Thứ Năm, 11 tháng 8, 2022

The Molecule Of More - chương 4 (1)

 

CHƯƠNG 4

SÁNG TẠO & ĐIÊN LOẠN

Các nguy cơ và phần thưởng của bộ não đầy dopamine

Dopamine phá vỡ mọi rào cản thông thường.

 

Những suy nghĩ như vậy cứ lặp đi lặp lại, lặp đi lặp lại trong đầu tôi. Tôi muốn ngừng chúng lại... Sau đó, tôi tự nói với mình, mình nên gọi ai đây? Sau đó thôi gọi cho Nhóm bắt ma. Ý tôi là, không, sai rồi. Tôi không có gọi cho Nhóm bắt ma, tôi gọi cho phòng chống khủng hoảng... Giờ tôi quay vào trong được chưa? Tôi nghĩ rằng ai đó đang cố bắn tôi.

 - Trích từ buổi phỏng vấn với một người bị chứng tâm thần phân liệt

Trí óc sáng lại là nguồn lực mạnh mẽ nhất trên trái đất. Không một giếng dầu, mỏ vàng, hay những nông trại hàng nghìn hecta nào có thể cạnh tranh với khả năng làm giàu của một ý tưởng sáng tạo. Sự sáng tạo chính là năng lực lớn nhất của bộ não. Bệnh tâm thần thì ngược lại. Nó phản ánh rằng một bộ não đang đấu tranh để kiểm soát được những thử thách bình thường nhất của cuộc sống hằng ngày. Nhưng kẻ điên và thiên tài, phần tệ nhất và tốt nhất mà bộ não có thể làm, đều phụ thuộc vào dopamine. Chính vì sự liên quan về mặt hóa học cơ bản này mà kẻ điên và thiên tài liên hệ với nhau mật thiết hơn với bất kỳ bộ não bình thường nào khác. Sự liên kết này đến từ đâu, và nó cho chúng ta biết những gì về bản chất cốt yếu của cả hai? Hãy bắt đầu với kẻ điên.

ĐỘT PHÁ THỰC TẠI

Người ta phải nhờ đến cha mẹ của William vì anh từ chối chấp nhận sự thật rằng mình đã bị bệnh tâm thần. Mẹ và cha anh đều là những nhà văn thành công, và đã đi du lịch vòng quanh thế giới, đến những vùng chiến tranh khắc nghiệp để thu thập dữ liệu cho những cuốn sáng của họ. William đã từng cho thấy các dấu hiệu của một trí thông minh vượt trôi, dù anh không luôn nhất quán. Trong năm cuối cấp 3, cha mẹ hứa sẽ mua xe cho anh nếu anh đạt điểm số tốt, và anh đạt được tổng điểm là 3.7 GPA.

Mọi thứ thay đổi đột ngột khi anh nhập học đại học. Những ý nghĩ kỳ lạ bắt đầu xâm chiếm đầu óc anh. Anh kết bạn với một cô gái, và tự anh tưởng tượng rằng cô ấy yêu anh. Khi cô ấy phủ nhận điều này, anh kết luận rằng cô ấy dương tính với HIV và cố bảo vệ anh khỏi nhiễm bệnh. Ngay sau đó, loại ý nghĩ này lan truyền sang những người khác. Anh tin chắc rằng có hơn một tá người mà anh biết bị dương tính HIV, và những người đó đều đang trông đợi chuyến đi đến châu Phi của anh để tìm cách chữa trị cho họ. Anh biết được điều này vì anh nghe được giọng nói của người bà đã mất và Thượng Đế giải thích cho anh.

Khi bạn bè anh đề nghị anh nên đến gặp chuyên viên sức khỏe tâm thần, William nghĩ rằng cha mẹ anh đã mua chuộc họ để nói với anh như vậy. Anh nghĩ đây là âm mưu của họ để khiến anh nghĩ rằng anh bị bệnh. Anh cho rằng cha mẹ của anh là những người giả dạng, và anh rời bỏ đất nước để đi tìm cha mẹ thật của mình.

Anh không đi lâu, khi anh quay về nhà, anh buộc tội bố mẹ mình giám sát mình với các thiết bị nghe lén. Anh đến New York để chạy trốn khỏi cơn stress từ sự áp bức tưởng tượng của anh. Anh gọi nó là “lạm dụng hoàn cảnh”. Mọi thứ bắt đầu trở nên quá căng thẳng, anh cần nghỉ ngơi. Anh muốn đến một nơi mà không ai có thể theo dõi anh được.

Khi anh quay về nhà, cha mẹ anh phải trả tiền taxi hơn $600 và họ không chịu nổi nữa. Họ nói với anh rằng anh không được sống trong nhà họ nữa trừ phi anh đi gặp bác sĩ tâm thần. William – đứng trước nguy cơ trở thành vô gia cư, đã đồng ý. Dưới sự giám sát của bác sĩ trị liệu, anh bắt đầu uống thuốc trị tâm thần. Sức khỏe của anh khá hơn, và anh quyết định đăng ký vào một trường đại học công ở địa phương, chuyên ngành thiết kế đồ họa. Lúc này còn quá sớm so với quá trình trị liệu cần thiết, và kế hoạch này quá lớn. Sau vài tháng, anh bỏ học.

Theo thời gian, việc chữa trị dần cải thiện các dấu hiệu của anh, nhưng cha mẹ của anh vẫn gặp rất nhiều khó khăn trong việc thuyết phục anh chữa trị thường xuyên. Anh vẫn không tin rằng anh bị bệnh tâm thần. Bác sĩ đổi thuốc mới cho William và loại này không cần phải uống hàng này nữa. Anh chỉ cần đến mỗi tháng một lần để tiêm thôi, điều này giúp anh được chữa trị không ngắt quãng. Theo cách này, anh đã cải thiện được cuộc sống của mình, anh có thể làm một đầu bếp toàn thời gian và sống độc lập trong căn hộ của chính anh.

Chứng tâm thần phân liệt là một dạng bệnh tâm thần với sự xuất hiện của các ảo giác và ảo tưởng. Các ảo giác có thể khiến một người nhìn thấy những thứ không có ở đó, chạm được chúng, thậm chí là ngửi thấy chúng. Dạo ảo giác thường gặp nhất là ảo thính – nghe thấy những giọng nói. Những giọng nói này có thể phán xét về hành vi của người đó (“Anh đang ăn trưa.”) Có thể có nhiều hơn một giọng nói để tạo ra hẳn một cuộc đối thoại về người đó (“Cậu có để ý rằng ai cũng ghét anh ta không?” “Đó là tại vì anh ta chưa tắm.”) Đôi khi chúng tạo ra các mệnh lệnh ảo giác (“Chết đi.”) Đôi khi, những giọng nói rất thân thiện và khuyến khích người ta (“Anh là một con người tuyệt vời. Hãy tiếp tục cố gắng.”) Những ảo giác thân thiện là loại ảo giác ít khi biến đi nhất, điều này nói chung cũng tốt. Nói cho cùng, thì chúng tạo ra ảnh hưởng tích cực.

Một nhân tố khác của bện tâm thần là ảo tưởng. Chúng là những tư tưởng cố định không phù hợp với những tư tưởng đại chúng thông thường, như “Người ngoài hành tinh đã cấy chip điện tử vào não của tôi.” Các ảo tưởng được xây dựng một cách hoàn toàn chắc chắn, thậm chí còn chắc chắn hơn các tư tưởng phi ảo tưởng. Ví dụ như, hầu hết mọi người đều tự tin rằng cha mẹ của họ chính là cha mẹ của họ, nhưng nếu bạn hỏi họ liệu có chắc không, thì họ sẽ thú nhận rằng họ cũng không chắc lắm. Mặt khác, khi một bệnh nhân tâm thần phân liệt được hỏi rằng liệu anh ta có chắc rằng FBI sử dụng sóng radio để cấy các thông điệp vào đầu anh ta không, anh ta sẽ không có bất kỳ nghi ngờ nào. Cũng chẳng thể dùng bất kỳ bằng chứng nào để thuyết phục anh ta rằng không phải như thế.

Một ví dụ cho hiện tượng này đến từ John Nash, một nhà toán học đạt giải Nobel, người đã từng bị tâm thần phân liệt. Silvia Nasar, người đã viết về Nash trong cuốn sách của cô có tên là A Beautiful Mind, trích dẫn lại đoạn trao đổi giữa Nash và giáo sư Havard George Mackey:

“Sao anh có thể,” Macker bắt đầu nói, “sao anh có thể, một nhà toán học, một người đã cống hiến cho những bằng chứng lý trí và logic… sao anh có thể tin rằng những người ngoài hành tinh đã gửi thông điệp cho anh? Sao anh có thể tin rằng anh được người ngoài hành tinh thuê để cứu lấy trái đất? Sao anh có thể…”

Cuối cùng, Nash ngẩng lên nhìn chằm chằm không chớp mắt vào Mackey, ánh mắt lạnh lùng và vô tình như một con chim hay một con rắn. “Bởi vì,” Nash nói chậm với chất giọng miền Nam mềm mại, như thể đang tự nói với chính mình, “tôi hình thành ý tưởng về những thứ siêu nhiên y như cái cách mà tôi hình thành các ý tưởng về toán học vậy.”

Thực ra, những ý tưởng này đến từ đâu? Những kiến thức mà chúng ta dùng để trị liệu chứng tâm thần phân liệt cho chúng ta một manh mối. Những nhà trị liệu kê đơn thuốc gọi là chống tâm thần, những thuốc này giúp giảm các hoạt động bên trong mạch thần kinh dopamine ham muốn. Nhìn qua thì điều này thật kỳ cục. Động cơ của mạch thần kinh ham muốn thường dẫn tới sự hưng phấn, mong muốn, nhiệt tình, và động lực. Làm sao mà động cơ dư thừa lại dẫn đến tâm thần? Câu trả lời đến từ khái niệm sự nổi bật (salience) – một hiện tượng cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hiểu được nguồn gốc của sự sáng tạo.

MỐI QUAN HỆ GIỮA SỰ NỔI BẬT VÀ DOPAMINE

Sự nổi bật liên quan đến mức độ quan trọng, dễ nhìn thấy và dễ phát hiện của một thứ. Tính “không bình thường” là một loại nổi bật. Ví dụ, một anh hề đi trên đường sẽ nổi bật hơn – ít phù hợp với hoàn cảnh hơn – là một người đàn ông trong bộ trang phục công sở. Giá trị cũng là một loại nổi bật. Một cái va li giá $10,000 sẽ nổi bật hơn một cái ví giá $20. Những người khác nhau sẽ cảm thấy những thứ nổi bật khác nhau. Một hũ bơ đậu phộng sẽ nổi bật hơn trong mắt người bị dị ứng đậu phộng so với người không bị dị ứng. Nó cũng nổi bật hơn trong mắt một cô gái thích ăn sandwich bơ đậu phộng khi so sánh với một người thích ăn salad cá ngừ.

Hãy nghĩ về độ nổi bật của những thứ sau: một cửa hàng rau củ quả mà bạn đã nhìn thấy hàng trăm lần trước đây với một cửa hàng rau củ quả mới khai trương hôm qua, gương mặt của một người lạ và gương mặt của người mà bạn thầm thương trộm nhớ, một người cảnh sát đang đứng trên con đường bạn đi ngang qua và người cảnh sát sau khi bạn vừa rẽ trái phạm luật. Những thứ nổi bật là những thứ quan trọng đối với bạn, nếu chúng có khả năng ảnh hưởng đến sự hạnh phúc của bạn, dù tốt hay xấu. Những thứ nổi bật là những thứ kích thích dopamine ham muốn. Chúng phát ra tín hiệu, Tỉnh táo lên. Chú ý vào. Vui lên. Điều này là quan trọng đây này. Bạn ngồi ở bến xe buýt, liếc nhìn bài báo về một hiệp định thương mại Canada. Trừ phi những chi tiết của việc thương lượng này ảnh hưởng đến đời bạn, nếu không thì mạch thần kinh dopamine ham muốn trong trạng thái nghỉ ngơi. Rồi bất thình lình bạn lướt thấy cái tên của bạn cùng lớp ở trường trung học. Cô ấy liên quan đến việc thương thảo hiệp định này. Bùm! Nổi bật. Dopamine. Bạn đọc càng kỹ, sự hứng thú của bạn càng tăng, và bạn bất ngờ đọc thấy tên mình. Bạn có thể thử tưởng tượng điều này sẽ ảnh hưởng đến dopamine của bạn như thế nào.

MẠCH THẦN KINH NGẮN CỦA MỘT BỆNH NHÂN TÂM THẦN

Tuy nhiên, chuyện gì sẽ xảy ra nếu chức năng nhận diện sự nổi bật này của não bị trục trặc – nếu nó báo động inh ỏi ngay cả khi chẳng có gì thực sự quan trọng xảy đến cho bạn? Hãy tưởng tượng rằng bạn đang xem tin tức. Người phát thanh viên đang nói về một chương trình điệp viên của chính phủ, và đột nhiên mạch thần kinh nhận diện sự nổi bật réo lên inh ỏi không vì lý do gì cả. Lúc đó bạn có thể tin rằng câu chuyện trên bản tin này liên quan đến mình. Quá nhiều sự nổi bật, hay, bất kỳ sự nổi bật nào xuất hiện không đúng lúc, đều có thể tạo ra ảo giác. Những sự kiện kích thích có thể phát triển từ lờ mờ nhận ra đến trở nên quan trọng.

Một ảo giác thường thấy ở những người bị tâm thần phân liệt là họ cho rằng những người trên tivi đang nói chuyện trực tiếp với mình. Một ảo giác khác là họ tin mình là mục tiêu điều tra của NSA, FBI, KGB hay các Tổ chức Bí Mật. Một bệnh nhân kể rằng khi anh ta nhìn thấy bảng giao thông tín hiệu “ngừng lại”, và nghĩ rằng đó là tín hiệu mà mẹ anh ấy gửi cho anh để nói với anh hãy ngừng nhìn ngắm phụ nữ. Một bệnh nhân khác nhìn thấy chiếc xe màu đỏ đậu ngoài căn hộ của cô và ngày Valentine, và tin rằng đó là tín hiệu tình yêu từ bác sĩ trị liệu của cô. Ngay cả những người chưa từng bị tâm thần cũng có thể tìm cách gắn kết sự nổi bật và những thứ trông có vẻ không quan trọng với người khác, như mèo đen hay con số 13.

Có rất nhiều cách để người ta gắn sự nổi bật cho nhiều thứ khác nhau. Tuy nhiên, mọi người đều có một giới hạn cho việc này. Chúng ta phải phân loại một số thứ có độ nổi bật thấp, không quan trọng, để chúng ta có thể bỏ qua chúng, vì đơn giản là nếu chú ý đến tất cả mọi chi tiết trong thế giới chung quanh chúng ta thì thật là quá sức.

KHÓA DOPAMINE ĐỂ TRỊ BỆNH THẦN KINH

Những người bị tâm thần phân liệt kiểm soát các hoạt động của dopamine bằng cách uống thuốc khóa các thụ thể dopamine (hình 4). Các thụ thể là những phân tử bên ngoài tế bào não và đón bắt các phân tử chất dẫn truyền thần kinh (như dopamine, serotonin và endorphins). Các tế bào não có nhiều thụ thể khác nhau để đón bắt các chất dẫn truyền thần kinh khác nhau, và mỗi thứ này có tác động khác nhau lên tế bào. Một số thụ thể ru ngủ các tế bào não, đẩy chúng vào trạng thái yên tĩnh. Thay đổi hành vi tế bào là cách mà não xử lý thông tin. Tương tự như cách mà các mạch mở và tắt xử lý thông tin trên con chip máy tính.



Nếu một thụ thể bị khóa cứng lại, ví dụ như bằng thuốc trị bệnh tâm thần, thì sau đó các chất dẫn truyền thần kinh (trong trường hợp này là dopamine) không thể chạm vào nó, và nó không thể truyền tín hiệu đi. Cũng giống như nhét một miếng keo dính vào lỗ khóa vậy. Khóa dopamine thường không khiến cho dấu hiệu tâm thần phân liệt biến mất, nhưng nó giúp tránh các ảo giác và ảo tưởng. Không may là, thuốc trị tâm thần khóa hết dopamine trong não lại, và khóa luôn mạch thần kinh kiểm soát ở thùy trước, điều này có thể khiến một số khía cạnh của bệnh tình trở nên tệ hơn, như khó tập trung và khó lý giải được những khái niệm trừu tượng.

Các bác sĩ cố gắng tăng tối đa lợi ích và giảm tối thiểu mặt gây hại bằng cách cân đo đong đếm liều dùng. Họ muốn giảm hoạt động dopamine vượt mức trong mạch thần kinh nhận biết sự nổi bật mà không đè ép quá mức mạch thần kinh kiểm soát. Mục tiêu của thuốc là khóa được 60-80% lượng thụ thể dopamine. Thêm vào đó, khi cơn sốt dopamine xuất hiện, báo hiệu sự xuất hiện của một thứ quan trọng xung quanh, nếu các phân tử điều trị tâm thần này tránh đường trong một lúc để tín hiệu này được truyền đi thì thật tốt quá. Nếu bạn đang chơi game, cố đánh bại trùm cuối, hay đang nộp đơn xin việc, thì nếu mà có một chút hưng phấn để tạo ra động lực thúc đẩy mọi thứ cũng thật tốt quá.

Các loại thuốc trị tâm thần cũ không làm được điều này. Chúng dính chặt vào các thụ thể. Nếu có điều gì đó thú vị xảy ra và dopamine phọt lên, thì thật may mắn. Thuốc chốt chặt các thụ thể, khiến cho dopamine không thể vượt qua nổi, và điều này không hay ho chút nào. Bị cắt g8a3m cơn sốt dopamine tự nhiên khiến cho ta thấy thế giới này thật nhàm chán và chẳng còn lý do gì để thức dậy vào mỗi sáng. Những loại thuốc mới nới lỏng hơn nhiều. Một cơn sốt dopamine sẽ gạt bỏ mớ thuốc này khỏi các thụ thể, và để cho cảm giác thú vị thật đi xuyên qua.

UỐNG NƯỚC TỪ VÒI CỨU HỎA

Khi bị tâm thần phân liệt, não bộ tạo ra những mạch thần kinh ngắn, gắn tính nổi bật cho những thứ tầm thường – những thứ quen thuộc và thường bị ngó lơ. Một tên gọi khác của việc này là ức chế tiềm ẩn (low latent inhibition). Thông thường, tiềm ẩn dùng để chỉ những thứ bị giấu đi, như “tài năng âm nhạc tiềm ẩn” hay “nhu cầu tiềm ẩn đối với xe hơi bay”. Ý nghĩa của từ này trong ức chế tiềm ẩn thì hơi khác. Nó không phải là một thứ bị giấu đi, nó là thứ mà chúng ta giấu đi vì nó không quan trọng với chúng ta.

Chúng ta tự ức chế khả năng chú ý đến nhiều thứ không quan trọng để không phí thời gian mà chú ý đến chúng. Nếu chúng ta bị phân tâm về việc những cái cửa sổ dơ sạch thế nào khi chúng ta đi trên đường, chúng ta có thể sẽ bỏ qua bảng giao thông Cấm đi bộ ở ngã tư đường. Nếu chúng ta đánh đồng sự quan trọng của màu cà vạt của một người và biểu cảm trên mặt anh ta, chúng ta có thể thất bại trong việc nhận ra những thứ vô cùng quan trọng cho hạnh phúc tương lai. Nếu bạn sống kế bên trạm cứu hỏa, ngay cả tiếng còi báo động cũng sẽ bị ức chế sau khi mạch thần kinh dopamine của bạn nhân ra rằng chẳng có gì  xảy ra khi chúng réo ầm ĩ. Người khác đến nhà bạn sẽ hỏi, “Tiếng gì vậy?” và bạn sẽ trả lời “Tiếng gì cơ?”

Đôi khi môi trường xung quanh chúng ta quá đa dạng những thứ mới mẻ đến nỗi ức chế tiềm ẩn không thể chọn xem cái gì quan trọng nhất. Loại trải nghiệm này có thể có tính hưng phấn hoặc kinh hoàng tùy vào tình huống và tùy từng người. Nếu bạn đang ở một đất nước lạ, không có gì để ức chế, và điều này có thể dẫn đến niềm vui to lớn hoặc sự bối rối và mất tập trung – cú sốc văn hóa. Nhà văn kiêm phóng viên Adam Hochschild mô tả trải nghiệm này như sau: “Khi tôi đến một đất nước khác biệt với nước mình, tôi chú ý nhiều thứ hơn. Như thể tôi đã uống một liều thuốc thay đổi tâm trí cho phép tôi nhìn những thứ mà bình thường tôi sẽ bỏ qua. Tôi cảm thấy đầy sức sống.” Khi môi trường mới trở nên quen thuộc, chúng ta sẽ tự điều chỉnh và trở nên thông thạo dần. Chúng ta tách rời những thứ ảnh hưởng đến mình khỏi những thứ không ảnh hưởng, và ức chế tiềm ẩn quay trở lại, khiến chúng ta cảm thấy thoải mái và tự tin hơn trong môi trường mới. Chúng ta lại có thể tách rời thứ quan trọng ra khỏi thứ không quan trọng.

Nhưng sẽ ra sao nếu bộ não không thể tạo ra sự hiệu chỉnh này? Nếu một môi trường quen thuộc bỗng trở nên xa lạ? Vấn đề này không chỉ dẫn đến chứng tâm thần phân liệt. Một nhóm người bị mắc chứng này đã tạo ra một trang web có tên là Trung tâm khám phá và tài nguyên ức chế tiềm ẩn. Họ mô tả cảm giác này như thế này:

Khi ức chế tiềm ẩn mức độ thấp, người ta sẽ đối xử với các động cơ quen thuộc giống như với động cơ mới. Hãy tưởng tượng rằng khi bạn nhìn thấy thứ gì đó mới mẻ, bạn chú ý đến mọi chi tiết của nó. Tâm trí bạn đặt ra mọi câu hỏi về nó. “Nó là cái gì, nó có tác dụng gì, nó có ý nghĩa gì, xài nó như thế nào”, v.v.

Một khách ghé website này đã mô tả trải nghiệm của cô trong một nhận xét:

Tôi mất trí rồi! Có quá nhiều thông tin trong đầu tôi, và tôi ngủ rất ít. Tôi không thể nhìn bất kỳ thứ gì nữa! Tôi quá mệt mỏi khi phải quan sát! Tôi quá mệt mỏi khi phải nhìn mọi thứ! … Tôi muốn đi ngủ trong rừng sâu và không nhìn thấy thứ gì nữa, không đọc thứ gì nữa, vứt bỏ hết mọi công nghệ đi, không xem cái gì, không nghe cái gì nữa. Tôi không muốn thứ gì động đậy, tôi không muốn thứ gì di chuyển hay thay đổi cả. Tôi chỉ muốn ngủ mà không có những giấc mơ trả lời cho những vấn đề kéo tôi quay lại công việc ngay khi tôi thức dậy. Tôi quá mệt mỏi và không muốn suy nghĩ gì nữa!

Chúng ta thấy những trạng thái nhẹ hơn của chứng ức chế tiềm ẩn mức độ thấp trong việc sáng tạo nghệ thuật. Đây là một ví dụ trong bộ phim hoạt hình kinh điển, The House of Pooh Corner. Winnie-the-Pooh, một nhà thơ, ngâm một đoạn thơ về hổ Tigger - một cậu chàng huyên náo mới chuyển đến Khu Rừng Trăm Mẫu - cho người bạn nhỏ của cậu là Piglet. Piglet là một con vật nhút nhát, và nó đã mô tả Hổ Tigger to lớn thế nào. Pooh nghĩ về những điều mà Piglet đã nói, và viết chúng thành bài thơ.

Nhưng dù cân anh ta bằng kí lô,
bằng đồng xu, hay gram,
Anh ta luôn trông bự hơn,
bởi vì anh hay khoe khoang.

“Bài thơ đó,” cậu nói. “Piglet, cậu có thích nó không?”
“Thích hết, ngoại trừ đoạn đồng xu,” Piglet nói, “Tớ không nghĩ rằng nên có đồng xu ở đây.”
“Nó muốn đứng sau từ kí lô,” Pooh giải thích, “vì thế tớ để nó đứng sau. Đó là cách để viết thơ, cứ để mọi thứ đến.”

Bên trong bộ não chúng ta là sự hỗn loạn cần phải được thuần hóa bởi những phần lý trí hơn của bộ não, nhưng đó cũng là một kho báu. Dù bạn có cảm thấy từ “tiền xu” khiến bài thơ của Pooh hay ho hơn hay không, một trong những quy tắc cơ bản của việc sáng tạo nội dung là tắt đi trình kiểm duyệt bên trong bạn khi tạo ra bản nháp đầu tiên. Nếu bạn may mắn, mọi thứ phọt ra từ tiềm thức của bạn và sẽ hòa nhập với tiềm thức của độc giả, và câu chuyện của bạn sẽ trở nên sâu sắc.

Đây là một trích dẫn từ một bệnh nhân tâm thần phân liệt, người này đã miêu tả một xu hướng bệnh hoạn hơn của cụm từ “cứ để mọi thứ đến”.

Tôi có một cái răng TV, họ gọi nó như thế. Cái răng TV là thứ mà khi họ làm bạn ngạc nhiên, họ cài kim vao hộp sọ của bạn, và họ có thể nghe lén bạn hàng năm trời dù cho bạn biết hay không biết việc đó. Tôi không biết về việc đó. Họ có loại thiết bị ảo diệu và đắt tiền này. Họ nói với tôi rằng, ê, chúng tôi có thể kiểm tra đầu của bạn, uh, nếu vết sưng bầm tím và dòng điện hơi khác trên đỉnh da đầu của bạn, chúng tôi sẽ đảm bảo an sinh xã hội cho vết thương đó hoặc riêng vết thương đó. Nó giống như bệnh bại não.

Trong tình huống này, người nói không thể kềm chế được lời nói của mình. Khi suy nghĩ nào đó vừa xuất hiện trong đầu anh ta, chúng lập tức được chuyển thành từ vựng mà không cần phải suy nghĩ gì nhiều. Bình thường, chúng ta lựa chọn những điều mình sẽ nói ra. Chúng ta lựa chọn như vậy không chỉ để che giấu bớt những suy nghĩ không lô gic và không thể chấp nhận được, mà còn để hoàn thành một suy nghĩ trọn vẹn trước khi nghĩ về điều tiếp theo. Đọc kỹ câu trích dẫn trên thì bạn cũng có thể hiểu được ý chung chung của người nói, nhưng rất khó để hiểu.

Bởi vì suy nghĩ này nhanh chóng chiếm chỗ của suy nghĩ khác, và khả năng có hạn trong việc kềm chế suy nghĩ, cách thể hiện của người này cực kỳ mất trật tự. Một hình thức ít nghiệm trọng hơn của dạng suy nghĩ nhảy nhót lung tung này gọi là “đổi chủ đề liên tục” (tangentiality), người nói nhảy từ suy nghĩ này đến suy nghĩ khác, như theo một cách hợp lý. Ví dụ như, “Tôi rất trông chờ chuyến đi đến Ocean City. Ở đó họ có món margaritas ngon nhất. Tôi phải tìm chỗ đậu xe trưa nay. Bạn sẽ ăn trưa ở đâu?” Chúng ta thường nói chuyện kiểu này khi chúng ta cảm thấy hưng phấn. Dopamine ham muốn tăng vọt lên, và lấn át cách giao tiếp lô gic bình thường hơn của dopamine kiểm soát.

Trường hợp cực đoan của tình huống này là salad chữ (word salad), hình thức nghiêm trọng nhất của việc nói năng không kiểm soát. Trong trường hợp này, suy nghĩ trong đầu người nói mất trật tự tới mức chúng dường như không có bất kỳ ý nghĩa nào cả; ví dụ như, “Sáng nay bạn cảm thấy thế nào?” “Những cây viết chì bệnh viện và mực báo chăm cho cho mẹ quan trọng gần như là ở đó.”

 

Họ bán bưu thiếp ở trên giá treo
Họ tô màu nâu cho passport
Phòng làm đẹp đầy nhóc các thủy thủ
Gánh xiếc đang ở trong thành phố
- “Desolation Row”, Bob Dylan

Cũng như những người bị bệnh thần kinh, những con người đầy sáng tạo như nghệ thuật gia, nhà thơ, nhà khoa học, nhà toán học, thi thoảng cũng sẽ trải nghiệm hiện tượng các suy nghĩ của họ chạy một cách tự do. Để suy nghĩ sáng tạo, người ta phải buông bỏ việc diễn giải thế giới theo cách thông thường để nhìn ngắm mọi thứ theo một phương thức mới. Nói cách khác, họ phải phá vỡ các mô hình định kiến về thế giới thực. Nhưng mô hình là cái gì, và tại sao chúng ta lại tạo ra nó?

>>> (2)

0 nhận xét:

Đăng nhận xét