Chương
3
QUYỀN
THỐNG TRỊ
Bạn
sẽ đi bao xa?
Dopamine
mang chúng ta vượt qua sự phức tạp, nghịch cảnh, cảm xúc và nỗi đau để chúng ta
có thể kiểm soát môi trường của mình.
LÊN
KẾ HOẠCH VÀ TÍNH TOÁN
Chỉ ham muốn thôi thì ít khi bạn có được nhiều thứ. Bạn
phải tìm ra cách để đạt được nó, và liệu rằng nó có đáng để đạt được hay không.
Thực ra, khi chúng ta làm việc gì đó mà không nghĩ đến làm cách nào và tiếp theo thì
sao, thì kết quả khả dĩ nhất chính là sự thất bại. Kết quả có thể là việc
ăn quá mức cho đến việc cờ bạc liều lĩnh hay lạm dụng thuốc, và tệ hơn nữa.
Dopamine ham muốn khiến chúng ta khao khát nhiều thứ.
Nó là nguồn gốc của ham muốn thô sơ: cho
tôi nhiều hơn nữa. Nhưng chúng ta không hoàn toàn bị kiểm soát bởi ham muốn
của mình. Chúng ta cũng có một hệ thống dopamine bổ sung để tính toán bao nhiêu
trong nhiều hơn nữa là đáng để đạt được.
Nó khiến chúng ta có thể xây dựng các kế hoạch – lên chiến lược và làm chủ thế
giới xung quanh để có được thứ ta muốn. Làm sao một hóa chất đơn độc duy nhất
có thể làm được cả hai điều này? Hãy nghĩ đến nhiên liệu tên lửa cung cấp năng
lượng cho bộ máy chính của tàu không gian. Loại nhiên liệu đẩy tên lửa về phía
trước có thể được chuyển hướng để lái các động cơ đẩy định hướng để điều khiển
con tàu, cũng như các động cơ đẩy lùi để làm chậm nó. Hoàn toàn tùy thuộc vào
việc nhiên liệu sẽ chảy tới đâu và bị đốt ở đâu – các công năng khác nhau,
nhưng cùng làm việc để đưa tàu không gian đến nơi nó cần đến. Tương tự,
dopamine cũng di chuyển xuyên những mạch thần kinh chịu trách nhiệm cho những
chức năng khác nhau, và cùng hướng về một mục tiêu chung: tập trung không ngừng
nghỉ để nâng cấp tương lai.
Thôi thúc đến từ dopamine chảy qua các mạch thần kinh
trong đường giữa viền (mesolimbic), thứ mà chúng ta gọi là mạch thần kinh dopamine
ham muốn. Tính toán và lên kế hoạch – các công cụ để kiểm soát tình huống – đến
từ mạch thần kinh đường giữa vỏ (mesocortical) – thứ chúng ta gọi là mạch não
kiểm soát dopamine (hình 3). Tại sao lại gọi nó là mạch thần kinh kiểm soát? Bởi
vì mục đích của nó là quản lý những thôi thúc không kiểm soát được của dopamine
ham muốn, để dùng năng lượng thô đó và dẫn nó đến một kết quả có lợi. Tương tự,
sử dụng các khái niệm phổ quát và các chiến lược nhìn về phía trước, nó cho
phép chúng ta có được sự kiểm soát với thế giới xung quanh, và làm chủ môi trường
của chúng ta.
Thêm vào đó, mạch thần kinh kiểm soát dopamine là nguồn gốc
của trí tưởng tượng. Nó cho phép chúng ta nhìn tới tương lai để xem kết quả của
các quyết định mình tạo ra ở thời điểm hiện tại, và vì thế cho phép chúng ta chọn
loại tương lai mà mình muốn. Cuối cùng, nó cho chúng ta khả năng để lên kế hoạch
biến tương lai tưởng tượng đó thành hiện thực. Cũng như mạch thần kinh ham muốn
– chỉ quan tâm đến thứ mà chúng ta không có – mạch thần kinh kiểm soát dopamine
này cũng chỉ hoạt động trong thế giới không-thật của những điều có thể xảy ra. Hai
mạch thần kinh này xuất phát cùng một chỗ, nhưng mạch thần kinh ham muốn kết
thúc ở phần não kích thích sự hưng phấn và nhiệt tình, trong khi mạch thần kinh
kiểm soát thì chạy về phía thùy trước – khu vực não bộ chuyên trách cho các suy
nghĩ lô-gic.
Theo cách này, cả hai mạch não đều cho chúng ta khả
năng xem xét các “bóng ma” – những thứ không tồn tại bằng xương bằng thịt. Với
dopamine ham muốn, những bóng ma này là những thứ mà chúng ta mơ ước như chưa
có được – những thứ mà chúng ta muốn có trong tương lai. Với dopamine kiểm
soát, những bóng mà này chính là các khối xếp hình tạo nên trí tưởng tượng và
các suy nghĩ sáng tạo: ý tưởng, kế hoạch, lý thuyết, các khái niệm phổ quát như
toán học và sắc đẹp, và những thế giới chưa tồn tại.
Dopamine kiểm soát mang chúng ta vượt lên trên khái niệm
tôi muốn nguyên thủy của dopamine ham
muốn. Nó cho chúng ta công cụ để thấu hiểu, phân tích, và định hình thế giới
xung quanh chúng ta, từ đ1o chúng ta có thể dự đoán những điều có thể xảy ra,
so sánh chúng với nhau, và tạo ra các phương thức để đạt được mục đích. Nó là
phiên bản mở rộng và phức tạp hơn của việc thực thi các mệnh lệnh tiến hóa: để
bảo vệ nhiều nguồn lực nhất có thể. Ngược lại, dopamine ham muốn là đứa trẻ ngồi
ghế sau trong ô tô, hét lên với bố mẹ nó rằng “Nhìn kìa! Nhìn kìa!” mỗi lần nó
nhìn thấy McDonald, hay một cửa hàng đồ chơi, hay một chú chó con trên vỉa hè.
Dopamine kiểm soát là vị phụ huynh đang ngồi trước bánh lái, nghe các yêu cầu
này và xem xét xem liệu có nên dừng lại hay không – và quyết định là sẽ làm gì
nếu dừng lại. Dopamine kiểm soát xem xét sự hưng phấn và động lực đến từ
dopamine ham muốn, đánh giá các lựa chọn, chọn lựa công cụ, và lên chiến lược để
có được thứ mà nó muốn.
Ví dụ, một chàng trai lên kế hoạch mua chiếc ô tô đầu
tiên của mình. Nếu anh ta chỉ có mỗi dopamine ham muốn, thì anh ta sẽ mua ngay
chiếc ô tô đầu tiên đập vào mắt anh ta. Nhưng vì anh ta cũng có dopamine kiểm
soát, nên anh ta có thể chống lại thôi thúc đó. Có nhiều lý do để thích một chiếc
xe thay vì một chiếc khác: thí dụ như nếu chàng trai này là một người tằn tiện,
anh ta sẽ muốn chiếc xe tốt nhất với giá rẻ nhất có thể. Khai thác dopamine ham
muốn, anh ta dùng hàng giờ đồng hồ để lướt web và nghiên cứu các trang đánh giá
ô tô và xây dựng các chiến lược thương lượng. Anh ta muốn biết mọi thứ mà anh
có thể làm để tối đa hóa giá trị của việc mua xe. Khi anh ta ngồi xuống với người
bán xe, anh sẽ đã chuẩn bị rất kỹ và không có gì khiến anh ta ngạc nhiên. Anh cảm
thấy khá tốt: anh đã làm chủ được tình huống mua xe này thông qua việc nắm bắt
tất cả các thông tin giá trị.
Ví dụ như một cô gái trên đường đi làm. Cô ấy lái vào
trạm tàu điện, đi đường vòng để tránh kẹt xe. Khi cô ấy đến trạm, cô lái vào một
góc chưa bị ai chiếm trong bãi đậu xe mà ít người biết, và dễ dàng tìm được chỗ
đậu. Cô chờ tàu ở chính xác vị trí mà cô biết là cửa tàu sẽ mở ra, và đứng đây
sẽ giúp cô lên tàu trước tiên, dễ dàng giành được một ghế trống cho chuyến hành
trình dài vào thành phố. Cô ấy cảm thấy khá tốt: cô đã làm chủ được việc đi lại
của mình.
Hiểu được mọi thứ thì khá vui, và thực hiện các chiến
lược để game hóa những việc phức tạp như mua xe hay di chuyển trên đường đi làm
cũng khá vui. Tại sao? Như thường lệ, chức năng của dopamine xuất phát từ các mệnh
lệnh tiến hóa và sống còn. Dopamine khuyến khích chúng ta tối đa hóa nguồn lực
bằng cách thưởng cho chúng ta khi chúng ta làm điều đó – khi chúng ta làm được
một thứ gì đó tốt, khiến cho tương lai tốt đẹp hơn, an toàn hơn, chúng ta sẽ
làm cho dopamine trong chúng ta phát ra tiếng kêu “bính bong”.
SỰ
BỀN BỈ
Tôi chưa thất bại.
Tôi chỉ tìm ra 10,000 cách khiến nó không hoạt động thôi.
- Thomas A. Edison
Một
chàng trai trẻ mới tốt nghiệp đại học đến gặp chuyên gia sức khỏe tinh thần vì
anh cảm thấy mình không thể định hướng bản thân ở môi trường mới. Lúc còn ở trường,
anh cũng chưa rõ ràng về bản thân mình, nhưng anh cứ theo nhịp học của trường
và tốt nghiệp đại học trong bốn năm như bình thường. Anh tin rằng những chương
trình học và áp lực trong đó khiến cho anh phải hoàn thành mọi thứ đúng thời hạn
khiến anh biết mình nên làm gì. Giờ thì anh cảm thấy lạc lõng.
Anh
không có việc làm, và anh không biết mình muốn làm cái gì. Thứ duy nhất mà anh
thích là hút marijuana. Anh làm phục vụ bàn trong một thời gian ngắn, nhưng sau
đó bị đuổi việc vì đến trễ và bỏ việc. Cha anh giúp anh có một công việc văn
phòng, nhưng anh cũng mất công việc này luôn bởi vì mọi người trong văn phòng đều
biết rõ ràng rằng anh không thích thú gì các công việc được giao. Anh thờ ơ và
chán nản, và cuối cùng người ta tránh xa anh.
Các
mối quan hệ của anh cũng ở tình trạng tương tự. Khi còn học đại học anh có một
mối quan hệ nghiêm túc với một cô gái trẻ, nhưng sau tốt nghiệp thì cô ấy chia
tay với anh. Bác sĩ trị liệu của anh nghĩ rằng điều này hoàn toàn tốt vì cô ấy
đã lợi dụng anh, bắt anh mua quà và đòi anh làm đủ thứ chuyện mà không hề tỏ ra
có chút tình cảm nào với anh. Chàng trai biết rằng cô ấy không quan tâm gì đến
mình, nhưng anh vẫn quay lại, hy vọng có thể bắt đầu lại mối quan hệ này. Cô ấy
từ chối, nhưng tiếp tục lợi dụng anh mọi cách có thể; thí dụ như, yêu cầu anh
lái xe 4 tiếng đồng hồ để đem tới cho cô ta cây đèn bàn mà cô ta muốn dùng
trang trí cho căn hộ của mình.
Việc
trị liệu hoàn toàn thất bại. Trị liệu là một công việc đòi hỏi sự chăm chỉ, và
chăm chỉ là thứ không hề có trong tính cách của chàng trai này. Anh đã thử bốn
bác sĩ trị liệu và dùng nhiều kỹ thuật trị liệu khác nhau, nhưng mọi thứ vẫn y
như cũ. Ba năm sau đó anh vẫn không biết nên làm gì với đời mình, vẫn hút
marijuana, và vẫn cố để quay lại với cô bạn gái cũ.
Thế giới không phải luôn hoạt động như cách mà chúng
ta muốn. Từ nhỏ chúng ta đã biết rằng băng dính dán được giấy, nhưng không dán
được những món đồ chơi hư hay những cái dĩa vỡ. Doanh nhân tạo ra kỹ thuật siêu
phàm mới trong gara của mình thường ngạc nhiên khi phát hiện ra rằng thế giới
chẳng quan tâm gì đến kỹ thuật siêu phàm đó. Các ý tưởng nguyên bản đòi hỏi nhiều
năm nỗ lực cố gắng, và nhiều chỉnh sửa tới mức khi nó đến được với thị trường
thì nó chẳng còn gì giống với nó lúc ban đầu nữa. Chỉ tưởng tượng về tương lai
thôi là chưa đủ. Để một ý tưởng đơm hoa kết quả, chúng ta phải tranh đấu với những
hiện thực không hề hứa hẹn chút nào ở thế giới thực. Chúng ta không chỉ cần kiến
thức mà còn cần sự bền bỉ. Dopamine, hóa chất của một tương lai thành công, sẽ
cho chúng ta điều đó.
CÂU
CHUYỆN VỀ NHỮNG CHÚ CHUỘT QUẢ QUYẾT
Một cách để nghiên cứu về sự bền bỉ trong phòng thí
nghiệm là đo lường xem một con chuột sẽ làm việc chăm chỉ đến mức nào để có được
thức ăn, điển hình là bằng cách đếm xem nó sẽ nhấn cán cân bao nhiêu lần để khiến
cho viên thức ăn lăn xuống cái ống vào chuồng của nó. Bằng cách tăng số lượng số
lần nhấn cán cân cần thiết để có thức ăn, các nhà khoa học có thể phát hiện ra
rằng liệu những con chuột của họ có sự quyết tâm để tăng nỗ lực theo đó hay
không.
Các nhà nghiên cứu đến từ Đại học Connecticut muốn tìm
hiểu xem liệu họ có thể điều khiển sự bền bỉ của một con chuột bằng cách thay đổi
hoạt động của dopamine trong não bộ của nó không. Họ nuôi một lồng những con
chuột đang ở chế độ ăn với mức calories thấp cho đến khi chúng giảm 15% cân nặng,
đối với một người thì điều này tương đương với 12 kilogram. Sau khi những con
chuột đói, các nhà khoa học cho chúng cơ hội để làm việc để tìm kiếm các phần
thưởng dưới dạng viên nén Bioserve nhiều mùi vị, bao gồm kẹo dẻo sô cô la, rượu
piña colada, và thịt xông khói
– một loại đồ ăn ngon lành (ít nhất là với chuột).
Họ bắt đầu tách chuột ra làm hai nhóm. Họ chỉ định
nhóm đầu tiên là nhóm kiểm soát, và họ chẳng làm gì với chúng ngoài chế độ ăn
kiêng cả. Còn với nhóm thứ hai, họ tiêm một lượng thuốc độc thần kinh để phá hủy
một số tế bào dopamine trong não chúng. Sau đó họ bắt đầu thí nghiệm.
Thí nghiệm đầu tiên khá đơn giản. Để nhận được món
Bioserve, mỗi con chuột phải nhất cán cân ít nhất một lần. Bởi vì không cần phải
làm gì nhiều – không cần phải bền bỉ - thí nghiệm này đã xây dựng lên một điều
kiện cần: nó nói lên rằng những con chuột thiếu hụt dopamine cũng yêu thích món
ăn này nhiều như những con chuột bình thường. Điều này rất quan trọng, vì nếu
những con thiếu hụt dopamine mà không muốn món Bioserve nữa, thì các nhà khoa học
sẽ không thể kiểm tra xem liệu chúng sẽ nỗ lực nhiều ra sao để có được món ăn
này.
Khi không cần phải làm gì, nhóm chuột thiếu hụt
dopamine nhấn cần nhiều như nhóm chuột bình thường, và ngấu nghiến món ăn mà
chúng có được. Kết quả này không hề gây ngạc nhiên vì việc yêu thích và tận hưởng
một thứ gì đó không thay đổi khi lượng dopamine thay đổi. Tuy nhiên, mọi thứ bắt
đầu thay đổi khi những con chuột phải làm việc chăm chỉ hơn:
Khi số lần nhấn cần thiết
tăng từ một lên bốn, những con chuột bình thường nhấn cán cân gần cả ngàn lần
trong vòng 30 phút. Những con chuột thiếu hụt dopamine không hăng hái như vậy;
chúng chỉ nhấn cán cân tầm 600 lần.
Khi số lần nhấn tăng lên
mười sáu lần, những con chuột bình thường nhấn gần 2000 lần, trong khi số lần
nhấn của những con chuột thiếu hụt dopamine chẳng tăng lên bao nhiêu. Chúng chỉ
có được 25% số thức ăn, nhưng chúng không muốn làm việc chăm chỉ hơn.
Cuối cùng, khi số lần nhấn
lên tới 64 lần để có một viên Bioserve. Những con chuột bình thường nhấn 2,500
lần – nhiều hơn 1 lần/1 giây trong suốt 30 phút. Còn những con thiếu hụt
dopamine thì không hề tăng lượng việc của mình lên. Trên thực tế, chúng còn nhấn
ít hơn số lần trước đó. Chúng đơn giản là đã từ bỏ.
Việc xóa bỏ dopamine có vẻ đã khiến hủy hoại ý chí làm
việc của một con chuột. Nhưng họ làm thêm một thí nghiệm nữa để xác định rằng
chính ý chí bền bỉ là thứ bị ảnh hưởng bởi sự hủy hoại dopamine, chứ không phải
là sự yêu thích.
Kem luôn ngon lành, nhưng nếu bạn vừa ăn xong một bữa
ăn thật no, thì có thể bạn sẽ không muốn ăn món tráng miệng này như lúc bạn
chưa ăn gì cả. Bạn muốn ăn kem nhiều ít thế nào không liên quan đến việc liệu bạn
là người chăm chỉ hay lười biếng. Nó chỉ có nghĩa là thức ăn không có nhiều ý
nghĩa với bạn khi bạn không đói. Vì thế các nhà khoa học thêm vào thí nghiệm
này một khía cạnh mới: họ kiểm soát sự đói bụng.
Các nhà khoa học mang vào một nhóm chuột mới, cho
chúng ăn no, sau đó đem chúng đi thí nghiệm. Ở tất cả những mức độ nỗ lực –
ngay cả lúc chỉ cần nhấn 1 lần – những con chuột đang no nê cũng chỉ nhấn bằng
phân nửa số lần những con đang đói. Khi số lần yêu cầu tăng lên gấp đôi, chúng
cũng nhân đôi nỗ lực của mình. Khi số lần tăng lên gấp bốn, chúng cũng gấp bốn
lần nỗ lực. Nhưng chúng luôn dừng ở mức phân nửa so với những con chuột đói.
Chúng không lười biếng. Chúng không bỏ cuộc. Chúng chỉ không muốn ăn nhiều viên
thức ăn khi chúng không đói mà thôi.
Các kết quả chỉ ra một sự khác biệt tinh tế và quan trọng.
Cảm giác đói (hoặc cảm giác không đói) đã thay đổi cách mà những con chuột đánh
giá thức ăn, nhưng nó không làm biến mất ý chí làm việc của chúng. Cơn đói là một
hiện tượng N&L, một trải nghiệm hiện tại, không phải mang tính chất dự đoán
và không bị kiểm soát bởi dopamine. Khi kiểm soát cơn đói, hay những trải nghiệm
cảm giác khác, bạn sẽ gây ảnh hưởng đến giá
trị của phần thưởng đạt được thông qua công việc. Nhưng chính dopamine mới
là thứ làm cho khiến chúng ta làm việc: nếu không có dopamine, thì không có sự
nỗ lực.
Điều này cho chúng ta biết dopamine đã ảnh hưởng như
thế nào đến việc chúng ta lựa chọn mình sẽ làm việc chăm chỉ hay chọn con đường
dễ dàng. Đôi khi chúng ta muốn ăn một bữa thịnh soạn, và chúng ta sẵn sàng làm
việc chăm chỉ để chuẩn bị nó. Đôi khi tất cả những gì ta muốn là “thư giãn” –
chúng ta xé một gói Cheetos rồi ngồi trước tivi, thay vì mất vài phút để làm một
món ăn đơn giản. Do đó, bước tiếp theo của các thí nghiệm là nghiên cứu về các
yếu tố làm nên một lựa chọn.
Các nhà khoa học thiết kế một cái chuồng với máy phân
phát Biorserve và một tô lab-chow. Món lab-chow thì nhạt nhẽo nhưng luôn có sẵn
– không cần phải làm việc gì để có nó. Để có được những viên Bioserve ngon lành
hơn, thì một con chuột phải nhấn cán cân 4 lần – cần nỗ lực tối thiểu, nhưng dù
sao cũng phải nỗ lực. Những con chuột với mức dopamine bình thường lập tức đi
nhấn cán cân để tìm các viên Bioserve. Chúng sẵn sàng cố gắng một chút để có được
món ngon hơn. Mặt khác, những con thiếu hụt dopamine thì quay đầu đi ăn món lab-chow
dễ dàng có được kia.
Dopamine đã khiến cho chúng ta có thể nỗ lực. Nỗ lực
như thế nào thì phải xem xét rất nhiều yếu tố khác, nhưng nếu không có
dopamine, thì chẳng có nỗ lực nào cả.

0 nhận xét:
Đăng nhận xét