LÀM
THẾ NÀO ĐỂ GẶT HÁI SỰ SÁNG TẠO TỪ MỘT GIẤC MƠ
Nếu nằm mơ cũng giống như bị tâm thần phân liệt, thì
chúng ta quay trở lại con người bình thường của mình bằng cách nào? Điều này có
xảy ra ngay lập tức không, hay là nó cần phải có thời gian để bổ sung lại những
suy nghĩ lô gic bình thường? Nếu việc này cần có thời gian, thì liệu trong quá
trình chuyển tiếp này, chúng ta có hơi điên một chút? Đây là một dẫn chứng đáng
xem xét: đôi khi chúng ta nằm mơ khi đang ngủ, đôi khi lại không. Khi chúng ta
chuyển tiếp từ trạng thái ngủ đến trạng thái thức giấc, thì việc thức giấc khi
đang mơ và thức giấc khi không mơ có khiến quá trình suy nghĩ trong đầu chúng
ta khác nhau hay không?
Các nhà nghiên cứu tại Đại học New York đã dùng phương
pháp TAT để đánh giá các loại câu chuyện mà người ta tạo ra sau khi họ thức dậy
từ một giấc mơ, và so sánh chúng với những câu chuyện TAT họ tạo ra khi thức dậy
từ một giấc ngủ không mộng mị. Họ đã phát hiện ra rằng những ảo tưởng được tạo
ra ngay sau giấc mơ thường phức tạp hơn rất nhiều. Chúng dài hơn, và chứa đựng
nhiều ý tưởng hơn. Những hình ảnh sống động hơn, và nội dung thì kỳ quái hơn.
Đây là một ví dụ của câu chuyện được chia sẻ từ một tình nguyện viên hoàn toàn
khỏe mạnh sau khi thức dậy từ trạng thái nằm mơ. Người tình nguyện viên được
cho xem một bức hình của một cậu bé đang nhìn chiếc đàn violin:
Cậu bé đang nghĩ về cây
đàn violin của cậu. Cậu có biểu cảm buồn bã. Chờ đã! Cậu đang chảy máu miệng!
Và đôi mắt của cậu… có vẻ như cậu bé bị mù!
Một tình nguyện viên khác thức dậy từ một giấc mơ được
cho xem bức hình một người chàng trai đang nằm dài trên sàn, gối đầu lên một
cái ghế. Có một cây súng trên sàn kế bên anh ta. Đây là phản ứng của tình nguyện
viên:
Có một cậu bé trong giường.
Cậu có vấn đề về cảm xúc. Cậu gần như là đang khóc, hoặc có thể cậu đang cười,
hay có thể đang chơi trò chơi. Cũng có thể có một cô bé khác. Chúng đều chết rồi.
Hay có lẽ là một con mèo? Có gì đó trên sàn… chùm chìa khóa, một bông hoa, hay
là một món đồ chơi, một chiếc thuyền.
Sau khi thức dậy từ một giấc ngủ không mộng mị, người
tình nguyện viên này được cho xem một thẻ hình khác, và viết ra một mô tả ít kỳ
quái hơn trước rất nhiều, đơn giản là “một cậu bé mặc áo thun, không mang vớ.
Tôi không thấy được nhiều thứ khác.”
Nhiều người đã trải qua việc thức dậy từ những giấc
mơ, và cảm thấy như thể họ bị kẹt giữa hai thế giới. Các suy nghĩ trở nên lỏng
lẻo hơn, nhảy từ chủ đề này đến chủ đề khác, không bị hạn chế bởi các quy tắc
lô gic thông thường. Thực tế, một số người đã nói rằng họ có được những suy
nghĩ sáng tạo nhất chính là trong khoảng thời gian giữa hai thế giới này. Bộ lọc
N&L hướng sự chú ý của chúng ta vào thế giới bên ngoài chưa được sắp xếp lại,
các mạch thần kinh dopamine tiếp tục phun ra không kềm chế, và các ý tưởng trôi
nổi một cách tự do.
Friedrich
August Kekulé nổi tiếng với khám phá cấu trúc phân tử benzen, một trong những
hóa chất công nghiệp quan trọng vào thời đó. Các nhà hóa học đã xây dựng mô
hình phân tử bao gồm sáu nguyên tử carbon và sáu nguyên tử hydrogen, điều này
gây ngạc nhiên. Thông thường các phân tử dạng này sẽ phải có nhiều nguyên tử
hydrogen hơn là nguyên tử carbon. Rõ ràng là dù phân tử này có cấu trúc thế
nào, thì nó cũng không phải dạng bình thường.
Các
nhà hóa học đã cố gắng sắp xếp các nguyên tử carbon và hydrogen bằng đủ cách để
không vi phạm nguyên tắc kết hợp hóa học. Họ biết rằng các nguyên tử carbon phải
nối với nhau như các hạt trên cùng một chuỗi, và cũng có nhiều nhánh với các
góc độ đúng, những chẳng có mô hình nào phù hợp với tính chất của phân tử
benzene. Hình dáng thật của phân tử này là một bí ẩn. Kekulé đã mô tả khoảnh khắc
mà ông phát hiện ra hình dáng như sau:
“Tôi
ngồi ở đó và viết cuốn [giáo khoa hóa học] của tôi, nhưng không viết được mấy,
trí óc tôi lơ lửng ở chỗ khác. Tôi xoay ghế về phía lò sưởi và nửa tỉnh nửa mơ.
Các nguyên tử một lần nữa lại đùa giỡn trước mắt tôi. Lần này chúng nhóm thành
các nhóm nhỏ khiêm tốn ở sau nền. Đôi mắt của trí óc tôi, được rèn luyện bởi
các hình ảnh tương tự, giờ đã phân biệt các dạng lớn hơn của các hình dáng đa dạng.
Những hàng dài, theo nhiều cách mà mật độ dày hơn, mọi thứ đều chuyển động, vặn
xoắn như những con rắn. Và, nhìn kìa, cái gì kia? Một con rắn tự cắn cái đuôi của
mình, và hình dáng này quay cuồng trước mắt tôi. Như bị sét đánh, tôi tỉnh dậy.”
Hình ảnh con rắng ngậm cái đuôi của nó trong miệng, biểu
tượng rắn ăn đuôi (ouroboros) cổ xưa, đã đưa đến suy nghĩ rằng sáu nguyên tử
carbon của phân tử benzene đã nối với nhau thành một vòng tròn. Cũng giống như
con rắn với cái đuôi trong miệng nó – hoàn thành chính nó và bởi nó – những giấc
mơ là sự diễn giải bên trong của những ý tưởng bên trong. Thoát khỏi các giác
quan, những giấc mơ cho phép dopamine chạy tự do, không bị kềm hãm bởi những sự
thật cứng nhắc từ thế giới thực bên ngoài.
Tiến sĩ Deidre Barrett, một nhà tâm lý học và nhà
nghiên cứu giấc mơ ở Học viện Y học Havard, đã nói rằng việc Kekulé tìm ra đáp
án cho vấn đề của mình dựa trên một hình ảnh là không đáng ngạc nhiên chút nào.
Phần lớn não bộ của chúng ta cũng linh động khi đang mơ nhiều như khi đang tỉnh,
nhưng có một sự khác biệt quan trọng. Không hề bất ngờ khi phần não bộ vốn dùng
để lọc những chi tiết có vẻ không quan trọng – phần thùy trước – bị tắt đi. Và
hoạt động của vùng được gọi là vỏ não thị giác thứ cấp (secondary visual
cortex) được tăng lên. Phần não này không nhận được tín hiệu trực tiếp từ mắt,
nên khi chúng ta mơ thì nó không nhận được bất kỳ thông tin gì. Thay vào đó, nó
chịu trách nhiệm xử lý các kích thích thị giác. Nó giúp não bộ lý giải những thứ
mà đôi mắt nhìn thấy.
Những giấc mơ có tính thị giác cao. Trong cuốn sách Ủy ban Giấc ngủ: các Nghệ thuật gia, Nhà
khoa học, và Vận động viên sử dụng Giấc Mơ để giải quyết vấn đề một cách sáng tạo
như thế nào – và bạn cũng có thể làm điều đó như thế nào? (The Committee of
Sleep: How Artists, Scientists, and Athletes Use Dreams for Creative Problem
Solving—and How You Can Too), Tiến sĩ Barrett đã giải thích rằng cũng như
khi Kekulé khám phá ra cấu trúc của benzene trong trạng thái giống như đang mơ,
những người bình thường cũng có thể sử dụng các giấc mơ để giải quyết các vấn đề
thực tế. Tiến sĩ Barrett đã kiểm tra năng lực giải quyết vấn đề của các giấc mơ
bằng cách thí nghiệm trên một nhóm các sinh viên chưa tốt nghiệp ở Havard.
Cô ấy yêu cầu họ chọn một vấn đề quan trọng đối với bản
thân. Vấn đề này có thể là vấn đề cá nhân, vấn đề học thuật, hay những vấn đề
chung chung. Sau đó, cô ấy hướng dẫn họ kỹ thuật để nuôi ấp các giấc mơ. Có nhiều
cách mà người ta có thể dùng để tăng khả năng có được một giấc mơ giúp giải quyết
các vấn đề. Những sinh viên này sẽ viết ra những giấc mơ của họ mỗi đêm trong
vòng một tuần hoặc cho đến khi họ tin rằng họ đã giải quyết được vấn đề của họ.
Những vấn đề và những giấc mơ sẽ được nộp về một ban giám khảo để quyết định
xem liệu những giấc mơ có thực sự tạo ra giải pháp không.
Kết quả vô cùng đáng kinh ngạc. Phân nửa số sinh viên
có một giấc mơ liên quan đến vấn đề của họ, và 70% những người mơ về vấn đề
mình gặp phải tin rằng giấc mơ của họ đã tạo ra giải pháp. Những người giám khảo
cũng đồng ý với điều này. Trong số các sinh viên mơ về vấn đề của mình, các
giám khảo tin rằng có hơn phân nửa đã có được giải pháp từ giấc mơ của họ.
Một sinh viên trong nghiên cứu này đã cố gắng để quyết
định xem sau khi tốt nghiệp thì sẽ theo đuổi ngành nghề nào. Cậu ấy đã nộp đơn
vào hai khóa học tâm lý học trị liệu, cả hai đều nằm ở quê nhà Massachusetts của
cậu. Cậu cũng nộp đơn vào hai chương trình tâm lý công nghiệp* khác, một ở Texas
và một ở California. Một đêm nọ cậu mơ rằng mình đang trên máy bay, bay qua bản
đồ nước Mỹ. Máy bay gặp sự cố máy móc, và phi công thông báo rằng họ phải tìm một
nơi an toàn để đáp xuống. Họ đang ở ngay trên Massachusetts, và người sinh viên
đề nghị nên đáp ở đây, nhưng người phi công trả lời rằng ở đây quá nguy hiểm để
đáp xuông. Khi cậu tỉnh giấc, cậu nhận ra rằng sau khi đã sống cả đời ở
Massachusetts, đã đến lúc cậu phải đi tiếp. Đối với cậu, nơi để theo học sau tốt
nghiệp quan trọng hơn lĩnh vực học. Mạch thần kinh dopamine của cậu đã cung cấp
một góc nhìn mới cho vấn đề.
T/N *: ngành học
nghiên cứu về tâm lý nơi công sở
MƠ
VỀ NHỮNG CÂU CHUYỆN VÀ NHỮNG BÀI CA
Mơ là một nguồn cung cấp thường xuyên của sáng tạo
trong nghệ thuật. Paul McCartney nói rằng anh đã từng nghe giai điệu của bài
“Yesterday” trong một giấc mơ. Keith Richards nói anh sáng tác ra lời và điệp
khúc trong bài “Satisfaction” từ một giấc mơ. “Tôi mơ thấy các màu sắc, tôi mơ
thấy các hình dạng, và tôi mơ thấy các âm thanh,” Billy Joel đã nói như vậy về
bài hát “River of Dreams” trong cuộc phỏng với với Hartford Courant. “Tôi thức giấc và hát bài đó một lần, sau đó thì
nó không biến mất.” Micheal Stipe của nhóm REM viết lời cho bài hit của nhóm,
“Đó là bài “the End of the World as We Know It (And I Feel Fine)”, theo cách
tương tự. “Tôi đã mơ về một bữa tiệc,” anh kể với tạp chí Interview, “Mọi người trong bữa tiệc này đều có cái tên bắt đầu với
chữ L. B trừ tôi. Họ là Lester Bangs, Lenny Bruce, Leonard Bernstein. Đó là
cách mà tôi sáng tác ra một đoạn trong bài hát.” Nhà văn Robert Louis Stevenson
nói rằng chính các giấc mơ là nguồn gốc của The
Strange Case of Dr. Jekyll and Mr.Hyde, và Stephen King nói rằng tiểu thuyết
Misery của ông cũng đến từ một giấc
mơ.
NUÔI
ẤP CÁC GIẤC MƠ:
LÀM SAO CÓ THỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TRONG LÚC NGỦ
Hãy chọn một vấn đề quan trọng với bạn, một vấn đề mà
bạn khao khát muốn được giải quyết. Càng khao khát, thì vấn đề càng có khả năng
sẽ xuất hiện trong giấc mơ của bạn. Hãy nghĩ về vấn đề này trước khi bạn đi ngủ.
Nếu có thể, hãy tưởng tượng về nó dưới dạng các hình ảnh thị giác. Nếu vấn đề
này liên quan đến ai đó, hãy tưởng tượng về người đó. Nếu bạn đang tìm cảm hứng,
hãy tưởng tượng một trang giấc trắng. Nếu bạn đang vướng vào một dự án nào đó,
hãy tưởng tượng một vật thể đại diện cho dự án đó. Hãy giữ hình ảnh này trong đầu,
để nó trở thành thứ cuối cùng trong đầu bạn trước khi bạn ngủ.
Hãy chắc rằng bạn để giấy bút ở gần giường. Ngay khi bạn
thức giấc, hãy viết lại nó, dù nó có liên quan đến vấn đề của bạn hay không. Những
giấc mơ có thể rất đánh đố, và câu trả lời cũng có thể bị ngụy trang. Quan trọng
là bạn viết ra giấc mơ của mình ngay tức thì vì trí nhớ sẽ bốc hơi trong vài
giây nếu bạn bắt đầu nghĩ về thứ khác. Nhiều người đã từng trải nghiệm cảm giác
thức dậy từ một giấc mơ mạnh mẽ, một giấc mơ tràn ngập ý nghĩa đối với họ,
nhưng một phút sau đó lại không thể nhớ về bất kỳ chi tiết nào của giấc mơ này.
Có thể bạn sẽ mất vài đêm trước khi tìm ra thứ mình muốn,
và giải pháp mà bạn có từ giấc mơ có thể không phải giải pháp tốt nhất. Nhưng
nó có thể là một giải pháp mới mẻ, một cách tiếp cận vấn đề theo hướng hoàn
toàn mới.
TẠI
SAO NHỮNG NGƯỜI THẮNG GIẢI NOBEL THÍCH VẼ
Nghệ thuật và khoa học có nhiều điểm chung hơn người
ta nghĩ, vì cả hai đều được dẫn dắt bởi dopamine. Một nhà thơ viết nên những
dòng thơ về một người tình tuyệt vọng không khác mấy so với một nhà vật lý nguệch
ngoạc các công thức về những điện cực bị kích thích. Họ đều cần khả năng kéo tầm
nhìn ra khỏi thế giới của các giác quan để nhìn vào một thế giới các ý tưởng trừu
tượng vĩ đại hơn. Các nhà khoa học trong xã hội thượng lưu thường có một tâm hồn
ngập tràn nghệ thuật. Các thành viên của Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ
có sở thích liên quan đến nghệ thuật nhiều gấp rưỡi người thường chúng ta. Các
thành viên của Hiệp hội Hoàng Gia Anh thì gấp đôi, và những người thắng giải
Nobel thì gần như gấp ba. Bạn càng giỏi trong việc kiểm soát các ý tưởng trừu
tượng phức tạp thì bạn càng có xu hướng trở thành nghệ thuật gia.
Điểm giống nhau giữa nghệ thuật và khoa học trở nên đặc
biệt quan trọng khi một cơn suy thoái lập trình máy tính xuất hiện ở cú ngoặt
thế kỷ. Các lập trình viên máy tính có thói quen viết tắt các năm bằng 2 con số
cuối (ví dụ, 99 cho năm 1999) để tiết kiệm bộ nhớ đắt tiền (và ít phải gõ phím
hơn). Các lập trình viên đã không nghĩ tới thiên niên kỷ tiếp theo, khi 99 có
thể là 2099. Hàng nghìn chương trình máy tính gặp phải nguy cơ bị sập, không chỉ
các trang web hay phần mềm đánh chữ, mà còn các phần mềm kiểm soát hàng không,
các đập nước, và các nhà máy điện hạt nhân. Vấn đề Y2K, như đã biết, đã ảnh hưởng
đến quá nhiều hệ thống đến nỗi không có đủ lập trình viên máy tính để sửa hết
chúng. Dựa trên một số báo cáo, một số công ty đã phải thuê những nhạc sĩ
ngoài-giờ vì họ có thể dễ dàng học được cách lập trình.
TẠI
SAO CÁC THIÊN TÀI LÀ BỌN KHỐN
Âm nhạc và toán học đi cùng nhau bởi vì mức độ tăng
cao của dopamine thường đi theo gói: nếu bạn có mức độ dopamine cao ở một lĩnh
vực, thì bạn thường cũng có mức dopamine cao ở những lĩnh vực khác. Các nhà
khoa học là các nghệ thuật gia, các nhạc sĩ là các nhà toán học. Nhưng vẫn có mặt
trái. Đôi khi, sở hữu quá nhiều dopamine là một gánh nặng.
Mức độ dopamine cao khiến các chức năng N&L bị đè
ép, vì thế những người xuất sắc thường dở tệ trong các mối quan hệ giữa người
và người. Chúng ta cần có N&L thấu cảm để hiểu được người khác đang nghĩ gì
– đây là một kỹ năng cần thiết để giao tiếp xã hội. Nhà khoa học mà bạn gặp ở bữa
tiệc cocktail không thể ngậm miệng ngừng nói về nghiên cứu của anh ta vì anh ta
không biết bạn đang chán ngán. Tương tự, Albert Einstein đã từng nói rằng, “Ý
thức mãnh liệt về công bằng xã hội và trách nhiệm xã hội của tôi luôn luôn đối
nghịch một cách kỳ cục với nhu cầu ít ỏi của tôi trong việc liên hệ trực tiếp với
những con người khác.” Và “Tôi yêu nhân loại, nhưng tôi ghét con người.” Những
khái niệm trừu tượng về công bằng xã hội và nhân loại thì rất dễ dàng, nhưng những
trải nghiệm thực tế khi đối diện với người khác thì thật khó khăn.
Đời tư của Einstein đã phản ánh khó khăn trong các mối
quan hệ của ông. Ông thích khoa học hơn con người rất nhiều. Hai năm trước khi
chia tay vợ, ông ngoại tình với em họ của mình, sau đó cưới luôn bà ấy. Một lần
nữa, ông lại không chung thủy, lừa gạt em họ mình để ngoại tình với thư ký của
ông và gần nửa tá bạn gái khác. Bộ não đầy dopamine của ông vừa là một phép
lành vừa là một lời nguyền – dopamine cường độ cao trong não ông là thứ đã giúp
ông khám phá ra lực hấp dẫn, cũng chính nó đã dẫn dắt ông đi từ mối quan hệ này
đến mối quan hệ khác, không bao giờ cho phép ông chuyển sang chế độ N&L –
loại tình yêu đồng hành lâu dài và tập trung.
Hiểu được cách thức các bộ não thiên tài hoạt động đã
cung cấp cho chúng ta một cái nhìn sâu hơn vào các tính cách mang tính dopamine
cao, và những cách thức khác nhau mà nó có thể tự mô tả chính nó. Chúng ta đã
nhìn thấy những người tìm kiếm khoái cảm một cách không kềm chế được, họ gặp
khó khăn trong việc duy trì mối quan hệ dài lâu và vô cùng nhạy cảm với việc
nghiện ngập. Chúng ta cũng nhìn thấy những nhà chiến lược cô độc thà làm việc
thêm giờ còn hơn là đi chơi với bạn bè. Giờ thì chúng ta nhìn thấy khả năng thứ
ba: những thiên tài sáng tạo – dù là họa sĩ, nhà thơ hay nhà vật lý học – những
người gặp rất nhiều rắc rối với các mối quan hệ giữa người và người đến mức có
thể hơi bị tự kỷ. Thêm vào đó, những thiên tài dopamine cũng quá tập trung vào
thế giới ý tưởng nội tại đến mức anh ta có thể mang hai chiếc vớ khác nhau,
quên chải đầu, và thường xuyên lỡ đễnh với bất kỳ việc gì thuộc về thế giới
ngay và luôn thực tế trước mắt. Plato đã từng kể một câu chuyện về Socrates –
triết gia Hy Lạp cổ đại, rằng có lần ông đã đứng sững ở một chỗ cả ngày lẫn
đêm, để nghĩ về một vấn đề, hoàn toàn không quan tâm đến những gì xảy ra xung
quanh.
Ba loại tính cách này bên ngoài có vẻ rất khác nhau,
nhưng chúng đều có một điểm chung. Chúng quá tập trung vào việc tối đa hóa nguồn
lực tương lai và đánh đổi bằng việc tận hưởng hiện tại. Những người tìm kiếm
khoái cảm luôn muốn nhiều hơn. Dù anh ta có được bao nhiêu thì đối với anh ta
chúng không bao giờ là đủ. Dù anh ta có mong đợi bao nhiêu vào những khoái cảm
đầy hứa hẹn sắp tới, anh ta không bao giờ có thể cảm thấy thỏa mãn với chúng.
Ngay khi khoái cảm này vừa xuất hiện, thì anh ta đã lập tức tìm cái tiếp theo.
Những nhà chiến lược cô độc cũng mất cân bằng giữa hiện tại/tương lai. Cũng giống
như người đi tìm khoái cảm, anh ta có một nhu cầu vĩnh cửu để tìm kiếm nhiều
hơn, nhưng anh ta nhìn ở góc độ xa hơn, đuổi theo nhiều đam mê dưới dạng trừu
tượng hơn như danh dự, sự giàu có, và quyền lực. Các thiên tài sống trong thế
giới của những điều bí ẩn, chưa được khám phá, họ bị ám ảnh với việc tạo ra một
thế giới tốt đẹp hơn bằng công việc của mình. Các thiên tài thay đổi thế giới –
những sự ám ảnh này của họ thường thể hiện dưới dạng thờ ơ với người khác.
NHỮNG
KẺ GHÉT CON NGƯỜI NHƯNG LẠI ĐẦY LÒNG NHÂN TỪ
Những người vô cùng thông minh, vô cùng thành công, vô
cùng sáng tạo – nói chung là vô cùng nhiều dopamine – thường thể hiện một loại
cảm xúc rất kỳ cục: họ yêu thích loài người nhưng lại ít khi kiên nhẫn với các
cá nhân nói riêng.
Tôi
càng yêu nhân loại nói chung, thì tôi càng ít yêu con người nói riêng. Trong
các giấc mơ của tôi, tôi thường lên kế hoạch cho các dịch vụ nhân đạo… Nhưng
tôi không thể ở cùng phòng với ai đó trong hai ngày… Tôi sẽ trở nên hung dữ với
người ta ngay khi người ta đến gần tôi.
- Fyodor Dostoyevsky
Tôi
là một kẻ ghét con người nhưng luôn nhân từ, hơi tâm thần như siêu lý tưởng, và
tiêu hóa triết học tốt hơn là tiêu hóa đồ ăn.
-
Alfred Nobel
Tôi
yêu nhân loại như ghét con người.
—Edna
St. Vincent Millay
Tôi
yêu nhân loại… tôi không chịu nổi con người.
—Charles
Schulz (viết về Linus trong Peanuts)
Nghe thì có vẻ khó hiểu, nhưng hoàn toàn có thể giải
thích được. Những người có mức độ dopamine cao thường thích những suy nghĩ trừu
tượng hơn là những trải nghiệm cảm giác. Đối với họ, sự khác biệt giữa yêu
thương nhân loại và yêu thương người hàng xóm của mình là sự khác biệt giữa ý
nghĩ về một con chó con, và việc thực sự phải chăm sóc chúng.
CÁC
HẬU QUẢ BI KỊCH
Có thể nói một cách tương đối chắc chắn rằng các tính
cách dopamine của Einstein được hình thành bởi gene. Một trong hai con trai của
ông đã trở thành chuyên gia kỹ thuật thủy lực đẳng cấp quốc tế. Người còn lại bị
chẩn đoán với chứng tâm thần phân liệt ở độ tuổi hai mươi, và sau đó mất ở trại
tâm thần. Có rất nhiều nghiên cứu đã tìm thấy mã gene quyết định tính cách
dopamine. Một nghiên cứu ở Iceland đã đánh giá các hồ sơ di truyền của hơn
86,000 người, và phát hiện ra rằng những người mang những người mang loại gene
khiến họ dễ gặp nguy cơ bị tâm thần phân liệt hoặc bị rối loạn lưỡng cực thường
thuộc về tầng lớp diễn viên, vũ công, nhạc sĩ, nghệ sĩ thị giác hay nhà văn.
Isaac Newton, người đã tạo ra toán giải tích và định
luật vạn vật hấp dẫn, là một trong những thiên tài rắc rối này. Ông gặp khó
khăn khi phải phối hợp với người khác, và ông cũng đã dính vào một vụ cãi vã
khoa học khét tiếng với nhà toán học kiêm triết gia người Đức Gottfried
Leibniz. Ông bí ẩn, hơi tâm thần phân liệt và có rất ít cảm xúc, đến mức gần
như là tàn nhẫn. Khi ông đảm nhiệm cương vị Chủ xưởng đúc tiền Hoàng Gia, ông
đã treo cổ hàng loạt những người làm hàng giả bất chấp sự phản đối của các đồng
nghiệp.
Newton bị ám bởi sự điên rồ. Ông bỏ ra hàng giờ để tìm
các thông điệp bí ẩn trong Kinh Thánh, và viết hàng triệu từ về tôn giáo và những
điều huyền bí. Ông theo đuổi thuật giả kim trung cổ, nghiên cứu một cách ám ảnh
về hòn đá phù thủy – một loại nguyên liệu mà các nhà giả kim tin rằng có các
tính chất ma thuật có thể giúp con người trường sinh bất tử. Vào tuổi 50,
Newton bắt đầu trở nên hoàn toàn điên loạn và phải sống một năm trong trại tâm
thần.
Với những bằng chứng này, Newton hẳn đã có mức độ
dopamine cao để tạo ra sự xuất chúng của ông, các vấn đề xã hội của ông, và sự
sụp đổ tâm thần của ông. Và không có mỗi ông gặp vấn đề như vậy. Rất nhiều nghệ
thuật gia, nhà khoa học, và các lãnh đạo doanh nghiệp xuất sắc cũng bị cho là
hoặc được biết là đã gặp phải các căn bệnh tâm thần. Bao gồm: Ludwig van
Beethoven, Edward Much (tác giả của bức The
Scream), Vincent van Gogh, Charles Darwin, Georgia O’Keeffe, Sylvia Plath,
Nikola Tesla, Vaslax Nijinsky (vũ công nam vĩ đại nhất vào đầu thế kỷ 20, người
đã từng sáng tác ra điệu múa ba-lê tạo ra trào lưu), Anne Sexton, Virginia
Woolf, kỳ thủ cờ vua Bobby Fischer, và nhiều người khác nữa.
Dopamine cho chúng ta năng lực sáng tạo. Nó cho phép
chúng ta tưởng tượng những thứ không có thật và liên hệ những thứ trông có vẻ
không liên quan đến nhau. Nó cho phép chúng ta xây dựng các mô hình trí óc về một
thế giới vượt qua khỏi những mô tả vật lý thông thường, cho phép chúng ta vượt
khỏi những ấn tượng cảm xúc thông thường để khám phá ra ý nghĩa sâu hơn của những
gì chúng ta trải nghiệm. Sau đó, như một đứa trẻ xô ngã cái tháp được tạo bằng
những khối hình xếp, dopamine phá vỡ mô hình của chính nó để chúng ta có thể bắt
đầu lại từ đầu và tìm kiếm những ý nghĩa mới từ những thứ quen thuộc.
Nhưng loại năng lực này đi kèm với cái giá phải trả. Hệ
thống dopamine quá mức năng động ở những thiên tài sáng tạo khiến họ gặp nguy
cơ về các căn bệnh tâm lý. Đôi khi thế giới của những thứ không thật phá vỡ rào
cản tự nhiên của chính nó, tạo ra chứng tâm thần phân liệt, các ảo giác, và cơn
sốt hưng phấn từ các hành vi hưng cảm. Thêm vào đó, hoạt động dopamine được
nâng quá cao có thể lấn át hệ thống N&L, cản trở khả năng hình thành các mối
quan hệ giữa người và người, và điều hướng các hoạt động thường ngày trong thế
giới thực.
Đối với một số người, điều này chẳng là gì cả. Niềm
vui đến tự sự sáng tạo là niềm vui mãnh liệt nhất mà họ biết, dù họ là nghệ thuật
gia, nhà khoa học, nhà tiên tri hay các doanh nhân. Dù họ đang khao khát điều
gì – họ cũng không bao giờ ngừng làm việc. Thứ mà họ quan tâm nhất là đam mê của
chính họ trong việc sáng tạo, khám phá và giác ngộ. Họ không bao giờ thư giãn,
không bao giờ dừng lại để tận hưởng những thứ tốt đẹp mà họ đã có. Thay vào đó,
họ bị ám ảnh với việc xây dựng một tương lai không bao giờ tới. Bởi vì khi
tương lai mà họ xây dựng đó trở thành hiện tại, thì việc tận hưởng nó sẽ đòi hỏi
sự kích hoạt của các hóa chất N&L đầy xúc cảm, thứ mà những người sở hữu
dopamine nồng độ cao rất không ưa và hay né tránh. Họ phục vụ cộng đồng rất tốt.
Nhưng dù giàu có, nổi tiếng, hay thành công như thế nào, họ hầu như không bao
giờ hạnh phúc, chắc chắn rằng không bao giờ thỏa mãn. Các lực lượng tiến hóa
khuyến khích sự sống còn trong giống loài đã tạo ra những con người đặc biệt
này. Tự nhiên dẫn dắt họ để hy sinh hạnh phúc của bản thân nhằm mang lại cho thế
giới các ý tưởng và phát minh mới mẻ - mang lại lợi ích cho tất cả chúng ta.
LƯỚT
SÓNG, CÁT, VÀ BỆNH TÂM THẦN
Bruce Wilson của nhóm Beach Boys là một trong những nhạc
sĩ nhạc pop có tính cách mạng nhất. Lúc mới bắt đầu sáng tác, nhạc của anh đơn
giản một cách gian dối: những giai điệu bắt tai về lướt sóng, xe hơi, và các cô
gái. Nhưng theo thời gian, anh dần tiến hành những thí nghiệm âm thanh chưa từng
có – âm nhạc vừa dễ nghe, nhưng vừa có cấu trúc phức tạp với nhiều lớp hơn. Là
một nhà soạn nhạc, chế tác nhạc và sản xuất nhạc, anh bắt đầu giới thiệu nhiều
loại âm thanh mới và nhiều sự kết hợp các âm thanh mới trong nhạc pop. Một số
chúng là các biến thể của những dạng quen thuộc: âm thanh bất thường từ những hợp
âm thông thường, sự sắp xếp các tông nhạc khác nhau trên những hợp âm, và những
quy trình tiêu chuẩn bắt đầu và kết thúc ở những đoạn khác thường. Wilson dùng
những nhạc cụ kỳ lạ như harpsichord và theremin, những loại mà trước đây người
ta chỉ dùng để tạo ra các âm thanh rợn người trong những bộ phim kinh dị. Anh
cũng dùng các thiết bị chưa từng được xem là nhạc cụ: tiếng còi tàu, tiếng
chuông xe đạp, tiếng dê kêu. Những thí nghiệm này đạt tới đỉnh điểm trong album
Pet Sounds (1966), một bộ sưu tập được
đánh giá cao những âm nhạc sáng tạo không giống với bất kỳ thứ gì trước đây. Nếu
những nghệ sĩ như Bob Dylan đã đưa lời bài hát trong nhạc pop và rock từ những
từ ngữ vớ vẩn lên tầm thơ ca, Brian Wilson đã chuyển thể âm nhạc từ cấu trúc ba
hợp âm và một điệp khúc lên tầm cao mà nhà phát hành cho nhóm Beach Boys - Derk
Taylor đã gọi là “một bản giao hưởng bỏ túi”.
Khả năng kết nối một cách sáng tạo những thứ không
bình thường đã cho thấy anh có chứng ức chế tiềm ẩm thấp, và mức độ dopamine
cao, nhưng những thứ này có lẽ cũng là nguyên nhân cho căn bệnh tâm thần của
Wilson. “Anh ấy nghe thấy những giọng nói,” vợ anh – Melinda Ledbetter nói với
tạp chí People trong năm 2012, “Tôi
có thể biết được giọng nói đó là tốt hay xấu dựa trên biểu cảm trên mặt anh ấy.
Đối với chúng ta, việc này rất khó hiểu, nhưng đối với anh ấy thì những giọng
nói này rất thật.” Anh ấy bị chẩn đoán mắc chứng tâm thần phân liệt, sau đó là
rối loạn phân liệt – kết hợp giữa các triệu chứng tâm thần phân liệt và những cảm
xúc bất thường, bao gồm ảo giác và hoang tưởng ảo giác. Năm 2006, anh kể với tạp
chí Ability rằng anh bắt đầu nghe thấy
các giọng nói từ năm 25 tuổi, một tuần sau khi anh dùng thuốc gây ảo giác
(psychedelic drugs). “Trong vòng 40 năm qua tôi đã có nhiều ảo thanh trong đầu
tôi, cả ngày, mỗi ngày, và tôi không thể đuổi chúng đi. Cứ mỗi vài phút thì
chúng lại xúc phạm tôi. .. Tôi tin là chúng chọn tôi vì chúng đố kỵ. Những giọng
nói trong đầu tôi đố kị với tôi.”
Wilson nói rằng việc trị liệu để giảm các triệu chứng
này không khiến năng lực sáng tạo của anh giảm đi. Trái người với các quan điểm
thông thường, những căn bệnh tâm thần không được chữa trị là một vật cản, chứ
không phải một lợi ích. “Trước đây tôi thường có những quãng thời gian dài
không thể làm gì cả, nhưng giờ thì tôi có thể chơi nhạc mỗi ngày.”
0 nhận xét:
Đăng nhận xét