉT CON NGƯỜI NHƯNG LẠI ĐẦY LÒNG NHÂN TỪ

Những người vô cùng thông minh, vô cùng thành công, vô cùng sáng tạo – nói chung là vô cùng nhiều dopamine – thường thể hiện một loại cảm xúc rất kỳ cục: họ yêu thích loài người nhưng lại ít khi kiên nhẫn với các cá nhân nói riêng.

Tôi càng yêu nhân loại nói chung, thì tôi càng ít yêu con người nói riêng. Trong các giấc mơ của tôi, tôi thường lên kế hoạch cho các dịch vụ nhân đạo… Nhưng tôi không thể ở cùng phòng với ai đó trong hai ngày… Tôi sẽ trở nên hung dữ với người ta ngay khi người ta đến gần tôi.

- Fyodor Dostoyevsky

Tôi là một kẻ ghét con người nhưng luôn nhân từ, hơi tâm thần như siêu lý tưởng, và tiêu hóa triết học tốt hơn là tiêu hóa đồ ăn.

- Alfred Nobel

Tôi yêu nhân loại như ghét con người.

—Edna St. Vincent Millay

Tôi yêu nhân loại… tôi không chịu nổi con người.

—Charles Schulz (viết về Linus trong Peanuts)

Nghe thì có vẻ khó hiểu, nhưng hoàn toàn có thể giải thích được. Những người có mức độ dopamine cao thường thích những suy nghĩ trừu tượng hơn là những trải nghiệm cảm giác. Đối với họ, sự khác biệt giữa yêu thương nhân loại và yêu thương người hàng xóm của mình là sự khác biệt giữa ý nghĩ về một con chó con, và việc thực sự phải chăm sóc chúng.

CÁC HẬU QUẢ BI KỊCH

Có thể nói một cách tương đối chắc chắn rằng các tính cách dopamine của Einstein được hình thành bởi gene. Một trong hai con trai của ông đã trở thành chuyên gia kỹ thuật thủy lực đẳng cấp quốc tế. Người còn lại bị chẩn đoán với chứng tâm thần phân liệt ở độ tuổi hai mươi, và sau đó mất ở trại tâm thần. Có rất nhiều nghiên cứu đã tìm thấy mã gene quyết định tính cách dopamine. Một nghiên cứu ở Iceland đã đánh giá các hồ sơ di truyền của hơn 86,000 người, và phát hiện ra rằng những người mang những người mang loại gene khiến họ dễ gặp nguy cơ bị tâm thần phân liệt hoặc bị rối loạn lưỡng cực thường thuộc về tầng lớp diễn viên, vũ công, nhạc sĩ, nghệ sĩ thị giác hay nhà văn.

Isaac Newton, người đã tạo ra toán giải tích và định luật vạn vật hấp dẫn, là một trong những thiên tài rắc rối này. Ông gặp khó khăn khi phải phối hợp với người khác, và ông cũng đã dính vào một vụ cãi vã khoa học khét tiếng với nhà toán học kiêm triết gia người Đức Gottfried Leibniz. Ông bí ẩn, hơi tâm thần phân liệt và có rất ít cảm xúc, đến mức gần như là tàn nhẫn. Khi ông đảm nhiệm cương vị Chủ xưởng đúc tiền Hoàng Gia, ông đã treo cổ hàng loạt những người làm hàng giả bất chấp sự phản đối của các đồng nghiệp.

Newton bị ám bởi sự điên rồ. Ông bỏ ra hàng giờ để tìm các thông điệp bí ẩn trong Kinh Thánh, và viết hàng triệu từ về tôn giáo và những điều huyền bí. Ông theo đuổi thuật giả kim trung cổ, nghiên cứu một cách ám ảnh về hòn đá phù thủy – một loại nguyên liệu mà các nhà giả kim tin rằng có các tính chất ma thuật có thể giúp con người trường sinh bất tử. Vào tuổi 50, Newton bắt đầu trở nên hoàn toàn điên loạn và phải sống một năm trong trại tâm thần.

Với những bằng chứng này, Newton hẳn đã có mức độ dopamine cao để tạo ra sự xuất chúng của ông, các vấn đề xã hội của ông, và sự sụp đổ tâm thần của ông. Và không có mỗi ông gặp vấn đề như vậy. Rất nhiều nghệ thuật gia, nhà khoa học, và các lãnh đạo doanh nghiệp xuất sắc cũng bị cho là hoặc được biết là đã gặp phải các căn bệnh tâm thần. Bao gồm: Ludwig van Beethoven, Edward Much (tác giả của bức The Scream), Vincent van Gogh, Charles Darwin, Georgia O’Keeffe, Sylvia Plath, Nikola Tesla, Vaslax Nijinsky (vũ công nam vĩ đại nhất vào đầu thế kỷ 20, người đã từng sáng tác ra điệu múa ba-lê tạo ra trào lưu), Anne Sexton, Virginia Woolf, kỳ thủ cờ vua Bobby Fischer, và nhiều người khác nữa.

Dopamine cho chúng ta năng lực sáng tạo. Nó cho phép chúng ta tưởng tượng những thứ không có thật và liên hệ những thứ trông có vẻ không liên quan đến nhau. Nó cho phép chúng ta xây dựng các mô hình trí óc về một thế giới vượt qua khỏi những mô tả vật lý thông thường, cho phép chúng ta vượt khỏi những ấn tượng cảm xúc thông thường để khám phá ra ý nghĩa sâu hơn của những gì chúng ta trải nghiệm. Sau đó, như một đứa trẻ xô ngã cái tháp được tạo bằng những khối hình xếp, dopamine phá vỡ mô hình của chính nó để chúng ta có thể bắt đầu lại từ đầu và tìm kiếm những ý nghĩa mới từ những thứ quen thuộc.

Nhưng loại năng lực này đi kèm với cái giá phải trả. Hệ thống dopamine quá mức năng động ở những thiên tài sáng tạo khiến họ gặp nguy cơ về các căn bệnh tâm lý. Đôi khi thế giới của những thứ không thật phá vỡ rào cản tự nhiên của chính nó, tạo ra chứng tâm thần phân liệt, các ảo giác, và cơn sốt hưng phấn từ các hành vi hưng cảm. Thêm vào đó, hoạt động dopamine được nâng quá cao có thể lấn át hệ thống N&L, cản trở khả năng hình thành các mối quan hệ giữa người và người, và điều hướng các hoạt động thường ngày trong thế giới thực.

Đối với một số người, điều này chẳng là gì cả. Niềm vui đến tự sự sáng tạo là niềm vui mãnh liệt nhất mà họ biết, dù họ là nghệ thuật gia, nhà khoa học, nhà tiên tri hay các doanh nhân. Dù họ đang khao khát điều gì – họ cũng không bao giờ ngừng làm việc. Thứ mà họ quan tâm nhất là đam mê của chính họ trong việc sáng tạo, khám phá và giác ngộ. Họ không bao giờ thư giãn, không bao giờ dừng lại để tận hưởng những thứ tốt đẹp mà họ đã có. Thay vào đó, họ bị ám ảnh với việc xây dựng một tương lai không bao giờ tới. Bởi vì khi tương lai mà họ xây dựng đó trở thành hiện tại, thì việc tận hưởng nó sẽ đòi hỏi sự kích hoạt của các hóa chất N&L đầy xúc cảm, thứ mà những người sở hữu dopamine nồng độ cao rất không ưa và hay né tránh. Họ phục vụ cộng đồng rất tốt. Nhưng dù giàu có, nổi tiếng, hay thành công như thế nào, họ hầu như không bao giờ hạnh phúc, chắc chắn rằng không bao giờ thỏa mãn. Các lực lượng tiến hóa khuyến khích sự sống còn trong giống loài đã tạo ra những con người đặc biệt này. Tự nhiên dẫn dắt họ để hy sinh hạnh phúc của bản thân nhằm mang lại cho thế giới các ý tưởng và phát minh mới mẻ - mang lại lợi ích cho tất cả chúng ta.

LƯỚT SÓNG, CÁT, VÀ BỆNH TÂM THẦN

Bruce Wilson của nhóm Beach Boys là một trong những nhạc sĩ nhạc pop có tính cách mạng nhất. Lúc mới bắt đầu sáng tác, nhạc của anh đơn giản một cách gian dối: những giai điệu bắt tai về lướt sóng, xe hơi, và các cô gái. Nhưng theo thời gian, anh dần tiến hành những thí nghiệm âm thanh chưa từng có – âm nhạc vừa dễ nghe, nhưng vừa có cấu trúc phức tạp với nhiều lớp hơn. Là một nhà soạn nhạc, chế tác nhạc và sản xuất nhạc, anh bắt đầu giới thiệu nhiều loại âm thanh mới và nhiều sự kết hợp các âm thanh mới trong nhạc pop. Một số chúng là các biến thể của những dạng quen thuộc: âm thanh bất thường từ những hợp âm thông thường, sự sắp xếp các tông nhạc khác nhau trên những hợp âm, và những quy trình tiêu chuẩn bắt đầu và kết thúc ở những đoạn khác thường. Wilson dùng những nhạc cụ kỳ lạ như harpsichord và theremin, những loại mà trước đây người ta chỉ dùng để tạo ra các âm thanh rợn người trong những bộ phim kinh dị. Anh cũng dùng các thiết bị chưa từng được xem là nhạc cụ: tiếng còi tàu, tiếng chuông xe đạp, tiếng dê kêu. Những thí nghiệm này đạt tới đỉnh điểm trong album Pet Sounds (1966), một bộ sưu tập được đánh giá cao những âm nhạc sáng tạo không giống với bất kỳ thứ gì trước đây. Nếu những nghệ sĩ như Bob Dylan đã đưa lời bài hát trong nhạc pop và rock từ những từ ngữ vớ vẩn lên tầm thơ ca, Brian Wilson đã chuyển thể âm nhạc từ cấu trúc ba hợp âm và một điệp khúc lên tầm cao mà nhà phát hành cho nhóm Beach Boys - Derk Taylor đã gọi là “một bản giao hưởng bỏ túi”.

Khả năng kết nối một cách sáng tạo những thứ không bình thường đã cho thấy anh có chứng ức chế tiềm ẩm thấp, và mức độ dopamine cao, nhưng những thứ này có lẽ cũng là nguyên nhân cho căn bệnh tâm thần của Wilson. “Anh ấy nghe thấy những giọng nói,” vợ anh – Melinda Ledbetter nói với tạp chí People trong năm 2012, “Tôi có thể biết được giọng nói đó là tốt hay xấu dựa trên biểu cảm trên mặt anh ấy. Đối với chúng ta, việc này rất khó hiểu, nhưng đối với anh ấy thì những giọng nói này rất thật.” Anh ấy bị chẩn đoán mắc chứng tâm thần phân liệt, sau đó là rối loạn phân liệt – kết hợp giữa các triệu chứng tâm thần phân liệt và những cảm xúc bất thường, bao gồm ảo giác và hoang tưởng ảo giác. Năm 2006, anh kể với tạp chí Ability rằng anh bắt đầu nghe thấy các giọng nói từ năm 25 tuổi, một tuần sau khi anh dùng thuốc gây ảo giác (psychedelic drugs). “Trong vòng 40 năm qua tôi đã có nhiều ảo thanh trong đầu tôi, cả ngày, mỗi ngày, và tôi không thể đuổi chúng đi. Cứ mỗi vài phút thì chúng lại xúc phạm tôi. .. Tôi tin là chúng chọn tôi vì chúng đố kỵ. Những giọng nói trong đầu tôi đố kị với tôi.”

Wilson nói rằng việc trị liệu để giảm các triệu chứng này không khiến năng lực sáng tạo của anh giảm đi. Trái người với các quan điểm thông thường, những căn bệnh tâm thần không được chữa trị là một vật cản, chứ không phải một lợi ích. “Trước đây tôi thường có những quãng thời gian dài không thể làm gì cả, nhưng giờ thì tôi có thể chơi nhạc mỗi ngày.”

>>> Chương 5 (1)

0 nhận xét:

Đăng nhận xét