Thứ Năm, 11 tháng 8, 2022

The Molecule Of More - chương 3 (3)

 

NHỮNG CON KHỈ PHỤC TÙNG, NHỮNG GIÁN ĐIỆP KHIÊM TỐN

Khi những nhà nghiên cứu ở Viện trị liệu tâm lý bang Illinois tiêm thuốc kích thích dopamine và một con khỉ đuôi dài, họ quan sát thấy các hành vi phục tùng tăng lên, như bặm môi, nhăn mặt (nụ cười phiên bản khỉ), và chìa tay ra cho một con khỉ khác cắn nhẹ. Ngoài mặt thì hành vi này không hề hợp lý. Tại sao dopamine, loại chất dẫn truyền thần kinh của sự thống trị, lại kích thích các hành vi phục tùng? Có phải là hơi mâu thuẫn rồi không? Không hề nha. Trong vòng tròn kiểm soát, dopamine thúc đẩy việc làm chủ môi trường xung quanh, chứ không phải là những người trong môi trường đó. Dopamine muốn nhiều hơn, và nó không quan tâm bằng cách nào có được những thứ nó muốn. Đạo đức hay phi đạo đức, thống trị hay phục tùng, đều xuất phát từ chính dopamine, miễn là điều đó dẫn tới một tương lai tốt đẹp hơn là được.

Hãy xem xét một gián điệp đang đóng đô ở một đất nước hung hăng, cố gắng tiếp cận một tòa nhà chính phủ. Khi đang rình mò ở hẻm sau, thì anh ta gặp nhân viên coi sóc tòa nhà. Tay gián điệp đối xử với người này như người cùng đẳng cấp với anh ta, hoặc thậm chí là như sếp anh ta, để có được sự hợp tác của anh ta – hành vi phục tùng dùng để làm chủ môi trường xung quanh để đạt được mục đích. 

Hành vi phục tùng cũng có thể mang hàm ý tiêu cực – ví dụ như, để cho người khác “leo lên đầu bạn”, nhưng giới giạn của hành vi phục tùng rộng hơn điều này rất nhiều. Trong xã hội hiện đại, hành vi phục tùng thường là dấu hiệu của địa vị xã hội được nâng cao – hãy nghĩ về việc tuân thủ nghiêm ngặt các quy tắc cư xử, tập trung chú ý các quy tắc xã hội, và, khi đối thoại, tôn trọng người khác là một phần và biểu hiện của hành vi mà chúng ta gọi là “thượng lưu”. Tên gọi thông thường cho những hành vi này là “courtesy” (nhã nhặn), một từ xuất phát từ “court” (tòa án), vì nó là hành vi xuất phát từ giới quý tộc. Ngược lại, hành vi thống trị có tính trái ngược với nhã nhặn, có lẽ có nguồn gốc từ sự bất an cá nhân hoặc sự giáo dục không đầy đủ.

Kế hoạch, sự bền bỉ, và sức mạnh ý chí thông qua nỗ lực cá nhân hoặc làm việc với người khác: đây là những cách mà dopamine trong mạch thần kinh kiểm soát cho phép chúng ta làm chủ môi trường xung quanh mình. Nhưng chúng ta sẽ hành xử - và cảm thấy như thế nào – khi hệ thống mất cân bằng? Cụ thể là, điều gì sẽ xảy ra khi có quá nhiều hay quá ít dopamine kiểm soát?

THỬ THÁCH NGOÀI VŨ TRỤ – TRANH ĐẤU TRONG CHÍNH MÌNH

Tạp chí GQ: Cảm giác của anh như thế nào khi ở trên mặt trăng?
Buzz Aldrin:
Nghe này, chúng tôi không biết mình cảm thấy như thế nào. Chúng tôi không có cảm giác gì cả.

Tạp chí GQ: Cảm xúc của anh khi anh bước trên bề mặt của mặt trăng thì sao?
Buzz Aldrin:
Những phi công chiến đấu thì không có cảm xúc.

Tạp chí GQ: Nhưng anh là con người mà!
Buzz Aldrin:
Chúng tôi có băng đá trong máu của mình.

Tạp chí GQ: À, vậy thì anh có bao giờ nói rằng, “"Tôi sẽ dùng [mô-đun mặt trăng mỏng manh] đó, và hạ cánh trên mặt trăng"? Điều đó có bao giờ khiến anh cảm thấy kinh ngạc không?
Buzz Aldrin:
Tôi đã hiểu cấu tạo của nó. Nó có thiết bị hạ cánh. Nó có các thanh chống để nén. Nó có các đầu dò bị treo. Đó là một kỳ quan của kỹ thuật.

 - Phỏng vấn với Buzz Aldrin

Thay vì công nhận sự khen ngợi của những người ái mộ cho việc đi bộ trên mặt trăng của mình, Đại tá Buzz Aldrin, Tiến sĩ, đã nói với họ rằng, “Đó là một việc chúng tôi đã làm. Giờ thì chúng tôi nên bắt đầu làm thứ khác,” rõ ràng việc này không hề làm anh ấy cảm thấy hài lòng hơn việc sơn một cái hàng rào. Ham muốn của anh không phải là tắm mình trong vinh quang mà tìm kiếm “thứ gì đó khác” – một thử thách lớn tiếp theo khiến anh thích thú. Nhu cầu vĩnh cửu của việc xác định mục tiêu và tính toán cách thức để đạt được nó là một yếu tố quan trọng nhất trong thành công mang tính lịch sử của anh. Nhưng có nhiều dopamine chạy tới chạy lui trong mạch thần kinh kiểm soát như vậy không phải là một điều dễ chịu. Nó đóng một vai trò quan trọng trong chứng khó khăn hậu-mặt trăng bao gồm trầm cảm, nghiện rượu, ba lần ly dị, xung động tự tử, và nhập viện điều trị tâm lý, mà anh đã mô tả trong cuốn tự truyện thẳng thắn của mình: Sự Hoang Tàn Tráng Lệ: Chuyến hành trình dài từ Mặt trăng về nhà.

Cũng như dopamine ham muốn đã tạo điều kiện cho việc nghiện ma túy – theo đuổi cơn phê và nhận được càng lúc càng ít dopamine, nhiều người có quá nhiều dopamine kiểm soát đến nỗi họ bị nghiện các thành tựu, và họ không thể trải nghiệm được hạnh phúc đến từ N&L. Hãy nghĩ về những người làm việc không ngừng nghỉ để đạt được mục tiêu, mà không bao giờ chịu dừng lại để tận hưởng trái ngọt của các thành tựu họ đạt được. Họ thậm chí còn không khoe khoang về bản thân. Họ đạt được cái gì đó, sau đó tiếp tục tìm kiếm thứ khác. Một người phụ nữ đã mô tả việc nắm giữ vị trí lãnh đạo ở một chi nhánh của một công ty đang hỗn loạn. Cô ấy trải qua hàng năm trời với những giờ làm việc dài và đấu tranh khó khăn để có thể khiến mọi thứ vận hành trơn tru, và khi điều đó xảy ra, cô ấy lập tức cảm thấy chán. Trong vài tháng, cô ấy thử tận hưởng môi trường mới đầy thư giãn mà cô đã tạo ra, nhưng cô không chịu đựng nổi, và cô yêu cầu được chuyển đến một phòng ban nào đó vẫn còn là một mớ hỗn độn.

Những người như thế này chính là triển lãm của hậu quả đến sự mất cân bằng giữa dopamine tập trung vào tương lai và các chất dẫn truyền thần kinh N&L tập trung vào hiện tại. Họ chạy trốn các trải nghiệm cảm giác và cảm xúc ở hiện tại. Đối với họ, cuộc sống của họ chính là tương lai, là sự cải thiện, sự nâng cấp. Bất chấp họ có giàu có hay nổi tiếng như thế nào từ những nỗ lực đó, họ thường không hạnh phúc. Họ có làm nhiều như thế nào thì cũng không đủ. Gia huy của James Bond - điệp viên bí ẩn, tháo vát, làm việc không ngừng nghỉ và đôi khi tàn nhẫn, có in câu châm ngôn Orbit Non Sufficit – Thế giới này không đủ.

Đại tá Aldrin đã đối mặt với vấn đề này theo phương thức khủng khiếp hơn bất kỳ con người nào từng phải đối diện: Tôi đã bước đi trên mặt trăng rồi. Giờ thì tôi có thể làm gì để làm được hơn thế?

DOPAMINE GIẢI THÍCH CHO BÍ ẨN CỦA CHỨNG TĂNG ĐỘNG (ADHD)

Còn về những người ở đầu bên kia của quang phổ - những người có lượng dopamine trong mạch thần kinh kiểm soát rất thấp? Khó khăn trong việc kiểm soát bản thân của họ thể hiện ở sự bốc đồng và khó tập trung vào những nhiệm vụ phức tạp. Vấn đề này có thể dẫn đến kết quả quen thuộc: chứng rối loạn tăng động thiếu tập trung (attention deficit hyperactivity disorder). Thiếu hụt sự tập trung và sự kiểm soát các kích thích có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đối với cuộc đời họ, và nó gây khó khăn cho họ. Đôi khi họ không chú ý vào các chi tiết, theo theo dõi các nhiệm vụ. Họ có thể bắt đầu với việc trả tiền hóa đơn, rồi chuyển sang giặt quần áo, rồi đi thay bóng đèn, rồi ngồi xuống và xem ti vi với mọi thứ bày bừa khắp mọi nơi. Khi nói chuyện, họ bị phân tâm một cách dễ dàng, và họ không lắng nghe xem người ta nói gì với họ. Đôi khi họ không có khái niệm thời gian, trễ hẹn, đôi khi họ làm mất đồ, như chìa khóa xe, điện thoại, hay thậm chí là passport.

ADHD thường thấy nhất ở trẻ em, với lý do chính đáng. Phần thùy trước, nơi làm việc của dopamine kiểm soát, được phát triển sau cùng, và không hoàn toàn liên kết với phần còn lại của não cho đến khi người ta vượt qua giai đoạn dậy thì và trở thành người lớn. Nhiệm vụ của mạch thần kinh kiểm soát này là kiểm soát mạch thần kinh ham muốn – đây là vấn đề kiểm soát kích động liên quan đến ADHD. Khi dopamine kiểm soát còn yếu, người ta hay chạy theo những thứ mà người ta muốn mà ít khi nghĩ tới những hậu quả lâu dài. Những đứa trẻ có chứng ADHD thường chộp lấy đồ chơi rồi cắt vụn chúng ta. Những người lớn mắc chứng ADHD hay mua sắm bốc đồng và ngắt lời người khác.

Thuốc trị liệu phổ biến nhất cho chứng ADHD là Ritalin và amphetamine, thuốc kích thích thúc đẩy sản sinh dopamine trong não. Khi những người bị ADHD dùng những loại thuốc này để chữa trị, mức độ dung nạp sẽ không lờn dần như những người dùng thuốc để giảm cân, phê pha, hay tăng cường hiệu suất làm việc. Tuy nhiên, thuốc kích thích thì gây nghiện. FDA (Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ) đã xếp chúng vào cùng phân loại với các thuốc opioids, như morphine và OxyCotin. Những thuốc này được cho là vô cùng nguy hiểm khi lạm dụng, và các bác sĩ chỉ được kê đơn chúng trong điều kiện hạn chế nghiêm ngặt nhất.

Những người sống với chứng ADHD sẽ gặp rủi ro trong trong việc nghiện ngập, đặc biệt với thanh thiếu niên, vì phần thùy trước kém phát triển của họ. Những năm trước, khi người ta có ít hiểu biết về căn bệnh này, các bác sĩ và phụ huynh thường miễn cưỡng khi cho những đứa trẻ mỏng manh này dùng các thuốc gây nghiện như Ritalin và amphetamine. Nghe có vẻ hợp lý: đừng đưa chất gây nghiện cho những người vốn đã có nguy cơ nghiện ngập cao. Nhưng thử nghiệm nghiêm ngặt cho thấy rõ ràng rằng thanh thiếu niên được điều trị bằng thuốc kích thích ít có nguy cơ bị nghiện hơn. Thực tế, những người uống thuốc ở độ tuổi nhỏ nhất và uống lượng thuốc nhiều nhất thì lại có ít nguy cơ hơn cả trong vấn đề với các loại thuốc bất hợp pháp. Đây là lý do: nếu bạn khiến cho mạch thần kinh dopamine kiểm soát trở nên mạnh mẽ, thì bạn có khả năng dễ dàng tạo ra những quyết định thông thái hơn. Mặt khác, nếu người hạn chế các trị liệu hiểu quả, thì người ta không chữa trị được sự yếu ớt của mạch thần kinh kiểm soát. Mạch thần kinh mong muốn sẽ không bị kiểm soát, điều này khiến cho các hành vi có nguy cơ cao, tìm kiếm khoái cảm được tăng cường.

NGUY HIỂM BẤT NGỜ CỦA CÁC BỆNH NHÂN ADHD

Nghiện ma túy không phải là mối nguy hiểm duy nhất đối với trẻ em. Trẻ mắc chứng ADHD khó mà chiết xuất được những nguồn lực giá trị từ môi trường xung quanh – điển hình là điểm số tốt – khi nó không thể tập trung hay kiểm soát được các kích động của mình. Nhưng điểm thấp chỉ là bước khởi đầu. Thanh niên mắc chứng ADHD gặp nhiều khó khăn trong chuyện kết bạn. Ai mà muốn ở bên cạnh người thường xuyên ngắt lời họ, chộp hết thứ này đến thứ khác, và chẳng chịu xếp hàng đợi đến lượt? Họ thường xuyên phải đọc đi đọc lại bài tập về nhà trước khi hiểu được các tài liệu này. Điều này là kết quả của tự phân tâm liên tục. Phải bỏ ra quá nhiều thời gian để làm bài tập khiến cho họ không còn thời gian cho các hoạt động khác, như thể thao hay các câu lạc bộ. Ít bạn, điểm thấp, và ít có nguồn vui lành mạnh, trẻ em mắc chứng ADHD không được chữa trị sẽ dễ bị cuốn theo những nguồn vui không lành mạnh khác. Ngoài ma túy, chúng còn gặp vấn đề với hành vi tình dục sớm, chứng cuồng ăn, đặc biệt là những “đồ ăn vui miệng” có nồng độ muối, mỡ và đường cao.

Một nghiên cứu lớn bao gồm 700,000 trẻ em và người lớn, bao gồm 48,000 người mắc chứng ADHD, đã phát hiện ra rằng, trẻ em bị chứng ADHD dễ bị béo phì hơn 40%, người lớn thì 70% dễ bị béo phì hơn người bình thường. Với 700,000 người tham gia, với dữ liệu từ các nền văn hóa trên khắp thế giới, nghiên cứu này không chỉ khổng lồ về mặt số lượng hơn bất kỳ điều tra nào theo dạng này, mà thông tin còn vô cùng đa dạng, cho phép các nhà khoa học so sánh các kết quả từ các nước khác nhau – có những chế độ ăn uống và văn hóa ăn uống khác nhau. Tuy nhiên, dù cho có sự khác biệt trong chế độ ăn uống, ví dụ như ở Qatar hay Đài Loan hay Phần Lan, thì kết quả vẫn giống nhau. Quốc tịch của người ta không ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa ADHD và chứng béo phì. Và cũng không có khác biệt giữa đàn ông và phụ nữ.

Nhưng ngoài các điểm mạnh, thì nghiên cứu này vẫn có các điểm yếu. Việc chúng ta phát hiện ra rằng người bị ADHD thường hay bị béo phì không có nghĩa là ADHD gây ra chứng béo phì. Nếu nó là chiều ngược lại thì sao? Nếu bằng cách nào đó chứng béo phì ảnh hưởng đến não khiến cho chúng ta bị ADHD thì sao? Một cách nói mang tính khoa học hoa mỹ để mô tả tình trạng này là liên quan với nhau chưa chắc là nguyên nhân – kết quả của nhau. Chỉ vì hai thứ được phát hiện cùng nhau không nhất thiết có nghĩa là thứ này tạo ra thứ kia.

Chúng ta sẽ có nhiều tự tin hơn để nói rằng ADHD dẫn đến béo phì nếu chúng ta có thể cho thấy rằng người ta có triệu chứng ADHD trước khi người ta béo phì. Vì thế, các nhà nghiên cứu từ đại học Chicago và Pittsburgh đã đánh giá gần 2,500 trẻ em gái để tìm ra mối liên quan giữa cân nặng không lành mạnh và vấn đề về kích động. Trưởng ban nghiên cứu đã nói rằng, “Trẻ em thường xuyên được xem các quảng cáo thức ăn, tiếp xúc với máy bán hàng tự động, etc. vì thế chúng ta có thể dễ dàng hiểu được tại sao một đứa trẻ kém kềm chế sẽ gặp khó khăn trong việc chống lại những cám dỗ ăn uống này.”

Kết quả như dự đoán. Những bé gái gặp vấn đề với sự kích động và khó khăn trong việc lên kế hoạch tăng hơn 5kg trong sáu năm tiếp theo. Các nhà khoa học báo cáo rằng một lượng lớn cân nặng trong số này đến từ sự ăn uống quá độ - sự bùng nổ mạnh mẽ của việc không thể tự kiểm soát.

Với ly do tương tự, những đứa trẻ thừa cân cũng có nhiều nguy cơ bị xe đụng khi băng qua đường hơn. Không phải vì chúng đi chậm, mà vì chúng bị kích động. Các nhà nghiên cứu ở Đại học Iowa đã thu nhập thông tin từ 240 đứa trẻ tuổi từ 7 đến 8, yêu cầu chúng băng qua những con đường đông đúc để đo đếm xem chúng sẽ chờ đợi không bao lâu và chúng thường bị xe tông như thế nào.

Tuy là những người thừa cân thi thoảng đi chậm hơn, nhưng trong thí nghiệm này cân nặng không có tác dụng gì trong việc một đứa trẻ đi nhanh chậm như thế nào khi băng qua đường. Nhưng có một mối liên hệ trực tiếp giữa sự thừa cân một đứa trẻ và tốc độc của chúng khi tham gia giao thông. Những đứa trẻ ít thừa cân hơn thì chờ đợi lâu hơn những bé thừa cân. Những đứa bé thừa cân cũng có ít khoảng cách giữa chúng và chiếc xe gần chúng – nghĩa là, chúng để cho những chiếc xe tới gần chúng hơn. Không ngạc nhiên vì sao chúng lại bị đụng trúng nhiều hơn.

Cần phải nhớ rằng sinh học không phải số phận. Những người có hệ thống dopamine kiểm soát ở 2 thái cực nhiều và ít này hoàn toàn có thể thay đổi. Những người mắc chứng ADHD có thể cải thiện nhanh chóng bằng thuốc, trị liệu tâm lý, và đôi khi chỉ cần thời gian. Đại tá Aldrin, người gặp một vấn đề khác, cuối cùng cũng tìm ra những cách để khai thác cường độ sáng tạo của anh. Từ khi trở về từ mặt trăng, anh đã viết và hợp tác viết nên một tá sách, sản xuất ra game chiến lược trên máy tính, và đều xuất một phương pháp du hành vũ trụ mang tính cách mạng – có thể giúp cho sứ mệnh đưa phi hành đoàn lên sao Hỏa trở nên khả thi hơn. Anh cũng dành thời gian để xuất hiện trên nhiều chương trình tivi, bao gồm Dancing with the Stars, The Price is Right, Top Chef, và The Big Bang Theory.

HÓA HỌC CỦA LỪA GẠT

Tôi biết bản chất cao quý của bạn căm ghét sự phản bội và dối lừa. Nhưng chiến thẳng quả thật là một giải thưởng đầy vinh quang! – Sophocles, Philoctetes

Tôi thích chiến thắng, nhưng, hơn tất cả mọi thứ, tôi không thể chịu được suy nghĩ thua cuộc. Vì đối với tôi, thua cuộc nghĩa là chết. – Lance Armstrong

Trong năm 1999, sau khi sống sót trong trận chiến với ung thư giai đoạn cuối, Lance Armstrong thắng giải đua xe đạp nước Pháp lần đầu tiên. Một phóng viên tời New York Times đã mô tả anh theo cách mà những năm sau trở thành điển hình của anh: “một người đàn ông với ý chí và sự tập trung mạnh mẽ.” – người mà “thống trị giải đua.” Anh thẳng liên tiếp bảy giải đua Tour de France, thống trị không những trong giải đua nổi tiếng đó, mà còn cả giới thể thao.

Armstrong là một huyền thoại vì quyết tâm của anh ấy. Anh thích lái xe ngược chiều gió vì nhưng vậy khó khăn hơn, và do đó cho anh ấy nhiều cơ hội để tồn tại lâu hơn đối thủ. Tác giả Juliet Macur đã mô tả quyết tâm của Armstrong với câu chuyện sau: “[Một cái cây] đã từng nằm ở phía bên kia nhà [của anh], cách 50 bộ về phía tây. Armstrong muốn trồng nó ở trước nhà. Việc trồng cây tốn $200,000. Các bạn của anh nói đùa rằng, Armstrong – người theo thuyết bất khả tri*, đã thiết kế một dự án để chứng minh rằng anh không cần Chúa Trời để di chuyển thiên đường và trái đất.”(thuyết bất khả tri: những người nghi ngờ sự tồn tại của Chúa hay bất kỳ vị thần nào khác)

“Tôi nghĩ rằng tôi sẽ phát điên nếu đến năm 35 hay 40 tuổi mà không có bất kỳ cuộc thi đấu nào trong đời mình,” Armstrong nói.

Trong năm 2012, vận động viên đua xe đạp vô địch thế giới đã bị tước hết bảy huy chương trong giải Tour de France khi người ta phát hiện ra anh đã xài thuốc giúp tăng cường hiệu suất hoạt động. Tại sao người vận động viên huyền thoại này lại gian lận, đây là người đã có ý chí sắt đá và không bao giờ từ bỏ, ngay cả khi đối mặt với ung thư? Câu trả lời kì lạ là, có thể anh đã gian lận vì anh đã quá thành công.

 

Dopamine không được trang bị nhận thức. Thay vào đó, nó là thứ gian xảo được nuôi dưỡng bởi ham muốn. Khi nó tăng lên, nó đè ép các cảm giác tội lỗi – những cảm giác N&L. Nó là nguồn cảm hứng cho những nỗ lực đáng khâm phục, nhưng cũng là nguồn gốc của sự giả dối và thậm chí là bạo lực khi theo đuổi thứ nó muốn.

Dopamine theo đuổi nhiều hơn (more), chứ không phải là đạo đức (morality). Đối với dopamine, cưỡng ép và lừa dối chỉ là những công cụ.

Các nhà nghiên cứu người Israel đã tạo ra một thí nghiệm giúp họ hiểu hơn về việc tạo sao người ta lại gian lận. Họ thiết kế ra một số trò chơi mà người chơi này có thể chơi với một người chơi khác. Trò đầu tiên là trò chơi suy đoán trong đó những người chơi thi nhau xem ai có thể đoán xem những hình ảnh nào sẽ xuất hiện trên màn hình máy vi tính. Trong trò này, người ta không thể gian lận được. Trò thứ hai thì khác: người chơi đầu tiên ném ra một cặp xí ngầu, và thông báo kết quả cho người chơi thứ hai. Điểm xí ngầu càng cao, thì người chơi đầu tiên càng có nhiều tiền, đối thủ của họ càng có ít tiền. Trong trò này thì người ta không chỉ có thể gian lận, mà còn dễ dàng gian lận. Người chơi thứ hai không thể nhìn thấy cục xí ngầu, vì thế người chơi đầu tiên có thể thông báo bất kỳ số điểm nào mà người đó muốn. Người thắng và thua trong trò chơi đầu tiên lần lượt sẽ tung xí ngầu và thông báo theo thứ tự.

Bởi vì viên xí ngầu đã được thiết kế riêng, nên nếu mọi người thành thực với nhau, thì điểm trung bình sẽ tầm bảy điểm. Những người thua trong trò chơi đầu tiên thường thông báo kết quả đổ xí ngầu tầm sáu điểm trong trò thứ hai, tương thích với tính ngẫu nhiên. Mặt khác, những người thắng ở trò chơi thứ nhất, thông báo điểm số ở mức chín điểm. Các phân tích thống kê tiết lộ rằng đó là một số điểm trung bình cực kỳ khó có được theo tính ngẫu nhiên. Khả năng tới 99% là những người thắng ở trò chơi đầu tiên đã gian lận trong trò thứ hai.

Bước tiếp theo của thí nghiệm, các nhà nghiên cứu thay đổi một số chi tiết. Thay vì cạnh tranh nhau, thì trò chơi đầu tiên được đổi thành chơi xổ số - và thay đổi này tạo ra một kết quả vô cùng khác biệt. Những người chơi đã thắng xổ số không hề gian lận trong trò thứ hai. Trên thực tế, họ còn có vẻ như đã báo điểm số của mình thấp đi, dẫn đến việc đối thủ của họ cũng có thể có được niềm vui chiến thắng.

Các nhà khoa học không chắc rằng nên giải thích kết quả này như thế nào. Họ nghĩ rằng có thể người ta thắng khi tranh đấu, sẽ ngược lại với khi người ta thắng đơn thuần vì may mắn, khiến họ phát triển một cảm giác về quyền lợi cho phép họ bào chữa cho sự gian lận của mình. Nhưng khi nghĩ về vai trò của dopamine trong việc thúc đẩy chúng ta làm chủ môi trường xung quanh, chúng ta có thể tìm ra cách giải thích tốt hơn.

Thắng khi thi đấu, cũng giống như ăn và tình dục, là một điều cần thiết để đạt được thành công về mặt tiến hóa. Thực tế, chính chiến thắng khi tranh đấu giúp chúng ta tiếp cận với thức ăn và các bạn tình tiềm năng. Kết quả là, không có gì đáng ngạc nhiên khi việc thắng một cuộc thi đấu tạo ra dopamine. Nó cho chúng ta một cơn khoái cảm khi chúng ta đánh quả bóng tennis ra qua lưới, đạt điểm tốt trong bài kiểm tra, hay nhận được lời khen ngợi từ sếp. Sự ngập tràn dopamine khiến chúng ta cảm thấy tốt đẹp, nhưng nó khác với khoái cảm đến từ N&L – khi sự thỏa mãn ngập tràn. Và điểm khác biệt là: sự ngập tràn dopamine được tạo ra bằng chiến thắng khiến chúng ta muốn thắng nhiều hơn.

CHIẾN THẮNG ĐỂ TRÁNH THẤT BẠI

Thắng giải Tour de France là không đủ. Thắng hai lần hay thậm chí là bảy lần cũng không đủ. Thắng thôi thì không bao giờ là đủ. Chẳng có bất kỳ thứ gì là đủ với dopamine. Việc theo đuổi mới là thứ quan trọng, và chiến thắng, nhưng không có vạch đích, và không bao giờ có vạch đích. Chiến thắng cũng giống như ma túy, có thể gây nghiện.

Nhưng cơn sốt khoái cảm chẳng bao giờ thỏa mãn này chỉ là một vế của phương trình. Vế còn lại là sự sụp đổ dopamine khiến cho người ta cảm thấy vô cùng tệ hại.

Mỗi năm, các nhân viên y tế ở Washington, DC đểu điền vào một phiếu khảo sát để bầu chọn cho những bác sĩ giỏi nhất trong nhiều lĩnh vực y học. Kết quả thường được công bố trong tờ tạp chí Washingtonian  ở số báo nổi tiếng Bác sĩ Giỏi nhất (Top Doc). Đây là số báo bán chạy nhất của họ. Được nêu tên ở số báo Bác sĩ Giỏi nhất là một vinh dự, và nó khiến người ta cảm thấy vui vẻ. Đồng nghiệp của bạn sẽ thấy tên bạn, gia đình và bạn bè cũng thấy, mọi người đều thấy. Tuy nhiên, sau khi hào quang của sự thỏa mãn tàn đi, một câu hỏi không thoải mái lắm hiện ra: Liệu năm sau tôi có làm được như vậy không? Những người đang chúc mừng tôi – họ sẽ nghĩ gì nếu tên tôi ra khỏi danh sách này? Không ai sẽ được nêu tên trong danh sách này vĩnh viễn; làm sao mà tôi có thể chịu được sự nhục nhã khi bị xóa tên? Không ai thích thua cuộc, nhưng thắng cuộc còn tệ hơn gấp mười lần. Khi bạn mở tờ tạp chí ra và trông chờ tên mình xuất hiện như nó không ở đó, bạn sẽ có một cảm giác không vui quặn nhẹ trong bao tử.

Những người chiến thắng thường gian lận vì cùng một lý do với những con nghiện nghiện thuốc. Cảm giác sốt dopamine thật tuyệt, và mất đi cảm giác này thì thật tệ. Họ đều biết rằng hành vi của mình có khả năng hủy hoại đời mình, nhưng mạch thần kinh ham muốn không quan tâm đến điều đó. Nó luôn muốn nhiều hơn. Nhiều thuốc hơn, nhiều chiến thắng hơn. Nhưng chiến thắng thực sự không đến từ việc gian lận. Nếu bạn phạm lỗi, người ta sẽ tha thứ cho bạn, còn nếu bạn cư xử không thành thực, người ta sẽ nhớ về sự không thành thực của bạn trong thời gian dài. Đó là lý do tại sao mạch thần kinh kiểm soát lại quan trọng như vậy. Nó là lý trí. Nó có thể tạo ra những quyết định lạnh lùng và hợp lý, thứ sẽ tối đa hóa lợi nhuận cho bạn, không chỉ trong hôm nay mà còn trong tương lai xa hơn. Nhưng, đối với nhiều hơn, gian lận khó là chống lại, nhất là khi người ta bị thôi thúc quá mức để đuổi theo cơn say chiến thắng. Ít nhất, trong thời gian ngắn, việc gian lận có hiệu quả.

Hoặc, bạn có thể đơn giản là đấm ai đó.

BẠO LỰC NÓNG VÀ LẠNH

Bác sĩ Jones đứng trước cửa thang máy, sợ hãi về việc phỏng vấn bệnh nhân mà cô sắp phải làm. Đã 1 giờ sáng, và cô được gọi xuống phòng cấp cứu để đánh giá một bệnh nhân – anh ta nói rằng anh ta sắp giết ai đó. Cô ấy phải tìm ra câu trả lời. Khi một bệnh nhân tâm thần đang được theo dõi đang đe dọa giết người, nạn nhân chết, tên sát nhân phải bị bắt – và người bác sĩ đã thả tự do cho tên sát nhân sẽ phải chịu trách nhiệm.

Người bệnh nhân, luộm nhuộm và hôi hám, nhìn bác sĩ Jones không chớp mắt. Anh ta đã từng tới đây. Anh ta đã vô cùng bất hợp tác và chống đối. Trong một lần ở lại đây, anh ta đã bị buộc tội đã động chạm và một phụ nữ bị tâm thần phân liệt. Anh ta nói rằng mình bị dị ứng với tất cả các loại thuốc trị bệnh trừ Xanax.

Trừ việc dùng cocaine, anh ta dường như không có vấn đề gì về mặt tâm lý, nhưng hôm nay anh ta đòi được nhập viện. Anh ta đề cập đến những lần bị bắt giữ và ba năm ăn cơm tù. Nếu anh ta không được đưa lên “phòng bệnh”, anh ta sẽ thực hiện kế hoạch của mình và giết ai đó.

“Cứ cho là có ai đó đã làm gì tôi đi, okay?” Anh ta nói.

Hoang tưởng là một trong những bệnh tâm lý có thể trị được liên quan đến những người đe dọa bạo lực. Hoang tưởng khiến họ cảm thấy sợ hãi, và đôi khi họ kết luận rằng cách duy nhất để bảo vệ chính mình là giết những người mà họ tưởng tượng rằng đang chống lại họ. Dùng thuốc chống tâm thần, thì sự hoang tưởng này cùng với mối nguy hiểm bạo lực sẽ được chữa trị trong tầm một tuần.

Nhưng bệnh nhân đang ngồi đối diện bác sĩ Jones, mắt dán chặt vào cô, thì không hề bị tâm thần.

Bác sĩ Jones gặp phải một mâu thuẫn. Cô biết rằng bệnh nhân không nên được nhập viện, và nếu cho anh ta nhập viện thì sẽ khiến cho các bệnh nhân khác gặp nguy hiểm. Mặt khác, anh ta có một quá khứ đầy bạo lực. Cô cho anh nhập viện, cảm thấy lo lắng cho an toàn của người nạn nhân mà anh ta từ chối nêu tên, nhưng lại cảm thấy tội lỗi vì việc này có khả năng gây nguy hại đến các bệnh nhân khác ở đây.

Bạo lực đôi khi là kết quả của chứng rối loạn chức năng và bệnh tật. Nhưng trong hầu hết các trường hợp, bạo lực là một lựa chọn – một phương thức cưỡng chế người khác có tính toán để có được thứ bạn muốn.

Cưỡng chế, thường được mô tả như một loại bạo lực, là công cụ tối thượng của sự thống trị, nhưng liệu nó có liên quan đến dopamine?

Bạo lực có hai hình thức: bạo lực có kế hoạch được tạo ra vì một mục đích nào đó và bạo lực tự phát do cảm xúc mạnh gây ra. Bạo lực có mục đích, được thủ phạm tạo ra để có được thứ hắn muốn, có thể tẻ nhạt tầm thường như việc cướp đồ của ai đó trên phố, hoặc rung chuyển trái đất như việc tạo ra chiến tranh toàn cầu. Trọng tâm ở mỗi tình huống là chiến lược hiệu quả, được lên kế hoạch trước, đôi khi cực kỳ chi tiết, và luôn nhắm vào việc đạt được các nguồn lực hay sự kiểm soát. Đây là sự hung hãn được điều khiển bởi dopamine, và nó không bao gồm nhiều cảm xúc. Nó là bạo lực lạnh.

Hãy nghĩ về những sự tính toán liên quan tới dopamine và các phản xạ bản năng như hai bên của một cái bập bênh: khi bên này cao, thì bên kia sẽ thấp. Khả năng đè nén các cảm xúc như sợ hãi, giận dữ, và ham muốn không thể kềm chế đã tạo ra một lợi thế giữa xung đột. Cảm xúc luôn là thứ xen vào giữa các hành động có tính toán. Thực tế, một chiến lược thống trị thường gặp chính là kích thích các phản ứng cảm xúc ở đối thủ để gây rối việc thực hiện kế hoạch của người đó. Trong thể thao, viêc này thể hiện trong các cuộc nói chuyện xúc xiển nhau trên sân bóng rổ hay ở đường biên sân bóng đá.

Sự hung hãn được tạo ra bởi cảm xúc mạnh là phản ứng mạnh đáp trả khiêu khích. Nó là một hành động không được tính toán trước được điều khiển bởi mạch thần kinh dopamine kiểm soát – mà ngược lại. Khi cảm xúc mạnh dẫn đến sự hung hãn để đáp trả khiêu khích, dopamine bị mạch thần kinh N&L đè nén lại, và những người thường tỏ ra hung hãn dạng này, hạnh phúc tương lai của họ thường bị giảm bớt. Họ có thể bị chấn thương, bị bắt giữ, hoặc đơn giản là bị xấu hổ. Ví dụ như một người cha không kềm chế được giận dữ  ở trận hockey của con mình. Việc anh ta nổi cơn tam bành và tung cú đấm không phải là một hành động có tính toán mà là một phản xạ cảm xúc thiếu suy nghĩ. Từ góc độ dopamine, việc này chẳng khiến anh ta đạt được gì cả, không tối đa hóa được nguồn lực nào, không đạt được bất kỳ ích lợi nào. Cảm xúc đã lất át sự kiểm soát của dopamine, sự suy xét, cẩn thận và tính toán.

Anthony Trollope, một nhà văn người Anh, đã so sánh hai phương án để mô tả cuộc tranh luận chính trị  giữa hai nhân vật của ông, Daubeny và Gresham, những thủ lĩnh của hai đảng đối đầu nhau:

Trong khi những cú đánh của ngài Daubeny luôn mạnh mẽ khi ngài biết cách đánh, tính toán cẩn thận mỗi lời nói, và cân đo đong đếm kết quả trước khi nói, tính toán quyền lực của mình trong ngay cả những cú đánh lặp lại trên vết thương trước đó, ngài Gresham cứ liên túc đánh trái rồi đánh phải rồi đánh thẳng, … và cơn giận của ngài có thể đã giết chết nhân vật chính của ngài trước khi ngài ý thức được rằng anh ta đang mất máu.

Bạo lực có thể cho chúng ta sự thống trị, nhưng để thành công, nó phải đến từ mạch thần kinh dopamine kiểm soát lạnh lùng.

CÁ TÍNH MANG TÍNH DOPAMINE LÀ GÌ?

Một số người có mạch thần kinh dopamine tích cực hơn người khác. Các nhà nghiên cứu đã tìm ra một lượng gien tham gia vào quá trình hình thành loại tính cách này. Cần phải lưu ý rằng các hoạt động nâng cao dopamine có thể thể hiện bằng nhiều cách khác nhau. Một người có mạch dopamine ham muốn cường độ cao có thể bốc đồng, khó thỏa mãn, luôn tìm kiếm nhiều hơn. Tương ứng với người này là một người dễ thỏa mãn. Thay vì nốc rượu ở một quán bar ồn ào, một người ít có tính dopamine hơn sẽ thích dùng cả ngày để làm vườn rồi đi ngủ sớm.

Ngược lại, một người có mức độ dopamine kiểm soát trong mạch thần kinh cao có thể rất lạnh lùng và đầy toan tính, tàn nhẫn và thiếu hụt cảm xúc. Tương ứng với người này là một người ấm áp, thích nuôi dưỡng tình bạn hơn là chiến thắng trận đấu. Bộ não rất phức tạp, và cách thức hoạt động của một mạch thần kinh đơn lẻ được thể hiện ra ngoài như thế nào còn phụ thuộc rất nhiều vào hoạt động của nhiều mạch thần kinh khác phối hợp lại. Thêm vào đó, một tính cách dopamine có thể được thể hiện dưới nhiều cách khác nhau mà chúng ta sẽ mô tả sau. Tuy nhiên, những người này đều cho một điểm chung. Họ đều bị ám ảnh bởi việc khiến cho tương lai có nhiều phần thưởng hơn, với cái giá phải trả là những niềm vui ở hiện tại.

ĐÈ NÉN CẢM XÚC

Nếu bạn có thể giữ được cái đầu của mình khi tất cả về bạn

Đang đánh mất cái đầu của họ và đổ lỗi cho bạn. . .

Nếu bạn có thể buộc trái tim và dây thần kinh và những sợi gân của mình

Để phục vụ bạn thật lâu sau khi chúng không còn nữa,

Và vì thế, hãy tiếp tục cố gắng khi bạn không còn gì

Ngoại trừ Ý chí – thứ liên tục nói với chúng rằng "Cố lên!" . . .

Trái đất và mọi thứ ở trong đó là của bạn.

-          Rudyard Kipling, Nếu

Cảm xúc là trải nghiệm mang tính hiện tại. Nó là thứ mà bạn cảm thấy ngay lúc này, ngay chỗ này. Cảm xúc là vô cùng quan trọng để chúng ta hiểu về thế giới, nhưng đôi khi cảm xúc lấn át chúng ta. Khi điều này xảy ra, chúng ta làm ra những quyết định ít lô gic hơn. May mắn là, sự đối chọi của dopamine với những mạch thần kinh N&L này có thể giảm mức độ cảm xúc. Trong những tình huống phức tạp, những người có thứ mà chúng ta gọi là “một cái đầu lạnh”, những người dopamine hơn, có khả năng để kềm chế loại phản ứng này, và tạo ra nhiều lựa chọn cẩn thận hơn thường có hiệu quả nhiều hơn. Một trong bốn tổ tiên tiến hóa của chúng ta, người có mạch thần kinh dopamine kiểm soát đặc biệt, có thể đã phản ứng với việc bị một con sư tử săn đuổi bằng cách kềm chế cơn hoảng loạn, thay vì cố chạy khỏi con sư tử, anh ta bình tĩnh nhặt lên một nhánh cây đang cháy để doạt con vật đi khỏi đó. Khi bắt buộc phải hành động mạnh mẽ giữa cơn hỗn loạn, thì người nào có thể giữ bình tĩnh, tận dụng các nguồn lực có sẵn, và nhanh chóng tạo ra một kế hoạch hành động, chính là người sẽ vượt qua được cơn hỗn loạn này.

LÀM THẾ NÀO ĐỂ TRÁNH KHỎI MỘT CÚ ĐẤM

Mặc dù trong xã hội hiện đại phức tạp, những quyết định tự động kiểu nhào vô hay bỏ chạy dường như khiến cho chúng ta không thể đạt được lợi ích tốt nhất, trong những tình huống nguyên thủy hơn thì nó khá hiệu quả. Một bác sĩ trẻ khi nói chuyện với một con nghiện phiền phức cứ liên tục đòi thuốc trong phòng cấp cứu. Khi hắn ta biết chắc rằng hắn sẽ không được cho thuốc, hắn đấm bác sĩ. May mắn là, bác sĩ đã tránh khỏi cú đấm, và trước khi hắn có thời gian để đấm thêm phát nữa, thì hai bảo vệ đã đến kịp để làm hắn bình tĩnh lại. Khi chuyện qua đi, bác sĩ nói, “Tôi không biết chuyện gì đã xảy ra. Không có thời gian để suy nghĩ. Nó chỉ cứ thế mà xảy ra thôi.” Anh mừng vì biết rằng anh là người may mắn sở hữu mạch thần kinh N&L – thứ biết khi nào nên bỏ chạy, không cần dopamine phải tính toán gì cả.

Tôi lái con thuyền dài 40 bộ với một thành viên thủy thủ đoàn duy nhất, và chúng ta hướng ra biển lớn. Chúng tôi nhanh chóng gặp phải những cơn gió mạnh 70km/h và những con sóng cao 10 bộ. Cả hai chúng tôi đều không lo lắng gì. Chúng tôi đã gặp loại thời tiết này nhiều lần trước đó rồi.

Tôi cầm bánh lái tàu và chúng tôi ra khơi. Khi tôi xoay bánh lái, tôi nghe một tiếng “rắc” lớn, và bánh lái xoay tròn tự do. Tôi không còn điều khiển được bánh lái nữa, và tôi đã cảm thấy sợ hãi hơn bất kỳ khoảnh khắc nào trong đời mình.

Chúng tôi đang ở cạnh đá ngầm hình chữ L. Chúng tôi có thể nhìn thấy những rặng san hô từ trên mặt nước, và những con sóng đang đẩy chúng tôi về phía chúng. Ý nghĩ đầu tiên của tôi là nhảy ra khỏi tàu. Tôi muốn mang phao cứu hộ, rồi cố gắng bơi ra khỏi khu vực nguy hiểm. Nhưng tôi nhanh chóng nhận ra điều này là bất khả thi. Những con sóng sẽ đập thân thể tôi vào bãi đá ngầm, hoặc dòng nước ngầm sẽ cuốn tôi ra xa bờ. Tôi cảm thấy một cơn hoảng loạn đang đến gần, và tôi biết rằng nếu tôi để cơn hoảng loạn này khống chế tôi, tôi sẽ mất năng lực suy xét. Tất cả những suy nghĩ này chỉ xảy ra trong vòng 10 giây.

Để tự cứu mình, tôi bắt đầu suy nghĩ. Tôi phát đi một tin nhắn kêu cứu, sau đó tôi và thủy thủ đoàn của mình cố điều khiển cánh buồm để lái con tàu ra khỏi rặng đá ngầm. Sau đó chúng tôi đã tìm ra một cách để khống chế bánh lái bằng chân, và chúng tôi hướng con tàu thẳng về phía bãi biển. Ngay khi tôi bắt đầu lên kế hoạch và thực hiện nó, cơn hoảng loạn giảm dần, và tôi có thể suy xét một cách lý trí.

Sau khi chúng tôi về đến bãi biển, và khi tôi đi về phòng của mình, tôi bắt đầu run rẩy và nức nở một cách không thể kiểm soát được.

Câu chuyện đời thực này là một ví dụ xuất sắc cho sự tương tác giữa dopamine và các hóa chất N&L – phản ứng nhào vô hay bỏ chạy, norepinephrine. Khi hệ thống bánh lái bị hỏng, norepinephrine nhào vô. Cảm giác sợ hãi đến từ N&L áp đảo người thủy thủ. Anh chỉ muốn thoát khỏi tình huống này. Đầu tiên, cơn lũ chất dẫn truyền thần kinh N&L đã thay thế dopamine – thứ tạo ra khả năng lên kế hoạch của anh. Tuy nhiên, việc anh có thể cảm thấy hoảng loạn nhưng có thể kềm chế nó, là một dấu hiệu cho thấy rằng hệ thống dopamine không hoàn toàn bị tắt ngúm.

Sau vài giây, dopamine kiểm soát đã sạc đủ, và anh bắt đầu lên kế hoạch một cách lý trí. Norepinephrine N&L bị tắt đi và nỗi sợ hãi tan biến, để lại một kế hoạch sống sót không liên quan đến cảm xúc – chỉ đầy lý trí. Sau khi cơn khủng hoảng qua đi, và anh đã an toàn quay lại bờ biển, dopamine rút đi, để lại không gian trống cho N&L trào lên, kích thích sự run rẩy và nức nở.

Các kiến thức thông thường sẽ cho rằng động cơ sống sót của anh ấy trên biển “chạy bằng adrenaline”. Thực ra, vế ngược lại mới chính xác. Anh ấy không chạy bằng adrenaline, anh ấy chạy bằng dopamine. Trong những khoảnh khắc mãnh liệt khi anh cứu chiếc thuyền, chính là dopamine đang kiểm soát, còn adrenaline (được gọi là norepinephrine khi nó được tạo ra trong não) bị ép xuống.

Trong thế kỷ 18, Samuel Johnson đã tóm lược tình huống như thế này: “Khi một người đàn ông biết mình sẽ bị treo cổ trong hai tuần nữa, điều đó khiến tâm trí anh ta tập trung một cách tuyệt vời.” Một bác sĩ gần đây hơn, bác sĩ David Caldicott, chuyên viên phòng cấp cứu ở bệnh viện Calvary ở Canberra, Úc, đã diễn tả nó như thế này: “Làm việc ở phòng cấp cứu cũng giống như lái một cái máy bay. Hàng tiếng đồng hồ bình thường chấm dứt bởi khoảnh khắc của sự kinh hoàng tuyệt đối. Tuy nhiên, nếu chuyên môn của bạn đủ tốt, thì bạn chẳng sợ gì cả. Chỉ cần tập trung thôi.”

>>> (4)

0 nhận xét:

Đăng nhận xét