Chương
1
TÌNH
YÊU
Bạn
đã tìm thấy tình yêu của đời mình, vậy cớ sao tuần trăng mật chẳng thể kéo dài
mãi mãi?
Trong
này chúng tôi tìm hiểu loại hóa chất khiến bạn muốn tình dục và khiến bạn yêu
đương ai đó – nhưng tại sao, sớm hay muộn, mọi thứ lại thay đổi.
Shawn
lau khô tấm gương trong phòng tắm đầy hơi nước, vuốt mớ tóc đen của mình và mỉm
cười. “Vầy là được.” Anh nói.
Anh
cởi chiếc khăn quấn ngang hông ra và tự ngưỡng mộ vùng bụng phẳng lì của mình.
Sự ám ảnh của anh với phòng gym đã tạo ra 2/3 trong khối vùng bụng sáu múi. Sau
đó, tâm trí anh chuyển sang một nỗi ám ảnh bức xúc hơn: anh chưa hẹn hò với ai
kể từ hồi tháng 2. Đây là cách diễn đạt tử tế cho việc anh chưa quan hệ tình dục
với ai trong vòng bảy tháng ba ngày rồi – và anh khá bực mình khi nhận ra bản
thân đang đếm từng ngày. Chuỗi ngày đó sẽ kết thúc vào tối nay – anh nghĩ.
Ở
quán bar, anh khảo sát các đối tượng tiềm năng. Có rất nhiều phụ nữ hấp dẫn ở
đây vào tối nay – không chỉ hấp dẫn bởi vẻ ngoài. Dĩ nhiên là anh nhớ chuyện
tình dục, nhưng anh cũng nhớ việc có ai đó ở bên cạnh, có ai đó để nhắn tin mà
không cần lý do, ai đó là một phần của cuộc sống hàng ngày. Anh tin rằng bản
thân mình là tuýp người lãng mạn, ngay cả khi mối quan hệ chỉ là về tình dục.
Anh
liên tục bắt gặp ánh nhìn của một phụ nữ trẻ đứng nói chuyện với bạn bè cô ấy ở
bàn phía trên. Cô ấy có mái tóc đen và đôi mắt nâu, và anh chú ý đến cô vì cô
không mặc đồng phục ngày thứ bảy; cô đi giầy bệt thay vì cao gót, và cô mặc đồ
Levis thay vì trang phục đi bar. Anh tự giới thiệu bản thân và họ nhanh chóng
trò chuyện dễ dàng. Cô ấy tên là Samantha, và điều đầu tiên cô nói với anh là
cô thích tập thể hình hơn là uống bia. Chuyện này khiến cho cuộc trò chuyện trở
nên sâu sắc hơn, họ bàn với nhau về các phòng gym lân cận, các ứng dụng tập thể
thao, và lợi ích của việc tập buổi sáng hay tập buổi trưa. Anh ấy ở bên cô cả
đêm, và cô cũng nhanh chóng cảm thấy thích thú vị có anh ở bên.
Có
nhiều yếu tố đẩy họ lại gần nhau và sẽ tạo nên mối quan hệ lâu dài; sở thích
chung, cảm giác ở bên nhau dễ chịu, cả thức uống và một chút tuyệt vọng. Nhưng
không có thứ gì trong số đó là chìa khóa dẫn đến tình yêu. Yếu tố quan trọng nhất
là đây: họ đang bị ảnh hưởng bởi một thứ hóa chất thay đổi trí óc. Tất cả mọi
người trong bar đều như vậy.
Và,
hóa ra, bạn cũng như vậy.
CÁI
GÌ CÒN MẠNH MẼ HƠN CẢ NIỀM VUI?
Người ta tìm ra Dopamine vào năm 1957 bởi Kathleen
Montagu, một nhà nghiên cứu làm việc trong phòng thí nghiệm ở bệnh viện Runwell
gần London. Đầu tiên, người ta cho rằng dopamine chỉ dùng để tạo ra một hóa chất
có tên là norepinephrine – tên gọi của adrenaline khi người ta tìm thấy chất
này trong não. Nhưng sau đó các nhà khoa học bắt đầu quan sát được những hiện
tượng lạ. Chỉ có 0.0005% tế bào não sản xuất ra dopamine – 1 phần hai triệu –
nhưng những thế bào này dường như tạo ra một ảnh hưởng khổng lồ đối với hành
vi. Các đối tượng thí nghiệm trải nghiệm cảm giác vui vẻ khi họ bật dopamine
lên, và phải cố gắng hết sức để kích hoạt những tế bào hiếm này. Thật ra, trong
tình huống hợp lý, thì việc chống lại cảm giác tốt đẹp khi dopamine được kích
hoạt là không thể làm được. Một số các nhà khoa học đặt tên cho dopamine là phân tử niềm vui, và con đường mà các tế
bào sản xuất ra dopamine được gọi là mạch
não khen thưởng.
Danh tiếng của dopamine như một phân tử niềm vui được
củng cố bằng các thí nghiệm với người nghiện thuốc. Các nhà thí nghiệm tiêm cho
họ một hợp chất cocaine và đường phóng xạ, điều này cho phép các nhà khoa học
tìm ra phần nào của não đốt calories nhiều nhất. Khi lượng cocaine được tiêm
vào tĩnh mạch bắt đầu phát huy tác dụng, các đối tượng thí nghiệm được yêu cầu
đánh giá mức độ phê mà họ cảm nhận được. Những nhà nghiên cứu khám phá ra rằng
lượng dopamine càng cao, thì người ta càng phê. Khi cơ thể dọn sạch cocaine ra
khỏi não, thì lượng dopamine cũng giảm, và cơn phê tan biến. Các nghiên cứu khác
cũng cho ra kết quả tương tự. Vai trò phân tử niềm vui của dopamine được thiết
lập từ đó.
Những nhà nghiên cứu khác thử nhân đôi kết quả, và những
điều bất ngờ bắt đầu xuất hiện. Họ lý giải rằng, việc sản sinh dopamine không
khiến người ta phê thuốc. Ma túy mới là thứ tạo ra hình thức nhân tạo của việc
sản sinh dopamine. Có vẻ như quá trình tiến hóa tạo ra dopamine bắt nguồn từ
nhu cầu sinh tồn và hoạt động tái sinh sản. Vì thế, họ thử thay thế cocaine bằng
thức ăn, hy vọng nhìn thấy hiệu quả tương tự. Thứ mà họ tìm thấy khiến tất cả mọi
người kinh ngạc. Nó kết thúc chuỗi ngày tháng dopamine được cho là phân tử của
niềm vui.
Họ khám phá ra rằng, dopamine không hề liên quan đến
niềm vui. Dopamine tạo ra một thứ cảm giác còn ảnh hưởng lớn hơn. Hiểu được dopamine
chính là chìa khóa để giải thích và thậm chí là suy đoán hành vi xuyên suốt một chuỗi ngoạn mục những nỗ lực của
con người: tạo ra nghệ thuật, văn chương, và âm nhạc; tìm kiếm thành công; khám
phá thế giới mới và quy luật tự nhiên mới; nghĩ về Thượng Đế - và yêu.
Shawn
biết là anh đã yêu rồi. Sự bất an của anh tan biến. Mỗi một ngày anh đều cảm thấy
mình đang tiến gần hơn đến một tương lai sáng lạn. Anh càng ở bên cạnh Samantha
thì anh càng yêu thích cô ấy, và cảm giác mong đợi của anh xuất hiện thường
xuyên. Mỗi một suy nghĩ về cô ấy đều mang lại cho anh vô số những mong đời. Còn
về tình dục, thì ham muốn của anh mạnh mẽ hơn bao giờ hết, nhưng chỉ dành cho
cô ấy thôi. Những người phụ nữ khác giống như không còn tồn tại vậy. Thậm chí,
khi anh thú nhận sự hạnh phúc của mình với Samantha, cô ấy ngắt lời anh và nói
rằng cô ấy cũng cảm thấy như vậy.
Shawn
muốn chắc chắn rằng họ sẽ ở bên nhau mãi mãi, vì vậy, một ngày nọ, anh cầu hôn
cô. Và cô đồng ý.
Vài
tháng sau tuần trăng mật, mọi thứ bắt đầu thay đổi. Ban đầu họ dính chặt lấy
nhau, nhưng, thời gian qua đi, sự dính chặt lấy nhau ấy đã bớt chặt đi. Niềm
tin rằng bất kỳ thứ gì cũng có thể trở nên ít chắc chắn, ít ám ảnh, và ít quan
trọng. Sự phấn khởi của họ giảm dần. Họ không hẳn là không hạnh phúc, nhưng sự
thỏa mãn to lớn mà họ có ở giai đoạn đầu đang trượt dần đi. Cảm giác vĩnh cửu
trở nên thiếu thực tế. Suy nghĩ về nhau – thứ trước đây thường xuất hiện – giờ
đã không còn. Shawn bắt đầu chú ý đến những người phụ nữ khác, dù anh không có
ý ngoại tình. Samantha thi thoảng cũng tán tỉnh ai đó, dù đó chỉ là việc cười với
một chàng trai trẻ mang túi hàng hóa đang xếp hàng chờ thanh toán.
Họ
vẫn vui vẻ với nhau, nhưng sự bóng loáng của cuộc sống mới bắt đầu trở nên cũ kỹ.
Phép mầu – dù đó là gì đi nữa – bắt đầu tan biến.
Cũng như mối quan hệ cũ của mình thôi, Samantha nghĩ.
Chuyện này đã làm rồi, quen quá rồi, Shawn nghĩ.
KHỈ
VÀ CHUỘT VÀ TẠI SAO NGƯỜI TA HẾT YÊU
Trên một số phương diện, nghiên cứu về loài chuột dễ
hơn so với loài người. Các nhà khoa học có thể làm đủ thứ với chúng mà không cần
phải lo lắng về việc ủy ban đạo đức nghiên cứu sẽ gõ cửa nhà họ. Để kiểm tra giả
thuyết rằng cả thức ăn và thuốc phiện đều có thể thúc đẩy sản sinh dopamine,
các nhà khoa học đã cấy các điện cực trực tiếp vào não chuột để họ có thể đo trực
tiếp hoạt động của từng nơ-ron dopamine. Sau đó, học tạo ra những cái lồng với
cái máng hứng các viên thức ăn. Kết quả đúng như những gì họ trông đợi. Ngay
khi họ thả viên thức ăn xuống, hệ thống dopamine trong chuột sáng bừng lên.
Thành công rồi! Phần thưởng tự nhiên đã thúc đẩy hoạt động của dopamine giống y
như cách mà cocaine và các loại thuốc phiện khác đã làm.
Sau đó họ làm thêm một điều mà những nhà thí nghiệm
ban đầu chưa từng làm. Họ tiếp tục quan sát não chuột khi các viên thức ăn khác
được thả xuống máng ăn, ngày này qua ngày khác. Kết quả hoàn toàn ngoài dự
đoán. Những con chuột ngấy nghiên các viên thức ăn như thường lệ. Chúng rõ ràng
rất thích thức ăn. Nhưng hoạt động của dopamine lại bị tắt đi. Tại sao dopamine
lại ngưng hoạt động khi thứ thúc đẩy chúng vẫn còn? Câu trả lời đến từ một nguồn
khác: con khỉ và cái bóng đèn.
Wolfram Schultz là một trong những nhà tiên phong về
thí nghiệm dopamine có ảnh hưởng lớn nhất. Là một giáo sư khoa thần kinh ở Đại
Học Fribourg, Thụy Sĩ, ông bắt đầu hứng thú với việc nghiên cứu vai trò của
dopamine. Ông cấy các điện cực vào các chùm nơ ron dopamine trong não của các
con khỉ đuôi dài. Sau đó đặt chúng vào bộ máy có 2 cái bóng đèn và 2 cái hộp.
Các bóng đèn lần lượt bật sáng trong một thời điểm nhất định. Một bóng đèn là
tín hiệu rằng con khỉ có thể tìm thấy các viên thức ăn ở cái hộp bên phải. Cái
bóng đèn kia có ý nghĩ rằng các viên thức ăn sẽ ở cái hộp bên trái.
Con khỉ mất một ít thời gian để tìm ra quy luật này.
Ban đầu chúng mở hộp một cách ngẫu nhiên, và tầm nửa tiếng sau thì chúng mở
đúng hộp. Khi chúng tìm thấy thức ăn, các tế bào dopamine trong não chúng phun
ra, giống như ở loài chuột. Sau một khoảng thời gian, trong mỗi một lần những
con khỉ đều nhận ra tín hiệu và tìm được hộp chứa thức ăn chính xác – và khi
đó, thời điểm mà dopamine được giải phóng bắt đầu thay đổi: từ thời điểm khám
phá ra thức ăn, bây giờ dopamine được phun ra mỗi khi đèn phát sáng. Tại sao lại
như vậy?
Việc nhìn thấy các bóng đèn được bật sáng luôn luôn
không được dự báo trước. Nhưng khi con khỉ phát hiện ra rằng bóng đèn phát sáng
nghĩa là chúng sắp có thức ăn, cảm giác “ngạc nhiên” của chúng hoàn toàn đến từ
sự phát sáng của bóng đèn, chứ không phải đến từ thức ăn nữa. Từ đây, một giả
thuyết mới được hình thành: hoạt động của dopamine không phải là dấu hiệu của
khoái cảm. Nó là phản ứng với với những việc không mong đợi – với các khả năng
có thể xảy ra và sự dự đoán.
Là con người, chúng ta cảm nhận một cơn sốt dopamine đến
từ các ngạc nhiên hứa hẹn tương tự: thư tình từ người yêu (người đó sẽ nói gì nhỉ?), email từ một người bạn mà bạn không gặp
hàng năm trời (người đó có tin gì mới
đây?), hay, nếu bạn tìm kiếm sự lãng mạn, gặp gỡ một người bạn thú vị ở một
quán ba quen thuộc (chuyện gì sẽ xảy ra
đây?). Nhung khi những điều này trở thành các sự kiện thường xuyên, tính mới
lạ của chúng biến mất, và cơn sốt dopamine cũng biến theo – thư tình dù có ngọt
ngào hơn, hay bức email có dài hơn, ngay người bạn mới có thú vị hơn, thì cơn sốt
dopamine cũng chẳng trở lại.
Ý tưởng đơn giản này đã giải đáp về phương diện hóa học
cho câu hỏi xưa cũ rằng: tại sao tình yêu lại phai nhạt dần đi? Bộ não của
chúng ta được lập trình để khao khát những thứ không đoán trước được, và vì thế,
chúng ta luôn nhìn tới tương lai, nơi mà mọi điều gây hứng thú có khả năng xảy
ra. Nhưng khi thứ gì đó, bao gồm tình yêu, trở nên quen thuộc, sự hứng thú đó
trượt khỏi tay ta, còn những thứ mới mẻ khác thì thu hút sự chú ý của ta.
Các nhà khoa học đã nghiên cứu hiện tượng này và gọi sự
hào hứng mà chúng ta có được sự những thứ mới lạ là lỗi dự đoán phần thưởng, và ý nghĩa của nó đúng như tên gọi của nó.
Chúng ta luôn luôn dự đoán về điều sắp xảy ra, từ việc mấy giờ thì chúng ta tan
làm, đến số dư trong ngân hàng khi chúng ta kiểm tra thẻ ATM của mình. Khi điều
gì đó xảy ra tốt hơn chúng ta dự đoán, thì đó rõ ràng là một lỗi dự đoán theo
đúng nghĩa đen: có thể chúng ta được tan làm sớm hơn, hay chúng ta phát hiện
mình có nhiều hơn $100 so với mức mình dự đoán. Chính các lỗi dự đoán vui vẻ là
thứ khiến dopamine hoạt động. Chứ không phải là thời gian hay tiền bạc dư ra.
Nó là sự bất ngờ đến từ những tin vui không đoán trước.
Trên thực tế, chỉ riêng mỗi khả năng có thể xảy ra của
lỗi dự đoán phần thưởng cũng đã đủ cho dopamine xuất hiện. Hãy tưởng tượng bạn
đang đi bộ đến chỗ làm trên con đường quen thuộc mà bạn đã đi rất nhiều lần trước
đây. Bất thình lình bạn phát hiện ra một cửa hàng bánh mới mở, một cửa hàng mà
bạn chưa thấy bao giờ. Ngay lập tức bạn muốn ghé vào xem họ bán thứ gì. Đó là
vì dopamine đã nắm quyền kiểm soát, và nó tạo ra một cảm giác khác biệt so với
việc thích thú trước mùi vị, cảm giác, hay vẻ ngoài của thứ gì đó. Nó là khoái
cảm đến từ sự dự đoán – khả năng về một thứ không quen thuộc và tốt hơn. Bạn
thích thú trước cửa hàng bánh, nhưng bạn chưa từng ăn bánh của họ, chưa từng uống
qua cà phê của họ, và thậm chí chưa từng bước vào xem thử bên trong ra sao.
Bạn đi vào trong và gọi một tách cà phê đen và một cái
bánh sừng trâu. Bạn nếm thử cà phê. Những mùi vị phức tạp chạy dọc lưỡi bạn.
Đây là món cà phê ngon nhất mà bạn từng được uống. Sau đó bạn cắn miếng bánh sừng
trâu. Nó thơm bơ và giòn tan, y hệt như cái bánh mà bạn từng ăn ở một quán cà
phê ở Paris mà bạn đã đến vào nhiều năm trước. Giờ thì bạn cảm thấy thế nào? Có
lẽ là cuộc đời bạn sẽ tốt hơn một tí nếu ngày nào cũng được bắt đầu như thế này.
Từ hôm nay bạn sẽ ghé vào đây mỗi buổi sáng để ăn sáng, để uống tách cà phê
ngon nhất và ăn cái bánh sừng trâu giòn tan nhất trong thành phố này. Bạn sẽ
nói với bạn bè về tiệm bánh này, có lẽ nhiều hơn mức mà họ muốn nghe. Bạn sẽ
mua một cái tách với tên của bạn in trên đó. Thậm chí bạn sẽ cảm thấy hứng thú
hơn để bắt đầu ngày mới bởi vì, à, đây là
một quán cà phê quá đỉnh, chính thế. Đó là dopamine đang hoạt động.
Cứ như thể bạn đã yêu quán cà phê này rồi.
Nhưng thi thoảng khi chúng ta có thứ mà bản thân muốn,
nó hóa ra lại không vui vẻ như chúng ta mong đợi. Sự hưng phấn đến từ dopamine
(dopaminergic excitement) (còn gọi là, sự phấn khởi của việc dự đoán) không kéo
dài mãi mãi, vì cuối cùng thì tương lai cũng trở thành hiện tại. Bí ẩn gây hưng
phấn đến từ những điều chưa biết dần dần trở thành sự quen thuộc nhàm chán hàng
ngày, ở thời điểm này dopamine đã làm xong công việc của nó rồi, cho nên nó tan
biến. Cà phê và bánh sừng trâu đã từng rất ngon, bạn đã từng thường xuyên ghé
quán cà phê đó để ăn sáng. Nhưng sau vài tuần, thì “món cà phê và bánh sừng
trâu ngon nhất thành phố” trở thành món ăn sáng cũ kỹ quen thuộc.
Nhưng, thứ thay đổi không phải là cà phê và bánh sừng
trâu; mà là mong đợi của bạn.
Cũng theo cách này, Samantha và Shawn từng yêu nhau
tha thiết cho đến khi mối quan hệ của họ trở nên hoàn toàn quen thuộc. Khi mọi
thứ trở thành một phần thói quen hàng ngày, chẳng còn phần thưởng nào cho những
lỗi dự đoán nữa, và dopamine cũng không sản sinh ra để cho bạn các cảm giác
hưng phấn. Shawn và Samantha gây bất ngờ cho nhau giữa muôn trùng những gương mặt
xa lạ ở quán bar, sau đó say đắm nhau cho đến khi tương lai đầy niềm vui không
ngớt trong tưởng tượng của họ trở thành trải nghiệm thực tế cụ thể. Nhiệm vụ của
dopamine – và năng lực của nó – để lý tưởng hóa những điều chưa biết đã kết
thúc, vì thế dopamine tắt ngúm.
Niềm đam mê trỗi dậy khi chúng ta mơ tưởng về một thế
giới đầy những điều có thể xảy ra, và tan biến khi chúng ta đối diện thực tế.
Khi nam thần/nữ thần tình yêu vẫy gọi bạn từ khuê phòng biến thành người vợ/chồng
ngái ngủ xì mũi vào một cái khăn giấy nhăn nhúm, bản chất của tình yêu – lý do
để chúng ta tiếp tục bên nhau – phải được thay đổi từ những giấc mơ tạo ra bởi
dopamine thành… một thứ khác. Cơ mà, thứ gì bây giờ?
MỘT
BỘ NÃO, HAI THẾ GIỚI
Jogn Douglas Pettigre, giáo sư danh dự của ngành sinh
lý học ở Đại Học Queensland, Úc, là người bản địa ở một thành phố có cái tên
vui vẻ là Wagga Wagga. Pettigrew có một sự nghiệp xuất sắc với vai trò là nhà
khoa học thần kinh, và nổi tiếng với thuyết về loài linh trưởng bay mới, nội
dung của thuyết này đã khiến cho dơi được xem như họ hàng xa của chúng ta. Khi
nghiên cứu ý tưởng này, Pettigrew đã trở thành người đầu tiên chỉ rõ cách mà
não của chúng ta tạo ra một bản đồ thế giới ba chiều. Việc này nghe hơi không
liên quan tới các mối quan hệ đầy đam mê, nhưng hóa ra nó lại chính là chìa
khóa giải thích cho dopamine và tình yêu.
Pettigrew đã phát hiện ra rằng bộ não lý giải thế giới
bên ngoài bằng cách chia nó ra làm những phần riêng biệt, phụ cận (peripersonal) và ngoại
vi (extrapersonal) – về cơ bản là gần và xa. Không gian phụ cận bao gồm những
thứ chúng ta có thể với được trong tầm tay; những thứ mà bạn có thể điều khiển
ngay lập tức bằng tay của bạn. Đây là thế giới thực – hiện tại. Không gian ngoại
vi chỉ những thứ khác – bất kỳ thứ gì mà bạn không chạm được trừ phi bạn vươn
ra khỏi phạm vi mà tay bạn có thể với tới, dù khoảng cách này là một mét hay
sáu triệu kilomet. Đây là lãnh địa của những
điều có thể xảy ra. (possibility)
Định nghĩa về nơi chốn này kéo theo một sự thật khác,
rõ ràng và hữu ích: vì việc di chuyển từ chỗ này đến chỗ khác tốn thời gian,
nên bất kỳ tương tác nào với không gian ngoại vi đều xảy ra trong tương lai.
Hay nói cách khác, khoảng cách kết nối chặt chẽ với thời gian. Ví dụ, nếu bạn
thèm một trái đào, nhưng trái đào gần bạn nhất đang nằm ở quầy hàng ở chợ, thì
bạn không ăn nó ngay được. Bạn chỉ có thể ăn nó trong tương lai, khi bạn đi mua
nó. Để có được thứ gì đó ngoài tầm với đôi khi cũng cần phải có kế hoạch. Kế hoạch
có thể đơn giản là đứng dậy bật đèn, hoặc đi đến chợ mua trái đào, hoặc tìm ra
cách phóng tên lửa lên mặt trăng. Điều này định hình tính chất của những thứ ở
không gian ngoại vi: chúng đòi hỏi nỗ lực, thời gian, và trong nhiều trường hợp
– chúng đòi hỏi phải có kế hoạch. Ngược lại, những thứ trong không gian phụ cần
có thể trải nghiệm ngay và luôn. Những trải nghiệm này có thể thực hiện ngay lập
tức. Chúng ta chạm vào, nếm thử, cầm nắm, siết chặt; chúng ta cảm thấy hạnh
phúc, buồn bã, tức giận, và thích thú.
Điều này đã giải thích rõ ràng về cơ chế hóa thần
kinh: bộ não hoạt động theo phương thức không gian phụ cận và phương thức không
gian ngoại vi. Nếu bạn đang thiết kế tâm trí người khác, thì sẽ hợp lý nếu bạn
tạo ra bộ não phân biệt các thứ theo cách này, một hệ thống dành cho những thứ
bạn có và một hệ thống khác dành cho những thứ bạn không có. Đối với con người
thưở sơ khai, cụm từ quen thuộc “có nó hoặc không có nó” có thể được dịch thành
“có nó hoặc là chết”.
Dưới quan điểm tiến hóa, thức ăn mà bạn không có vô
cùng khác biệt với thức ăn mà bạn có. Nước, nhà ở, công cụ, cũng tương tự. Sự
khác biệt này quá cơ bản tới mức nó chia tách các cơ chế và hóa chất tiến hóa
trong não để xử lý không gian phụ cận và ngoại vi. Khi bạn nhìn xuống, bạn nhìn
vào không gian phụ cận, và não được điều khiển bởi các hóa chất liên quan tới
trải nghiệm ngay và luôn. Nhưng khi não bạn xử lý không gian ngoại vi, một hóa
chất khác chiếm quyền kiểm soát – loại hóa chất liên quan đến sự dự đoán và
tính khả dĩ: dopamine. Những thứ ở xa, những thứ mà chúng ta chưa có, không thể
hấp thụ ngay được, chỉ có thể mơ ước. Dopamine có một vai trò rất cụ thể: mở rộng
tối đa nguồn lực trong tương lai của chúng ta, theo đuổi những thứ tốt đẹp hơn.
Mỗi một phần trong cuộc sống đều được chia theo cách
này: chúng ta có một phương thức để xử lý thứ chúng ta muốn, và một phương thức
khác để xử lý thứ chúng ta có. Muốn một ngôi nhà, trải nghiệm loại khao khát
thúc đẩy việc phải làm việc chăm chỉ để tìm kiếm và mua nó, điều này được thực
hiện trong một chuỗi cách mạch não khác với các mạch não hoạt động khiến bạn tận
hưởng khi có được ngôi nhà mơ ước đó. Đoán trước rằng sẽ được tăng lương sản
sinh lượng dopamine tập trung vào tương lai, và cảm giác này rất khác so với loại
trải nghiệm ngay-và-luôn khi nhận được bảng lương lớn hơn hai hay ba lần gì đó.
Và tìm kiếm tình yêu là việc đòi hỏi một loạt những kỹ năng khác với kỹ năng giữ
gìn tình yêu. Tình yêu phải thay đổi từ trải nghiệm ngoại vi trở thành một trải
nghiệm phụ cận – từ việc truy đuổi trở thành việc sở hữu; từ một thứ mà chúng
ta dự đoán trở thành thứ mà chúng ta giữ gìn. Những kỹ năng này có khác biệt to
lớn, đây là lý do mà tình yêu phải thay đổi theo thời gian – và cũng là lý do
mà tại sao đối với nhiều người, tình yêu lại tan biến khi cơn sốt dopamine – thứ
mà chúng ta gọi sự lãng mạn – kết thúc.
Nhưng nhiều người có thể thực hiện được sự thay đổi
này. Họ làm nó bằng cách nào – sao họ lại có thể vượt qua sự quyến rũ của
dopamine?
0 nhận xét:
Đăng nhận xét