NHỮNG
CON KHỈ PHỤC TÙNG, NHỮNG GIÁN ĐIỆP KHIÊM TỐN
Khi những nhà nghiên cứu ở Viện trị liệu tâm lý bang
Illinois tiêm thuốc kích thích dopamine và một con khỉ đuôi dài, họ quan sát thấy
các hành vi phục tùng tăng lên, như bặm môi, nhăn mặt (nụ cười phiên bản khỉ),
và chìa tay ra cho một con khỉ khác cắn nhẹ. Ngoài mặt thì hành vi này không hề
hợp lý. Tại sao dopamine, loại chất dẫn truyền thần kinh của sự thống trị, lại
kích thích các hành vi phục tùng? Có phải là hơi mâu thuẫn rồi không? Không hề
nha. Trong vòng tròn kiểm soát, dopamine thúc đẩy việc làm chủ môi trường xung
quanh, chứ không phải là những người trong môi trường đó. Dopamine muốn nhiều
hơn, và nó không quan tâm bằng cách nào có được những thứ nó muốn. Đạo đức hay
phi đạo đức, thống trị hay phục tùng, đều xuất phát từ chính dopamine, miễn là
điều đó dẫn tới một tương lai tốt đẹp hơn là được.
Hãy xem xét một gián điệp đang đóng đô ở một đất nước
hung hăng, cố gắng tiếp cận một tòa nhà chính phủ. Khi đang rình mò ở hẻm sau,
thì anh ta gặp nhân viên coi sóc tòa nhà. Tay gián điệp đối xử với người này
như người cùng đẳng cấp với anh ta, hoặc thậm chí là như sếp anh ta, để có được
sự hợp tác của anh ta – hành vi phục tùng dùng để làm chủ môi trường xung quanh
để đạt được mục đích.
Hành vi phục tùng cũng có thể mang hàm ý tiêu cực – ví
dụ như, để cho người khác “leo lên đầu bạn”, nhưng giới giạn của hành vi phục
tùng rộng hơn điều này rất nhiều. Trong xã hội hiện đại, hành vi phục tùng thường
là dấu hiệu của địa vị xã hội được nâng cao – hãy nghĩ về việc tuân thủ nghiêm
ngặt các quy tắc cư xử, tập trung chú ý các quy tắc xã hội, và, khi đối thoại,
tôn trọng người khác là một phần và biểu hiện của hành vi mà chúng ta gọi là
“thượng lưu”. Tên gọi thông thường cho những hành vi này là “courtesy” (nhã nhặn),
một từ xuất phát từ “court” (tòa án), vì nó là hành vi xuất phát từ giới quý tộc.
Ngược lại, hành vi thống trị có tính trái ngược với nhã nhặn, có lẽ có nguồn gốc
từ sự bất an cá nhân hoặc sự giáo dục không đầy đủ.
Kế hoạch, sự bền bỉ, và sức mạnh ý chí thông qua nỗ lực
cá nhân hoặc làm việc với người khác: đây là những cách mà dopamine trong mạch
thần kinh kiểm soát cho phép chúng ta làm chủ môi trường xung quanh mình. Nhưng
chúng ta sẽ hành xử - và cảm thấy như thế nào – khi hệ thống mất cân bằng? Cụ
thể là, điều gì sẽ xảy ra khi có quá nhiều hay quá ít dopamine kiểm soát?
THỬ
THÁCH NGOÀI VŨ TRỤ – TRANH ĐẤU TRONG CHÍNH MÌNH
Tạp
chí GQ: Cảm giác của anh như thế nào khi ở trên mặt trăng?
Buzz Aldrin: Nghe này, chúng tôi không biết mình cảm thấy như thế nào.
Chúng tôi không có cảm giác gì cả.
Tạp
chí GQ: Cảm xúc của anh khi anh bước trên bề mặt của mặt trăng
thì sao?
Buzz Aldrin: Những phi công chiến đấu thì không có cảm xúc.
Tạp
chí GQ: Nhưng anh là con người mà!
Buzz Aldrin: Chúng tôi có băng đá trong máu của mình.
Tạp
chí GQ: À, vậy thì anh có bao giờ nói rằng, “"Tôi sẽ dùng
[mô-đun mặt trăng mỏng manh] đó, và hạ cánh trên mặt trăng"? Điều đó có
bao giờ khiến anh cảm thấy kinh ngạc không?
Buzz Aldrin: Tôi đã hiểu cấu tạo của nó. Nó có thiết bị
hạ cánh. Nó có các thanh chống để nén. Nó có các đầu dò bị treo. Đó là một kỳ
quan của kỹ thuật.
- Phỏng vấn với
Buzz Aldrin
Thay vì công nhận sự khen ngợi của những người ái mộ
cho việc đi bộ trên mặt trăng của mình, Đại tá Buzz Aldrin, Tiến sĩ, đã nói với
họ rằng, “Đó là một việc chúng tôi đã làm. Giờ thì chúng tôi nên bắt đầu làm thứ
khác,” rõ ràng việc này không hề làm anh ấy cảm thấy hài lòng hơn việc sơn một
cái hàng rào. Ham muốn của anh không phải là tắm mình trong vinh quang mà tìm
kiếm “thứ gì đó khác” – một thử thách lớn tiếp theo khiến anh thích thú. Nhu cầu
vĩnh cửu của việc xác định mục tiêu và tính toán cách thức để đạt được nó là một
yếu tố quan trọng nhất trong thành công mang tính lịch sử của anh. Nhưng có nhiều
dopamine chạy tới chạy lui trong mạch thần kinh kiểm soát như vậy không phải là
một điều dễ chịu. Nó đóng một vai trò quan trọng trong chứng khó khăn hậu-mặt
trăng bao gồm trầm cảm, nghiện rượu, ba lần ly dị, xung động tự tử, và nhập viện
điều trị tâm lý, mà anh đã mô tả trong cuốn tự truyện thẳng thắn của mình: Sự
Hoang Tàn Tráng Lệ: Chuyến hành trình dài từ Mặt trăng về nhà.
Cũng như dopamine ham muốn đã tạo điều kiện cho việc
nghiện ma túy – theo đuổi cơn phê và nhận được càng lúc càng ít dopamine, nhiều
người có quá nhiều dopamine kiểm soát đến nỗi họ bị nghiện các thành tựu, và họ
không thể trải nghiệm được hạnh phúc đến từ N&L. Hãy nghĩ về những người
làm việc không ngừng nghỉ để đạt được mục tiêu, mà không bao giờ chịu dừng lại
để tận hưởng trái ngọt của các thành tựu họ đạt được. Họ thậm chí còn không
khoe khoang về bản thân. Họ đạt được cái gì đó, sau đó tiếp tục tìm kiếm thứ
khác. Một người phụ nữ đã mô tả việc nắm giữ vị trí lãnh đạo ở một chi nhánh của
một công ty đang hỗn loạn. Cô ấy trải qua hàng năm trời với những giờ làm việc
dài và đấu tranh khó khăn để có thể khiến mọi thứ vận hành trơn tru, và khi điều
đó xảy ra, cô ấy lập tức cảm thấy chán. Trong vài tháng, cô ấy thử tận hưởng
môi trường mới đầy thư giãn mà cô đã tạo ra, nhưng cô không chịu đựng nổi, và
cô yêu cầu được chuyển đến một phòng ban nào đó vẫn còn là một mớ hỗn độn.
Những người như thế này chính là triển lãm của hậu quả
đến sự mất cân bằng giữa dopamine tập trung vào tương lai và các chất dẫn truyền
thần kinh N&L tập trung vào hiện tại. Họ chạy trốn các trải nghiệm cảm giác
và cảm xúc ở hiện tại. Đối với họ, cuộc sống của họ chính là tương lai, là sự cải
thiện, sự nâng cấp. Bất chấp họ có giàu có hay nổi tiếng như thế nào từ những nỗ
lực đó, họ thường không hạnh phúc. Họ có làm nhiều như thế nào thì cũng không đủ.
Gia huy của James Bond - điệp viên bí ẩn, tháo vát, làm việc không ngừng nghỉ
và đôi khi tàn nhẫn, có in câu châm ngôn Orbit
Non Sufficit – Thế giới này không đủ.
Đại tá Aldrin đã đối mặt với vấn đề này theo phương thức
khủng khiếp hơn bất kỳ con người nào từng phải đối diện: Tôi đã bước đi trên mặt trăng rồi. Giờ thì tôi có thể làm gì để làm được
hơn thế?
DOPAMINE
GIẢI THÍCH CHO BÍ ẨN CỦA CHỨNG TĂNG ĐỘNG (ADHD)
Còn về những người ở đầu bên kia của quang phổ - những
người có lượng dopamine trong mạch thần kinh kiểm soát rất thấp? Khó khăn trong
việc kiểm soát bản thân của họ thể hiện ở sự bốc đồng và khó tập trung vào những
nhiệm vụ phức tạp. Vấn đề này có thể dẫn đến kết quả quen thuộc: chứng rối loạn
tăng động thiếu tập trung (attention deficit hyperactivity disorder). Thiếu hụt
sự tập trung và sự kiểm soát các kích thích có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đối với
cuộc đời họ, và nó gây khó khăn cho họ. Đôi khi họ không chú ý vào các chi tiết,
theo theo dõi các nhiệm vụ. Họ có thể bắt đầu với việc trả tiền hóa đơn, rồi
chuyển sang giặt quần áo, rồi đi thay bóng đèn, rồi ngồi xuống và xem ti vi với
mọi thứ bày bừa khắp mọi nơi. Khi nói chuyện, họ bị phân tâm một cách dễ dàng,
và họ không lắng nghe xem người ta nói gì với họ. Đôi khi họ không có khái niệm
thời gian, trễ hẹn, đôi khi họ làm mất đồ, như chìa khóa xe, điện thoại, hay thậm
chí là passport.
ADHD thường thấy nhất ở trẻ em, với lý do chính đáng.
Phần thùy trước, nơi làm việc của dopamine kiểm soát, được phát triển sau cùng,
và không hoàn toàn liên kết với phần còn lại của não cho đến khi người ta vượt
qua giai đoạn dậy thì và trở thành người lớn. Nhiệm vụ của mạch thần kinh kiểm
soát này là kiểm soát mạch thần kinh ham muốn – đây là vấn đề kiểm soát kích động
liên quan đến ADHD. Khi dopamine kiểm soát còn yếu, người ta hay chạy theo những
thứ mà người ta muốn mà ít khi nghĩ tới những hậu quả lâu dài. Những đứa trẻ có
chứng ADHD thường chộp lấy đồ chơi rồi cắt vụn chúng ta. Những người lớn mắc chứng
ADHD hay mua sắm bốc đồng và ngắt lời người khác.
Thuốc trị liệu phổ biến nhất cho chứng ADHD là Ritalin
và amphetamine, thuốc kích thích thúc đẩy sản sinh dopamine trong não. Khi những
người bị ADHD dùng những loại thuốc này để chữa trị, mức độ dung nạp sẽ không lờn
dần như những người dùng thuốc để giảm cân, phê pha, hay tăng cường hiệu suất
làm việc. Tuy nhiên, thuốc kích thích thì gây nghiện. FDA (Cục quản lý Thực phẩm
và Dược phẩm Hoa Kỳ) đã xếp chúng vào cùng phân loại với các thuốc opioids, như
morphine và OxyCotin. Những thuốc này được cho là vô cùng nguy hiểm khi lạm dụng,
và các bác sĩ chỉ được kê đơn chúng trong điều kiện hạn chế nghiêm ngặt nhất.
Những người sống với chứng ADHD sẽ gặp rủi ro trong
trong việc nghiện ngập, đặc biệt với thanh thiếu niên, vì phần thùy trước kém
phát triển của họ. Những năm trước, khi người ta có ít hiểu biết về căn bệnh
này, các bác sĩ và phụ huynh thường miễn cưỡng khi cho những đứa trẻ mỏng manh
này dùng các thuốc gây nghiện như Ritalin và amphetamine. Nghe có vẻ hợp lý: đừng
đưa chất gây nghiện cho những người vốn đã có nguy cơ nghiện ngập cao. Nhưng thử
nghiệm nghiêm ngặt cho thấy rõ ràng rằng thanh thiếu niên được điều trị bằng
thuốc kích thích ít có nguy cơ bị nghiện hơn. Thực tế, những người uống thuốc ở
độ tuổi nhỏ nhất và uống lượng thuốc nhiều nhất thì lại có ít nguy cơ hơn cả
trong vấn đề với các loại thuốc bất hợp pháp. Đây là lý do: nếu bạn khiến cho mạch
thần kinh dopamine kiểm soát trở nên mạnh mẽ, thì bạn có khả năng dễ dàng tạo
ra những quyết định thông thái hơn. Mặt khác, nếu người hạn chế các trị liệu hiểu
quả, thì người ta không chữa trị được sự yếu ớt của mạch thần kinh kiểm soát. Mạch
thần kinh mong muốn sẽ không bị kiểm soát, điều này khiến cho các hành vi có
nguy cơ cao, tìm kiếm khoái cảm được tăng cường.
NGUY
HIỂM BẤT NGỜ CỦA CÁC BỆNH NHÂN ADHD
Nghiện ma túy không phải là mối nguy hiểm duy nhất đối
với trẻ em. Trẻ mắc chứng ADHD khó mà chiết xuất được những nguồn lực giá trị từ
môi trường xung quanh – điển hình là điểm số tốt – khi nó không thể tập trung
hay kiểm soát được các kích động của mình. Nhưng điểm thấp chỉ là bước khởi đầu.
Thanh niên mắc chứng ADHD gặp nhiều khó khăn trong chuyện kết bạn. Ai mà muốn ở
bên cạnh người thường xuyên ngắt lời họ, chộp hết thứ này đến thứ khác, và chẳng
chịu xếp hàng đợi đến lượt? Họ thường xuyên phải đọc đi đọc lại bài tập về nhà
trước khi hiểu được các tài liệu này. Điều này là kết quả của tự phân tâm liên
tục. Phải bỏ ra quá nhiều thời gian để làm bài tập khiến cho họ không còn thời
gian cho các hoạt động khác, như thể thao hay các câu lạc bộ. Ít bạn, điểm thấp,
và ít có nguồn vui lành mạnh, trẻ em mắc chứng ADHD không được chữa trị sẽ dễ bị
cuốn theo những nguồn vui không lành mạnh khác. Ngoài ma túy, chúng còn gặp vấn
đề với hành vi tình dục sớm, chứng cuồng ăn, đặc biệt là những “đồ ăn vui miệng”
có nồng độ muối, mỡ và đường cao.
Một nghiên cứu lớn bao gồm 700,000 trẻ em và người lớn,
bao gồm 48,000 người mắc chứng ADHD, đã phát hiện ra rằng, trẻ em bị chứng ADHD
dễ bị béo phì hơn 40%, người lớn thì 70% dễ bị béo phì hơn người bình thường. Với
700,000 người tham gia, với dữ liệu từ các nền văn hóa trên khắp thế giới,
nghiên cứu này không chỉ khổng lồ về mặt số lượng hơn bất kỳ điều tra nào theo
dạng này, mà thông tin còn vô cùng đa dạng, cho phép các nhà khoa học so sánh
các kết quả từ các nước khác nhau – có những chế độ ăn uống và văn hóa ăn uống
khác nhau. Tuy nhiên, dù cho có sự khác biệt trong chế độ ăn uống, ví dụ như ở
Qatar hay Đài Loan hay Phần Lan, thì kết quả vẫn giống nhau. Quốc tịch của người
ta không ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa ADHD và chứng béo phì. Và cũng không có
khác biệt giữa đàn ông và phụ nữ.
Nhưng ngoài các điểm mạnh, thì nghiên cứu này vẫn có
các điểm yếu. Việc chúng ta phát hiện ra rằng người bị ADHD thường hay bị béo
phì không có nghĩa là ADHD gây ra chứng béo phì. Nếu nó là chiều ngược lại thì
sao? Nếu bằng cách nào đó chứng béo phì ảnh hưởng đến não khiến cho chúng ta bị
ADHD thì sao? Một cách nói mang tính khoa học hoa mỹ để mô tả tình trạng này là
liên quan với nhau chưa chắc là nguyên
nhân – kết quả của nhau. Chỉ vì hai thứ được phát hiện cùng nhau không nhất
thiết có nghĩa là thứ này tạo ra thứ kia.
Chúng ta sẽ có nhiều tự tin hơn để nói rằng ADHD dẫn đến
béo phì nếu chúng ta có thể cho thấy rằng người ta có triệu chứng ADHD trước khi người ta béo phì. Vì thế, các
nhà nghiên cứu từ đại học Chicago và Pittsburgh đã đánh giá gần 2,500 trẻ em
gái để tìm ra mối liên quan giữa cân nặng không lành mạnh và vấn đề về kích động.
Trưởng ban nghiên cứu đã nói rằng, “Trẻ em thường xuyên được xem các quảng cáo
thức ăn, tiếp xúc với máy bán hàng tự động, etc. vì thế chúng ta có thể dễ dàng
hiểu được tại sao một đứa trẻ kém kềm chế sẽ gặp khó khăn trong việc chống lại
những cám dỗ ăn uống này.”
Kết quả như dự đoán. Những bé gái gặp vấn đề với sự
kích động và khó khăn trong việc lên kế hoạch tăng hơn 5kg trong sáu năm tiếp
theo. Các nhà khoa học báo cáo rằng một lượng lớn cân nặng trong số này đến từ
sự ăn uống quá độ - sự bùng nổ mạnh mẽ của việc không thể tự kiểm soát.
Với ly do tương tự, những đứa trẻ thừa cân cũng có nhiều
nguy cơ bị xe đụng khi băng qua đường hơn. Không phải vì chúng đi chậm, mà vì
chúng bị kích động. Các nhà nghiên cứu ở Đại học Iowa đã thu nhập thông tin từ
240 đứa trẻ tuổi từ 7 đến 8, yêu cầu chúng băng qua những con đường đông đúc để
đo đếm xem chúng sẽ chờ đợi không bao lâu và chúng thường bị xe tông như thế
nào.
Tuy là những người thừa cân thi thoảng đi chậm hơn,
nhưng trong thí nghiệm này cân nặng không có tác dụng gì trong việc một đứa trẻ
đi nhanh chậm như thế nào khi băng qua đường. Nhưng có một mối liên hệ trực tiếp
giữa sự thừa cân một đứa trẻ và tốc độc của chúng khi tham gia giao thông. Những
đứa trẻ ít thừa cân hơn thì chờ đợi lâu hơn những bé thừa cân. Những đứa bé thừa
cân cũng có ít khoảng cách giữa chúng và chiếc xe gần chúng – nghĩa là, chúng để
cho những chiếc xe tới gần chúng hơn. Không ngạc nhiên vì sao chúng lại bị đụng
trúng nhiều hơn.
Cần phải nhớ rằng sinh học không phải số phận. Những
người có hệ thống dopamine kiểm soát ở 2 thái cực nhiều và ít này hoàn toàn có
thể thay đổi. Những người mắc chứng ADHD có thể cải thiện nhanh chóng bằng thuốc,
trị liệu tâm lý, và đôi khi chỉ cần thời gian. Đại tá Aldrin, người gặp một vấn
đề khác, cuối cùng cũng tìm ra những cách để khai thác cường độ sáng tạo của
anh. Từ khi trở về từ mặt trăng, anh đã viết và hợp tác viết nên một tá sách, sản
xuất ra game chiến lược trên máy tính, và đều xuất một phương pháp du hành vũ
trụ mang tính cách mạng – có thể giúp cho sứ mệnh đưa phi hành đoàn lên sao Hỏa
trở nên khả thi hơn. Anh cũng dành thời gian để xuất hiện trên nhiều chương
trình tivi, bao gồm Dancing with the
Stars, The Price is Right, Top Chef, và The
Big Bang Theory.
HÓA
HỌC CỦA LỪA GẠT
Tôi
biết bản chất cao quý của bạn căm ghét sự phản bội và dối lừa. Nhưng chiến thẳng
quả thật là một giải thưởng đầy vinh quang! – Sophocles, Philoctetes
Tôi
thích chiến thắng, nhưng, hơn tất cả mọi thứ, tôi không thể chịu được suy nghĩ
thua cuộc. Vì đối với tôi, thua cuộc nghĩa là chết. – Lance Armstrong
Trong
năm 1999, sau khi sống sót trong trận chiến với ung thư giai đoạn cuối, Lance
Armstrong thắng giải đua xe đạp nước Pháp lần đầu tiên. Một phóng viên tời New
York Times đã mô tả anh theo cách mà những
năm sau trở thành điển hình của anh: “một người đàn ông với ý chí và sự tập
trung mạnh mẽ.” – người mà “thống trị giải đua.” Anh thẳng liên tiếp bảy giải
đua Tour de France, thống trị không những trong giải đua nổi tiếng đó, mà còn cả
giới thể thao.
Armstrong
là một huyền thoại vì quyết tâm của anh ấy. Anh thích lái xe ngược chiều gió vì
nhưng vậy khó khăn hơn, và do đó cho anh ấy nhiều cơ hội để tồn tại lâu hơn đối
thủ. Tác giả Juliet Macur đã mô tả quyết tâm của Armstrong với câu chuyện sau:
“[Một cái cây] đã từng nằm ở phía bên kia nhà [của anh], cách 50 bộ về phía
tây. Armstrong muốn trồng nó ở trước nhà. Việc trồng cây tốn $200,000. Các bạn
của anh nói đùa rằng, Armstrong – người theo thuyết bất khả tri*, đã thiết kế một
dự án để chứng minh rằng anh không cần Chúa Trời để di chuyển thiên đường và
trái đất.”(thuyết bất khả tri: những người nghi ngờ sự tồn tại của Chúa hay bất kỳ vị
thần nào khác)
“Tôi
nghĩ rằng tôi sẽ phát điên nếu đến năm 35 hay 40 tuổi mà không có bất kỳ cuộc
thi đấu nào trong đời mình,” Armstrong nói.
Trong
năm 2012, vận động viên đua xe đạp vô địch thế giới đã bị tước hết bảy huy
chương trong giải Tour de France khi người ta phát hiện ra anh đã xài thuốc giúp
tăng cường hiệu suất hoạt động. Tại sao người vận động viên huyền thoại này lại
gian lận, đây là người đã có ý chí sắt đá và không bao giờ từ bỏ, ngay cả khi đối
mặt với ung thư? Câu trả lời kì lạ là, có thể anh đã gian lận vì anh đã quá
thành công.
Dopamine không được trang bị nhận thức. Thay vào đó,
nó là thứ gian xảo được nuôi dưỡng bởi ham muốn. Khi nó tăng lên, nó đè ép các
cảm giác tội lỗi – những cảm giác N&L. Nó là nguồn cảm hứng cho những nỗ lực
đáng khâm phục, nhưng cũng là nguồn gốc của sự giả dối và thậm chí là bạo lực
khi theo đuổi thứ nó muốn.
Dopamine theo đuổi nhiều
hơn (more), chứ không phải là đạo đức
(morality). Đối với dopamine, cưỡng ép và lừa dối chỉ là những công cụ.
Các nhà nghiên cứu người Israel đã tạo ra một thí nghiệm
giúp họ hiểu hơn về việc tạo sao người ta lại gian lận. Họ thiết kế ra một số
trò chơi mà người chơi này có thể chơi với một người chơi khác. Trò đầu tiên là
trò chơi suy đoán trong đó những người chơi thi nhau xem ai có thể đoán xem những
hình ảnh nào sẽ xuất hiện trên màn hình máy vi tính. Trong trò này, người ta
không thể gian lận được. Trò thứ hai thì khác: người chơi đầu tiên ném ra một cặp
xí ngầu, và thông báo kết quả cho người chơi thứ hai. Điểm xí ngầu càng cao,
thì người chơi đầu tiên càng có nhiều tiền, đối thủ của họ càng có ít tiền.
Trong trò này thì người ta không chỉ có thể gian lận, mà còn dễ dàng gian lận.
Người chơi thứ hai không thể nhìn thấy cục xí ngầu, vì thế người chơi đầu tiên
có thể thông báo bất kỳ số điểm nào mà người đó muốn. Người thắng và thua trong
trò chơi đầu tiên lần lượt sẽ tung xí ngầu và thông báo theo thứ tự.
Bởi vì viên xí ngầu đã được thiết kế riêng, nên nếu mọi
người thành thực với nhau, thì điểm trung bình sẽ tầm bảy điểm. Những người
thua trong trò chơi đầu tiên thường thông báo kết quả đổ xí ngầu tầm sáu điểm
trong trò thứ hai, tương thích với tính ngẫu nhiên. Mặt khác, những người thắng
ở trò chơi thứ nhất, thông báo điểm số ở mức chín điểm. Các phân tích thống kê
tiết lộ rằng đó là một số điểm trung bình cực kỳ khó có được theo tính ngẫu
nhiên. Khả năng tới 99% là những người thắng ở trò chơi đầu tiên đã gian lận
trong trò thứ hai.
Bước tiếp theo của thí nghiệm, các nhà nghiên cứu thay
đổi một số chi tiết. Thay vì cạnh tranh nhau, thì trò chơi đầu tiên được đổi
thành chơi xổ số - và thay đổi này tạo ra một kết quả vô cùng khác biệt. Những
người chơi đã thắng xổ số không hề gian lận trong trò thứ hai. Trên thực tế, họ
còn có vẻ như đã báo điểm số của mình thấp đi, dẫn đến việc đối thủ của họ cũng
có thể có được niềm vui chiến thắng.
Các nhà khoa học không chắc rằng nên giải thích kết quả
này như thế nào. Họ nghĩ rằng có thể người ta thắng khi tranh đấu, sẽ ngược lại
với khi người ta thắng đơn thuần vì may mắn, khiến họ phát triển một cảm giác về
quyền lợi cho phép họ bào chữa cho sự gian lận của mình. Nhưng khi nghĩ về vai
trò của dopamine trong việc thúc đẩy chúng ta làm chủ môi trường xung quanh,
chúng ta có thể tìm ra cách giải thích tốt hơn.
Thắng khi thi đấu, cũng giống như ăn và tình dục, là một
điều cần thiết để đạt được thành công về mặt tiến hóa. Thực tế, chính chiến thắng
khi tranh đấu giúp chúng ta tiếp cận với thức ăn và các bạn tình tiềm năng. Kết
quả là, không có gì đáng ngạc nhiên khi việc thắng một cuộc thi đấu tạo ra
dopamine. Nó cho chúng ta một cơn khoái cảm khi chúng ta đánh quả bóng tennis
ra qua lưới, đạt điểm tốt trong bài kiểm tra, hay nhận được lời khen ngợi từ sếp.
Sự ngập tràn dopamine khiến chúng ta cảm thấy tốt đẹp, nhưng nó khác với khoái
cảm đến từ N&L – khi sự thỏa mãn ngập tràn. Và điểm khác biệt là: sự ngập
tràn dopamine được tạo ra bằng chiến thắng khiến chúng ta muốn thắng nhiều hơn.
CHIẾN
THẮNG ĐỂ TRÁNH THẤT BẠI
Thắng giải Tour de France là không đủ. Thắng hai lần
hay thậm chí là bảy lần cũng không đủ. Thắng thôi thì không bao giờ là đủ. Chẳng có bất kỳ thứ gì là đủ với
dopamine. Việc theo đuổi mới là thứ quan trọng, và chiến thắng, nhưng không có
vạch đích, và không bao giờ có vạch đích. Chiến thắng cũng giống như ma túy, có
thể gây nghiện.
Nhưng cơn sốt khoái cảm chẳng bao giờ thỏa mãn này chỉ
là một vế của phương trình. Vế còn lại là sự sụp đổ dopamine khiến cho người ta
cảm thấy vô cùng tệ hại.
Mỗi năm, các nhân viên y tế ở Washington, DC đểu điền
vào một phiếu khảo sát để bầu chọn cho những bác sĩ giỏi nhất trong nhiều lĩnh
vực y học. Kết quả thường được công bố trong tờ tạp chí Washingtonian ở số báo nổi
tiếng Bác sĩ Giỏi nhất (Top Doc). Đây là số báo bán chạy nhất của họ. Được nêu
tên ở số báo Bác sĩ Giỏi nhất là một vinh dự, và nó khiến người ta cảm thấy vui
vẻ. Đồng nghiệp của bạn sẽ thấy tên bạn, gia đình và bạn bè cũng thấy, mọi người
đều thấy. Tuy nhiên, sau khi hào quang của sự thỏa mãn tàn đi, một câu hỏi
không thoải mái lắm hiện ra: Liệu năm sau
tôi có làm được như vậy không? Những người đang chúc mừng tôi – họ sẽ nghĩ gì nếu
tên tôi ra khỏi danh sách này? Không ai sẽ được nêu tên trong danh sách này
vĩnh viễn; làm sao mà tôi có thể chịu được sự nhục nhã khi bị xóa tên?
Không ai thích thua cuộc, nhưng thắng cuộc còn tệ hơn gấp mười lần. Khi bạn mở
tờ tạp chí ra và trông chờ tên mình xuất hiện như nó không ở đó, bạn sẽ có một
cảm giác không vui quặn nhẹ trong bao tử.
Những người chiến thắng thường gian lận vì cùng một lý
do với những con nghiện nghiện thuốc. Cảm giác sốt dopamine thật tuyệt, và mất
đi cảm giác này thì thật tệ. Họ đều biết rằng hành vi của mình có khả năng hủy
hoại đời mình, nhưng mạch thần kinh ham muốn không quan tâm đến điều đó. Nó
luôn muốn nhiều hơn. Nhiều thuốc hơn, nhiều chiến thắng hơn. Nhưng chiến thắng
thực sự không đến từ việc gian lận. Nếu bạn phạm lỗi, người ta sẽ tha thứ cho bạn,
còn nếu bạn cư xử không thành thực, người ta sẽ nhớ về sự không thành thực của
bạn trong thời gian dài. Đó là lý do tại sao mạch thần kinh kiểm soát lại quan
trọng như vậy. Nó là lý trí. Nó có thể tạo ra những quyết định lạnh lùng và hợp
lý, thứ sẽ tối đa hóa lợi nhuận cho bạn, không chỉ trong hôm nay mà còn trong
tương lai xa hơn. Nhưng, đối với nhiều hơn, gian lận khó là chống lại, nhất là
khi người ta bị thôi thúc quá mức để đuổi theo cơn say chiến thắng. Ít nhất,
trong thời gian ngắn, việc gian lận có hiệu quả.
Hoặc, bạn có thể đơn giản là đấm ai đó.
BẠO
LỰC NÓNG VÀ LẠNH
Bác
sĩ Jones đứng trước cửa thang máy, sợ hãi về việc phỏng vấn bệnh nhân mà cô sắp
phải làm. Đã 1 giờ sáng, và cô được gọi xuống phòng cấp cứu để đánh giá một bệnh
nhân – anh ta nói rằng anh ta sắp giết ai đó. Cô ấy phải tìm ra câu trả lời.
Khi một bệnh nhân tâm thần đang được theo dõi đang đe dọa giết người, nạn nhân
chết, tên sát nhân phải bị bắt – và người bác sĩ đã thả tự do cho tên sát nhân
sẽ phải chịu trách nhiệm.
Người
bệnh nhân, luộm nhuộm và hôi hám, nhìn bác sĩ Jones không chớp mắt. Anh ta đã từng
tới đây. Anh ta đã vô cùng bất hợp tác và chống đối. Trong một lần ở lại đây,
anh ta đã bị buộc tội đã động chạm và một phụ nữ bị tâm thần phân liệt. Anh ta
nói rằng mình bị dị ứng với tất cả các loại thuốc trị bệnh trừ Xanax.
Trừ
việc dùng cocaine, anh ta dường như không có vấn đề gì về mặt tâm lý, nhưng hôm
nay anh ta đòi được nhập viện. Anh ta đề cập đến những lần bị bắt giữ và ba năm
ăn cơm tù. Nếu anh ta không được đưa lên “phòng bệnh”, anh ta sẽ thực hiện kế
hoạch của mình và giết ai đó.
“Cứ
cho là có ai đó đã làm gì tôi đi, okay?” Anh ta nói.
Hoang
tưởng là một trong những bệnh tâm lý có thể trị được liên quan đến những người
đe dọa bạo lực. Hoang tưởng khiến họ cảm thấy sợ hãi, và đôi khi họ kết luận rằng
cách duy nhất để bảo vệ chính mình là giết những người mà họ tưởng tượng rằng
đang chống lại họ. Dùng thuốc chống tâm thần, thì sự hoang tưởng này cùng với mối
nguy hiểm bạo lực sẽ được chữa trị trong tầm một tuần.
Nhưng
bệnh nhân đang ngồi đối diện bác sĩ Jones, mắt dán chặt vào cô, thì không hề bị
tâm thần.
Bác
sĩ Jones gặp phải một mâu thuẫn. Cô biết rằng bệnh nhân không nên được nhập viện,
và nếu cho anh ta nhập viện thì sẽ khiến cho các bệnh nhân khác gặp nguy hiểm.
Mặt khác, anh ta có một quá khứ đầy bạo lực. Cô cho anh nhập viện, cảm thấy lo
lắng cho an toàn của người nạn nhân mà anh ta từ chối nêu tên, nhưng lại cảm thấy
tội lỗi vì việc này có khả năng gây nguy hại đến các bệnh nhân khác ở đây.
Bạo
lực đôi khi là kết quả của chứng rối loạn chức năng và bệnh tật. Nhưng trong hầu
hết các trường hợp, bạo lực là một lựa chọn – một phương thức cưỡng chế người
khác có tính toán để có được thứ bạn muốn.
Cưỡng chế, thường được mô tả như một loại bạo lực, là
công cụ tối thượng của sự thống trị, nhưng liệu nó có liên quan đến dopamine?
Bạo lực có hai hình thức: bạo lực có kế hoạch được tạo
ra vì một mục đích nào đó và bạo lực tự phát do cảm xúc mạnh gây ra. Bạo lực có
mục đích, được thủ phạm tạo ra để có được thứ hắn muốn, có thể tẻ nhạt tầm thường
như việc cướp đồ của ai đó trên phố, hoặc rung chuyển trái đất như việc tạo ra
chiến tranh toàn cầu. Trọng tâm ở mỗi tình huống là chiến lược hiệu quả, được
lên kế hoạch trước, đôi khi cực kỳ chi tiết, và luôn nhắm vào việc đạt được các
nguồn lực hay sự kiểm soát. Đây là sự hung hãn được điều khiển bởi dopamine, và
nó không bao gồm nhiều cảm xúc. Nó là bạo lực lạnh.
Hãy nghĩ về những sự tính toán liên quan tới dopamine
và các phản xạ bản năng như hai bên của một cái bập bênh: khi bên này cao, thì
bên kia sẽ thấp. Khả năng đè nén các cảm xúc như sợ hãi, giận dữ, và ham muốn
không thể kềm chế đã tạo ra một lợi thế giữa xung đột. Cảm xúc luôn là thứ xen
vào giữa các hành động có tính toán. Thực tế, một chiến lược thống trị thường gặp
chính là kích thích các phản ứng cảm xúc ở đối thủ để gây rối việc thực hiện kế
hoạch của người đó. Trong thể thao, viêc này thể hiện trong các cuộc nói chuyện
xúc xiển nhau trên sân bóng rổ hay ở đường biên sân bóng đá.
Sự hung hãn được tạo ra bởi cảm xúc mạnh là phản ứng mạnh
đáp trả khiêu khích. Nó là một hành động không được tính toán trước được điều
khiển bởi mạch thần kinh dopamine kiểm soát – mà ngược lại. Khi cảm xúc mạnh dẫn
đến sự hung hãn để đáp trả khiêu khích, dopamine bị mạch thần kinh N&L đè
nén lại, và những người thường tỏ ra hung hãn dạng này, hạnh phúc tương lai của
họ thường bị giảm bớt. Họ có thể bị chấn thương, bị bắt giữ, hoặc đơn giản là bị
xấu hổ. Ví dụ như một người cha không kềm chế được giận dữ ở trận hockey của con mình. Việc anh ta nổi
cơn tam bành và tung cú đấm không phải là một hành động có tính toán mà là một
phản xạ cảm xúc thiếu suy nghĩ. Từ góc độ dopamine, việc này chẳng khiến anh ta
đạt được gì cả, không tối đa hóa được nguồn lực nào, không đạt được bất kỳ ích
lợi nào. Cảm xúc đã lất át sự kiểm soát của dopamine, sự suy xét, cẩn thận và
tính toán.
Anthony Trollope, một nhà văn người Anh, đã so sánh
hai phương án để mô tả cuộc tranh luận chính trị giữa hai nhân vật của ông, Daubeny và Gresham,
những thủ lĩnh của hai đảng đối đầu nhau:
Trong khi những cú đánh của
ngài Daubeny luôn mạnh mẽ khi ngài biết cách đánh, tính toán cẩn thận mỗi lời
nói, và cân đo đong đếm kết quả trước khi nói, tính toán quyền lực của mình
trong ngay cả những cú đánh lặp lại trên vết thương trước đó, ngài Gresham cứ
liên túc đánh trái rồi đánh phải rồi đánh thẳng, … và cơn giận của ngài có thể
đã giết chết nhân vật chính của ngài trước khi ngài ý thức được rằng anh ta
đang mất máu.
Bạo lực có thể cho chúng ta sự thống trị, nhưng để
thành công, nó phải đến từ mạch thần kinh dopamine kiểm soát lạnh lùng.
CÁ
TÍNH MANG TÍNH DOPAMINE LÀ GÌ?
Một số người có mạch thần kinh dopamine tích cực hơn
người khác. Các nhà nghiên cứu đã tìm ra một lượng gien tham gia vào quá trình
hình thành loại tính cách này. Cần phải lưu ý rằng các hoạt động nâng cao
dopamine có thể thể hiện bằng nhiều cách khác nhau. Một người có mạch dopamine
ham muốn cường độ cao có thể bốc đồng, khó thỏa mãn, luôn tìm kiếm nhiều hơn.
Tương ứng với người này là một người dễ thỏa mãn. Thay vì nốc rượu ở một quán
bar ồn ào, một người ít có tính dopamine hơn sẽ thích dùng cả ngày để làm vườn
rồi đi ngủ sớm.
Ngược lại, một người có mức độ dopamine kiểm soát
trong mạch thần kinh cao có thể rất lạnh lùng và đầy toan tính, tàn nhẫn và thiếu
hụt cảm xúc. Tương ứng với người này là một người ấm áp, thích nuôi dưỡng tình
bạn hơn là chiến thắng trận đấu. Bộ não rất phức tạp, và cách thức hoạt động của
một mạch thần kinh đơn lẻ được thể hiện ra ngoài như thế nào còn phụ thuộc rất
nhiều vào hoạt động của nhiều mạch thần kinh khác phối hợp lại. Thêm vào đó, một
tính cách dopamine có thể được thể hiện dưới nhiều cách khác nhau mà chúng ta sẽ
mô tả sau. Tuy nhiên, những người này đều cho một điểm chung. Họ đều bị ám ảnh
bởi việc khiến cho tương lai có nhiều phần thưởng hơn, với cái giá phải trả là những
niềm vui ở hiện tại.
ĐÈ
NÉN CẢM XÚC
Nếu
bạn có thể giữ được cái đầu của mình khi tất cả về bạn
Đang
đánh mất cái đầu của họ và đổ lỗi cho bạn. . .
Nếu
bạn có thể buộc trái tim và dây thần kinh và những sợi gân của mình
Để
phục vụ bạn thật lâu sau khi chúng không còn nữa,
Và
vì thế, hãy tiếp tục cố gắng khi bạn không còn gì
Ngoại
trừ Ý chí – thứ liên tục nói với chúng rằng "Cố lên!" . . .
Trái
đất và mọi thứ ở trong đó là của bạn.
-
Rudyard Kipling, Nếu
Cảm xúc là trải nghiệm mang tính hiện tại. Nó là thứ
mà bạn cảm thấy ngay lúc này, ngay chỗ này. Cảm xúc là vô cùng quan trọng để
chúng ta hiểu về thế giới, nhưng đôi khi cảm xúc lấn át chúng ta. Khi điều này
xảy ra, chúng ta làm ra những quyết định ít lô gic hơn. May mắn là, sự đối chọi
của dopamine với những mạch thần kinh N&L này có thể giảm mức độ cảm xúc.
Trong những tình huống phức tạp, những người có thứ mà chúng ta gọi là “một cái
đầu lạnh”, những người dopamine hơn, có khả năng để kềm chế loại phản ứng này,
và tạo ra nhiều lựa chọn cẩn thận hơn thường có hiệu quả nhiều hơn. Một trong bốn
tổ tiên tiến hóa của chúng ta, người có mạch thần kinh dopamine kiểm soát đặc
biệt, có thể đã phản ứng với việc bị một con sư tử săn đuổi bằng cách kềm chế
cơn hoảng loạn, thay vì cố chạy khỏi con sư tử, anh ta bình tĩnh nhặt lên một
nhánh cây đang cháy để doạt con vật đi khỏi đó. Khi bắt buộc phải hành động mạnh
mẽ giữa cơn hỗn loạn, thì người nào có thể giữ bình tĩnh, tận dụng các nguồn lực
có sẵn, và nhanh chóng tạo ra một kế hoạch hành động, chính là người sẽ vượt
qua được cơn hỗn loạn này.
LÀM
THẾ NÀO ĐỂ TRÁNH KHỎI MỘT CÚ ĐẤM
Mặc dù trong xã hội hiện đại phức tạp, những quyết định
tự động kiểu nhào vô hay bỏ chạy dường như khiến cho chúng ta không thể đạt được
lợi ích tốt nhất, trong những tình huống nguyên thủy hơn thì nó khá hiệu quả. Một
bác sĩ trẻ khi nói chuyện với một con nghiện phiền phức cứ liên tục đòi thuốc
trong phòng cấp cứu. Khi hắn ta biết chắc rằng hắn sẽ không được cho thuốc, hắn
đấm bác sĩ. May mắn là, bác sĩ đã tránh khỏi cú đấm, và trước khi hắn có thời
gian để đấm thêm phát nữa, thì hai bảo vệ đã đến kịp để làm hắn bình tĩnh lại.
Khi chuyện qua đi, bác sĩ nói, “Tôi không biết chuyện gì đã xảy ra. Không có thời
gian để suy nghĩ. Nó chỉ cứ thế mà xảy ra thôi.” Anh mừng vì biết rằng anh là
người may mắn sở hữu mạch thần kinh N&L – thứ biết khi nào nên bỏ chạy,
không cần dopamine phải tính toán gì cả.
Tôi
lái con thuyền dài 40 bộ với một thành viên thủy thủ đoàn duy nhất, và chúng ta
hướng ra biển lớn. Chúng tôi nhanh chóng gặp phải những cơn gió mạnh 70km/h và
những con sóng cao 10 bộ. Cả hai chúng tôi đều không lo lắng gì. Chúng tôi đã gặp
loại thời tiết này nhiều lần trước đó rồi.
Tôi
cầm bánh lái tàu và chúng tôi ra khơi. Khi tôi xoay bánh lái, tôi nghe một tiếng
“rắc” lớn, và bánh lái xoay tròn tự do. Tôi không còn điều khiển được bánh lái
nữa, và tôi đã cảm thấy sợ hãi hơn bất kỳ khoảnh khắc nào trong đời mình.
Chúng
tôi đang ở cạnh đá ngầm hình chữ L. Chúng tôi có thể nhìn thấy những rặng san
hô từ trên mặt nước, và những con sóng đang đẩy chúng tôi về phía chúng. Ý nghĩ
đầu tiên của tôi là nhảy ra khỏi tàu. Tôi muốn mang phao cứu hộ, rồi cố gắng
bơi ra khỏi khu vực nguy hiểm. Nhưng tôi nhanh chóng nhận ra điều này là bất khả
thi. Những con sóng sẽ đập thân thể tôi vào bãi đá ngầm, hoặc dòng nước ngầm sẽ
cuốn tôi ra xa bờ. Tôi cảm thấy một cơn hoảng loạn đang đến gần, và tôi biết rằng
nếu tôi để cơn hoảng loạn này khống chế tôi, tôi sẽ mất năng lực suy xét. Tất cả
những suy nghĩ này chỉ xảy ra trong vòng 10 giây.
Để
tự cứu mình, tôi bắt đầu suy nghĩ. Tôi phát đi một tin nhắn kêu cứu, sau đó tôi
và thủy thủ đoàn của mình cố điều khiển cánh buồm để lái con tàu ra khỏi rặng
đá ngầm. Sau đó chúng tôi đã tìm ra một cách để khống chế bánh lái bằng chân,
và chúng tôi hướng con tàu thẳng về phía bãi biển. Ngay khi tôi bắt đầu lên kế
hoạch và thực hiện nó, cơn hoảng loạn giảm dần, và tôi có thể suy xét một cách
lý trí.
Sau
khi chúng tôi về đến bãi biển, và khi tôi đi về phòng của mình, tôi bắt đầu run
rẩy và nức nở một cách không thể kiểm soát được.
Câu chuyện đời thực này là một ví dụ xuất sắc cho sự
tương tác giữa dopamine và các hóa chất N&L – phản ứng nhào vô hay bỏ chạy,
norepinephrine. Khi hệ thống bánh lái bị hỏng, norepinephrine nhào vô. Cảm giác
sợ hãi đến từ N&L áp đảo người thủy thủ. Anh chỉ muốn thoát khỏi tình huống
này. Đầu tiên, cơn lũ chất dẫn truyền thần kinh N&L đã thay thế dopamine –
thứ tạo ra khả năng lên kế hoạch của anh. Tuy nhiên, việc anh có thể cảm thấy
hoảng loạn nhưng có thể kềm chế nó, là một dấu hiệu cho thấy rằng hệ thống
dopamine không hoàn toàn bị tắt ngúm.
Sau vài giây, dopamine kiểm soát đã sạc đủ, và anh bắt
đầu lên kế hoạch một cách lý trí. Norepinephrine N&L bị tắt đi và nỗi sợ
hãi tan biến, để lại một kế hoạch sống sót không liên quan đến cảm xúc – chỉ đầy
lý trí. Sau khi cơn khủng hoảng qua đi, và anh đã an toàn quay lại bờ biển,
dopamine rút đi, để lại không gian trống cho N&L trào lên, kích thích sự
run rẩy và nức nở.
Các kiến thức thông thường sẽ cho rằng động cơ sống
sót của anh ấy trên biển “chạy bằng adrenaline”. Thực ra, vế ngược lại mới
chính xác. Anh ấy không chạy bằng adrenaline, anh ấy chạy bằng dopamine. Trong
những khoảnh khắc mãnh liệt khi anh cứu chiếc thuyền, chính là dopamine đang kiểm
soát, còn adrenaline (được gọi là norepinephrine khi nó được tạo ra trong não)
bị ép xuống.
Trong thế kỷ 18, Samuel Johnson đã tóm lược tình huống
như thế này: “Khi một người đàn ông biết mình sẽ bị treo cổ trong hai tuần nữa,
điều đó khiến tâm trí anh ta tập trung một cách tuyệt vời.” Một bác sĩ gần đây
hơn, bác sĩ David Caldicott, chuyên viên phòng cấp cứu ở bệnh viện Calvary ở
Canberra, Úc, đã diễn tả nó như thế này: “Làm việc ở phòng cấp cứu cũng giống
như lái một cái máy bay. Hàng tiếng đồng hồ bình thường chấm dứt bởi khoảnh khắc
của sự kinh hoàng tuyệt đối. Tuy nhiên, nếu chuyên môn của bạn đủ tốt, thì bạn
chẳng sợ gì cả. Chỉ cần tập trung thôi.”
0 nhận xét:
Đăng nhận xét