Thứ Năm, 11 tháng 8, 2022

The Molecule Of More - chương 3 (1)

 

Chương 3

QUYỀN THỐNG TRỊ

Bạn sẽ đi bao xa?

Dopamine mang chúng ta vượt qua sự phức tạp, nghịch cảnh, cảm xúc và nỗi đau để chúng ta có thể kiểm soát môi trường của mình.

 

LÊN KẾ HOẠCH VÀ TÍNH TOÁN

Chỉ ham muốn thôi thì ít khi bạn có được nhiều thứ. Bạn phải tìm ra cách để đạt được nó, và liệu rằng nó có đáng để đạt được hay không. Thực ra, khi chúng ta làm việc gì đó mà không nghĩ đến làm cách nào tiếp theo thì sao, thì kết quả khả dĩ nhất chính là sự thất bại. Kết quả có thể là việc ăn quá mức cho đến việc cờ bạc liều lĩnh hay lạm dụng thuốc, và tệ hơn nữa.

Dopamine ham muốn khiến chúng ta khao khát nhiều thứ. Nó là nguồn gốc của ham muốn thô sơ: cho tôi nhiều hơn nữa. Nhưng chúng ta không hoàn toàn bị kiểm soát bởi ham muốn của mình. Chúng ta cũng có một hệ thống dopamine bổ sung để tính toán bao nhiêu trong nhiều hơn nữa là đáng để đạt được. Nó khiến chúng ta có thể xây dựng các kế hoạch – lên chiến lược và làm chủ thế giới xung quanh để có được thứ ta muốn. Làm sao một hóa chất đơn độc duy nhất có thể làm được cả hai điều này? Hãy nghĩ đến nhiên liệu tên lửa cung cấp năng lượng cho bộ máy chính của tàu không gian. Loại nhiên liệu đẩy tên lửa về phía trước có thể được chuyển hướng để lái các động cơ đẩy định hướng để điều khiển con tàu, cũng như các động cơ đẩy lùi để làm chậm nó. Hoàn toàn tùy thuộc vào việc nhiên liệu sẽ chảy tới đâu và bị đốt ở đâu – các công năng khác nhau, nhưng cùng làm việc để đưa tàu không gian đến nơi nó cần đến. Tương tự, dopamine cũng di chuyển xuyên những mạch thần kinh chịu trách nhiệm cho những chức năng khác nhau, và cùng hướng về một mục tiêu chung: tập trung không ngừng nghỉ để nâng cấp tương lai.

Thôi thúc đến từ dopamine chảy qua các mạch thần kinh trong đường giữa viền (mesolimbic), thứ mà chúng ta gọi là mạch thần kinh dopamine ham muốn. Tính toán và lên kế hoạch – các công cụ để kiểm soát tình huống – đến từ mạch thần kinh đường giữa vỏ (mesocortical) – thứ chúng ta gọi là mạch não kiểm soát dopamine (hình 3). Tại sao lại gọi nó là mạch thần kinh kiểm soát? Bởi vì mục đích của nó là quản lý những thôi thúc không kiểm soát được của dopamine ham muốn, để dùng năng lượng thô đó và dẫn nó đến một kết quả có lợi. Tương tự, sử dụng các khái niệm phổ quát và các chiến lược nhìn về phía trước, nó cho phép chúng ta có được sự kiểm soát với thế giới xung quanh, và làm chủ môi trường của chúng ta.



Thêm vào đó, mạch thần kinh kiểm soát dopamine là nguồn gốc của trí tưởng tượng. Nó cho phép chúng ta nhìn tới tương lai để xem kết quả của các quyết định mình tạo ra ở thời điểm hiện tại, và vì thế cho phép chúng ta chọn loại tương lai mà mình muốn. Cuối cùng, nó cho chúng ta khả năng để lên kế hoạch biến tương lai tưởng tượng đó thành hiện thực. Cũng như mạch thần kinh ham muốn – chỉ quan tâm đến thứ mà chúng ta không có – mạch thần kinh kiểm soát dopamine này cũng chỉ hoạt động trong thế giới không-thật của những điều có thể xảy ra. Hai mạch thần kinh này xuất phát cùng một chỗ, nhưng mạch thần kinh ham muốn kết thúc ở phần não kích thích sự hưng phấn và nhiệt tình, trong khi mạch thần kinh kiểm soát thì chạy về phía thùy trước – khu vực não bộ chuyên trách cho các suy nghĩ lô-gic.

Theo cách này, cả hai mạch não đều cho chúng ta khả năng xem xét các “bóng ma” – những thứ không tồn tại bằng xương bằng thịt. Với dopamine ham muốn, những bóng ma này là những thứ mà chúng ta mơ ước như chưa có được – những thứ mà chúng ta muốn có trong tương lai. Với dopamine kiểm soát, những bóng mà này chính là các khối xếp hình tạo nên trí tưởng tượng và các suy nghĩ sáng tạo: ý tưởng, kế hoạch, lý thuyết, các khái niệm phổ quát như toán học và sắc đẹp, và những thế giới chưa tồn tại.

Dopamine kiểm soát mang chúng ta vượt lên trên khái niệm tôi muốn nguyên thủy của dopamine ham muốn. Nó cho chúng ta công cụ để thấu hiểu, phân tích, và định hình thế giới xung quanh chúng ta, từ đ1o chúng ta có thể dự đoán những điều có thể xảy ra, so sánh chúng với nhau, và tạo ra các phương thức để đạt được mục đích. Nó là phiên bản mở rộng và phức tạp hơn của việc thực thi các mệnh lệnh tiến hóa: để bảo vệ nhiều nguồn lực nhất có thể. Ngược lại, dopamine ham muốn là đứa trẻ ngồi ghế sau trong ô tô, hét lên với bố mẹ nó rằng “Nhìn kìa! Nhìn kìa!” mỗi lần nó nhìn thấy McDonald, hay một cửa hàng đồ chơi, hay một chú chó con trên vỉa hè. Dopamine kiểm soát là vị phụ huynh đang ngồi trước bánh lái, nghe các yêu cầu này và xem xét xem liệu có nên dừng lại hay không – và quyết định là sẽ làm gì nếu dừng lại. Dopamine kiểm soát xem xét sự hưng phấn và động lực đến từ dopamine ham muốn, đánh giá các lựa chọn, chọn lựa công cụ, và lên chiến lược để có được thứ mà nó muốn.

Ví dụ, một chàng trai lên kế hoạch mua chiếc ô tô đầu tiên của mình. Nếu anh ta chỉ có mỗi dopamine ham muốn, thì anh ta sẽ mua ngay chiếc ô tô đầu tiên đập vào mắt anh ta. Nhưng vì anh ta cũng có dopamine kiểm soát, nên anh ta có thể chống lại thôi thúc đó. Có nhiều lý do để thích một chiếc xe thay vì một chiếc khác: thí dụ như nếu chàng trai này là một người tằn tiện, anh ta sẽ muốn chiếc xe tốt nhất với giá rẻ nhất có thể. Khai thác dopamine ham muốn, anh ta dùng hàng giờ đồng hồ để lướt web và nghiên cứu các trang đánh giá ô tô và xây dựng các chiến lược thương lượng. Anh ta muốn biết mọi thứ mà anh có thể làm để tối đa hóa giá trị của việc mua xe. Khi anh ta ngồi xuống với người bán xe, anh sẽ đã chuẩn bị rất kỹ và không có gì khiến anh ta ngạc nhiên. Anh cảm thấy khá tốt: anh đã làm chủ được tình huống mua xe này thông qua việc nắm bắt tất cả các thông tin giá trị.

Ví dụ như một cô gái trên đường đi làm. Cô ấy lái vào trạm tàu điện, đi đường vòng để tránh kẹt xe. Khi cô ấy đến trạm, cô lái vào một góc chưa bị ai chiếm trong bãi đậu xe mà ít người biết, và dễ dàng tìm được chỗ đậu. Cô chờ tàu ở chính xác vị trí mà cô biết là cửa tàu sẽ mở ra, và đứng đây sẽ giúp cô lên tàu trước tiên, dễ dàng giành được một ghế trống cho chuyến hành trình dài vào thành phố. Cô ấy cảm thấy khá tốt: cô đã làm chủ được việc đi lại của mình.

Hiểu được mọi thứ thì khá vui, và thực hiện các chiến lược để game hóa những việc phức tạp như mua xe hay di chuyển trên đường đi làm cũng khá vui. Tại sao? Như thường lệ, chức năng của dopamine xuất phát từ các mệnh lệnh tiến hóa và sống còn. Dopamine khuyến khích chúng ta tối đa hóa nguồn lực bằng cách thưởng cho chúng ta khi chúng ta làm điều đó – khi chúng ta làm được một thứ gì đó tốt, khiến cho tương lai tốt đẹp hơn, an toàn hơn, chúng ta sẽ làm cho dopamine trong chúng ta phát ra tiếng kêu “bính bong”. 

 

SỰ BỀN BỈ

Tôi chưa thất bại. Tôi chỉ tìm ra 10,000 cách khiến nó không hoạt động thôi.
- Thomas A. Edison

Một chàng trai trẻ mới tốt nghiệp đại học đến gặp chuyên gia sức khỏe tinh thần vì anh cảm thấy mình không thể định hướng bản thân ở môi trường mới. Lúc còn ở trường, anh cũng chưa rõ ràng về bản thân mình, nhưng anh cứ theo nhịp học của trường và tốt nghiệp đại học trong bốn năm như bình thường. Anh tin rằng những chương trình học và áp lực trong đó khiến cho anh phải hoàn thành mọi thứ đúng thời hạn khiến anh biết mình nên làm gì. Giờ thì anh cảm thấy lạc lõng.

Anh không có việc làm, và anh không biết mình muốn làm cái gì. Thứ duy nhất mà anh thích là hút marijuana. Anh làm phục vụ bàn trong một thời gian ngắn, nhưng sau đó bị đuổi việc vì đến trễ và bỏ việc. Cha anh giúp anh có một công việc văn phòng, nhưng anh cũng mất công việc này luôn bởi vì mọi người trong văn phòng đều biết rõ ràng rằng anh không thích thú gì các công việc được giao. Anh thờ ơ và chán nản, và cuối cùng người ta tránh xa anh.

Các mối quan hệ của anh cũng ở tình trạng tương tự. Khi còn học đại học anh có một mối quan hệ nghiêm túc với một cô gái trẻ, nhưng sau tốt nghiệp thì cô ấy chia tay với anh. Bác sĩ trị liệu của anh nghĩ rằng điều này hoàn toàn tốt vì cô ấy đã lợi dụng anh, bắt anh mua quà và đòi anh làm đủ thứ chuyện mà không hề tỏ ra có chút tình cảm nào với anh. Chàng trai biết rằng cô ấy không quan tâm gì đến mình, nhưng anh vẫn quay lại, hy vọng có thể bắt đầu lại mối quan hệ này. Cô ấy từ chối, nhưng tiếp tục lợi dụng anh mọi cách có thể; thí dụ như, yêu cầu anh lái xe 4 tiếng đồng hồ để đem tới cho cô ta cây đèn bàn mà cô ta muốn dùng trang trí cho căn hộ của mình.

Việc trị liệu hoàn toàn thất bại. Trị liệu là một công việc đòi hỏi sự chăm chỉ, và chăm chỉ là thứ không hề có trong tính cách của chàng trai này. Anh đã thử bốn bác sĩ trị liệu và dùng nhiều kỹ thuật trị liệu khác nhau, nhưng mọi thứ vẫn y như cũ. Ba năm sau đó anh vẫn không biết nên làm gì với đời mình, vẫn hút marijuana, và vẫn cố để quay lại với cô bạn gái cũ.

Thế giới không phải luôn hoạt động như cách mà chúng ta muốn. Từ nhỏ chúng ta đã biết rằng băng dính dán được giấy, nhưng không dán được những món đồ chơi hư hay những cái dĩa vỡ. Doanh nhân tạo ra kỹ thuật siêu phàm mới trong gara của mình thường ngạc nhiên khi phát hiện ra rằng thế giới chẳng quan tâm gì đến kỹ thuật siêu phàm đó. Các ý tưởng nguyên bản đòi hỏi nhiều năm nỗ lực cố gắng, và nhiều chỉnh sửa tới mức khi nó đến được với thị trường thì nó chẳng còn gì giống với nó lúc ban đầu nữa. Chỉ tưởng tượng về tương lai thôi là chưa đủ. Để một ý tưởng đơm hoa kết quả, chúng ta phải tranh đấu với những hiện thực không hề hứa hẹn chút nào ở thế giới thực. Chúng ta không chỉ cần kiến thức mà còn cần sự bền bỉ. Dopamine, hóa chất của một tương lai thành công, sẽ cho chúng ta điều đó.

CÂU CHUYỆN VỀ NHỮNG CHÚ CHUỘT QUẢ QUYẾT

Một cách để nghiên cứu về sự bền bỉ trong phòng thí nghiệm là đo lường xem một con chuột sẽ làm việc chăm chỉ đến mức nào để có được thức ăn, điển hình là bằng cách đếm xem nó sẽ nhấn cán cân bao nhiêu lần để khiến cho viên thức ăn lăn xuống cái ống vào chuồng của nó. Bằng cách tăng số lượng số lần nhấn cán cân cần thiết để có thức ăn, các nhà khoa học có thể phát hiện ra rằng liệu những con chuột của họ có sự quyết tâm để tăng nỗ lực theo đó hay không.

Các nhà nghiên cứu đến từ Đại học Connecticut muốn tìm hiểu xem liệu họ có thể điều khiển sự bền bỉ của một con chuột bằng cách thay đổi hoạt động của dopamine trong não bộ của nó không. Họ nuôi một lồng những con chuột đang ở chế độ ăn với mức calories thấp cho đến khi chúng giảm 15% cân nặng, đối với một người thì điều này tương đương với 12 kilogram. Sau khi những con chuột đói, các nhà khoa học cho chúng cơ hội để làm việc để tìm kiếm các phần thưởng dưới dạng viên nén Bioserve nhiều mùi vị, bao gồm kẹo dẻo sô cô la, rượu piña colada, và thịt xông khói – một loại đồ ăn ngon lành (ít nhất là với chuột).

Họ bắt đầu tách chuột ra làm hai nhóm. Họ chỉ định nhóm đầu tiên là nhóm kiểm soát, và họ chẳng làm gì với chúng ngoài chế độ ăn kiêng cả. Còn với nhóm thứ hai, họ tiêm một lượng thuốc độc thần kinh để phá hủy một số tế bào dopamine trong não chúng. Sau đó họ bắt đầu thí nghiệm.

Thí nghiệm đầu tiên khá đơn giản. Để nhận được món Bioserve, mỗi con chuột phải nhất cán cân ít nhất một lần. Bởi vì không cần phải làm gì nhiều – không cần phải bền bỉ - thí nghiệm này đã xây dựng lên một điều kiện cần: nó nói lên rằng những con chuột thiếu hụt dopamine cũng yêu thích món ăn này nhiều như những con chuột bình thường. Điều này rất quan trọng, vì nếu những con thiếu hụt dopamine mà không muốn món Bioserve nữa, thì các nhà khoa học sẽ không thể kiểm tra xem liệu chúng sẽ nỗ lực nhiều ra sao để có được món ăn này.

Khi không cần phải làm gì, nhóm chuột thiếu hụt dopamine nhấn cần nhiều như nhóm chuột bình thường, và ngấu nghiến món ăn mà chúng có được. Kết quả này không hề gây ngạc nhiên vì việc yêu thích và tận hưởng một thứ gì đó không thay đổi khi lượng dopamine thay đổi. Tuy nhiên, mọi thứ bắt đầu thay đổi khi những con chuột phải làm việc chăm chỉ hơn:

Khi số lần nhấn cần thiết tăng từ một lên bốn, những con chuột bình thường nhấn cán cân gần cả ngàn lần trong vòng 30 phút. Những con chuột thiếu hụt dopamine không hăng hái như vậy; chúng chỉ nhấn cán cân tầm 600 lần.

Khi số lần nhấn tăng lên mười sáu lần, những con chuột bình thường nhấn gần 2000 lần, trong khi số lần nhấn của những con chuột thiếu hụt dopamine chẳng tăng lên bao nhiêu. Chúng chỉ có được 25% số thức ăn, nhưng chúng không muốn làm việc chăm chỉ hơn.

Cuối cùng, khi số lần nhấn lên tới 64 lần để có một viên Bioserve. Những con chuột bình thường nhấn 2,500 lần – nhiều hơn 1 lần/1 giây trong suốt 30 phút. Còn những con thiếu hụt dopamine thì không hề tăng lượng việc của mình lên. Trên thực tế, chúng còn nhấn ít hơn số lần trước đó. Chúng đơn giản là đã từ bỏ.

Việc xóa bỏ dopamine có vẻ đã khiến hủy hoại ý chí làm việc của một con chuột. Nhưng họ làm thêm một thí nghiệm nữa để xác định rằng chính ý chí bền bỉ là thứ bị ảnh hưởng bởi sự hủy hoại dopamine, chứ không phải là sự yêu thích.

Kem luôn ngon lành, nhưng nếu bạn vừa ăn xong một bữa ăn thật no, thì có thể bạn sẽ không muốn ăn món tráng miệng này như lúc bạn chưa ăn gì cả. Bạn muốn ăn kem nhiều ít thế nào không liên quan đến việc liệu bạn là người chăm chỉ hay lười biếng. Nó chỉ có nghĩa là thức ăn không có nhiều ý nghĩa với bạn khi bạn không đói. Vì thế các nhà khoa học thêm vào thí nghiệm này một khía cạnh mới: họ kiểm soát sự đói bụng.

Các nhà khoa học mang vào một nhóm chuột mới, cho chúng ăn no, sau đó đem chúng đi thí nghiệm. Ở tất cả những mức độ nỗ lực – ngay cả lúc chỉ cần nhấn 1 lần – những con chuột đang no nê cũng chỉ nhấn bằng phân nửa số lần những con đang đói. Khi số lần yêu cầu tăng lên gấp đôi, chúng cũng nhân đôi nỗ lực của mình. Khi số lần tăng lên gấp bốn, chúng cũng gấp bốn lần nỗ lực. Nhưng chúng luôn dừng ở mức phân nửa so với những con chuột đói. Chúng không lười biếng. Chúng không bỏ cuộc. Chúng chỉ không muốn ăn nhiều viên thức ăn khi chúng không đói mà thôi.

Các kết quả chỉ ra một sự khác biệt tinh tế và quan trọng. Cảm giác đói (hoặc cảm giác không đói) đã thay đổi cách mà những con chuột đánh giá thức ăn, nhưng nó không làm biến mất ý chí làm việc của chúng. Cơn đói là một hiện tượng N&L, một trải nghiệm hiện tại, không phải mang tính chất dự đoán và không bị kiểm soát bởi dopamine. Khi kiểm soát cơn đói, hay những trải nghiệm cảm giác khác, bạn sẽ gây ảnh hưởng đến giá trị của phần thưởng đạt được thông qua công việc. Nhưng chính dopamine mới là thứ làm cho khiến chúng ta làm việc: nếu không có dopamine, thì không có sự nỗ lực.

Điều này cho chúng ta biết dopamine đã ảnh hưởng như thế nào đến việc chúng ta lựa chọn mình sẽ làm việc chăm chỉ hay chọn con đường dễ dàng. Đôi khi chúng ta muốn ăn một bữa thịnh soạn, và chúng ta sẵn sàng làm việc chăm chỉ để chuẩn bị nó. Đôi khi tất cả những gì ta muốn là “thư giãn” – chúng ta xé một gói Cheetos rồi ngồi trước tivi, thay vì mất vài phút để làm một món ăn đơn giản. Do đó, bước tiếp theo của các thí nghiệm là nghiên cứu về các yếu tố làm nên một lựa chọn.

Các nhà khoa học thiết kế một cái chuồng với máy phân phát Biorserve và một tô lab-chow. Món lab-chow thì nhạt nhẽo nhưng luôn có sẵn – không cần phải làm việc gì để có nó. Để có được những viên Bioserve ngon lành hơn, thì một con chuột phải nhấn cán cân 4 lần – cần nỗ lực tối thiểu, nhưng dù sao cũng phải nỗ lực. Những con chuột với mức dopamine bình thường lập tức đi nhấn cán cân để tìm các viên Bioserve. Chúng sẵn sàng cố gắng một chút để có được món ngon hơn. Mặt khác, những con thiếu hụt dopamine thì quay đầu đi ăn món lab-chow dễ dàng có được kia.

Dopamine đã khiến cho chúng ta có thể nỗ lực. Nỗ lực như thế nào thì phải xem xét rất nhiều yếu tố khác, nhưng nếu không có dopamine, thì chẳng có nỗ lực nào cả.

>>> (2)

0 nhận xét:

Đăng nhận xét