Thứ Năm, 11 tháng 8, 2022

The Molecule Of More - chương 1 (1)

 

Chương 1

TÌNH YÊU

Bạn đã tìm thấy tình yêu của đời mình, vậy cớ sao tuần trăng mật chẳng thể kéo dài mãi mãi?

Trong này chúng tôi tìm hiểu loại hóa chất khiến bạn muốn tình dục và khiến bạn yêu đương ai đó – nhưng tại sao, sớm hay muộn, mọi thứ lại thay đổi.

 

 

Shawn lau khô tấm gương trong phòng tắm đầy hơi nước, vuốt mớ tóc đen của mình và mỉm cười. “Vầy là được.” Anh nói.

Anh cởi chiếc khăn quấn ngang hông ra và tự ngưỡng mộ vùng bụng phẳng lì của mình. Sự ám ảnh của anh với phòng gym đã tạo ra 2/3 trong khối vùng bụng sáu múi. Sau đó, tâm trí anh chuyển sang một nỗi ám ảnh bức xúc hơn: anh chưa hẹn hò với ai kể từ hồi tháng 2. Đây là cách diễn đạt tử tế cho việc anh chưa quan hệ tình dục với ai trong vòng bảy tháng ba ngày rồi – và anh khá bực mình khi nhận ra bản thân đang đếm từng ngày. Chuỗi ngày đó sẽ kết thúc vào tối nay – anh nghĩ.

Ở quán bar, anh khảo sát các đối tượng tiềm năng. Có rất nhiều phụ nữ hấp dẫn ở đây vào tối nay – không chỉ hấp dẫn bởi vẻ ngoài. Dĩ nhiên là anh nhớ chuyện tình dục, nhưng anh cũng nhớ việc có ai đó ở bên cạnh, có ai đó để nhắn tin mà không cần lý do, ai đó là một phần của cuộc sống hàng ngày. Anh tin rằng bản thân mình là tuýp người lãng mạn, ngay cả khi mối quan hệ chỉ là về tình dục.

Anh liên tục bắt gặp ánh nhìn của một phụ nữ trẻ đứng nói chuyện với bạn bè cô ấy ở bàn phía trên. Cô ấy có mái tóc đen và đôi mắt nâu, và anh chú ý đến cô vì cô không mặc đồng phục ngày thứ bảy; cô đi giầy bệt thay vì cao gót, và cô mặc đồ Levis thay vì trang phục đi bar. Anh tự giới thiệu bản thân và họ nhanh chóng trò chuyện dễ dàng. Cô ấy tên là Samantha, và điều đầu tiên cô nói với anh là cô thích tập thể hình hơn là uống bia. Chuyện này khiến cho cuộc trò chuyện trở nên sâu sắc hơn, họ bàn với nhau về các phòng gym lân cận, các ứng dụng tập thể thao, và lợi ích của việc tập buổi sáng hay tập buổi trưa. Anh ấy ở bên cô cả đêm, và cô cũng nhanh chóng cảm thấy thích thú vị có anh ở bên.

Có nhiều yếu tố đẩy họ lại gần nhau và sẽ tạo nên mối quan hệ lâu dài; sở thích chung, cảm giác ở bên nhau dễ chịu, cả thức uống và một chút tuyệt vọng. Nhưng không có thứ gì trong số đó là chìa khóa dẫn đến tình yêu. Yếu tố quan trọng nhất là đây: họ đang bị ảnh hưởng bởi một thứ hóa chất thay đổi trí óc. Tất cả mọi người trong bar đều như vậy.

Và, hóa ra, bạn cũng như vậy.

CÁI GÌ CÒN MẠNH MẼ HƠN CẢ NIỀM VUI?

Người ta tìm ra Dopamine vào năm 1957 bởi Kathleen Montagu, một nhà nghiên cứu làm việc trong phòng thí nghiệm ở bệnh viện Runwell gần London. Đầu tiên, người ta cho rằng dopamine chỉ dùng để tạo ra một hóa chất có tên là norepinephrine – tên gọi của adrenaline khi người ta tìm thấy chất này trong não. Nhưng sau đó các nhà khoa học bắt đầu quan sát được những hiện tượng lạ. Chỉ có 0.0005% tế bào não sản xuất ra dopamine – 1 phần hai triệu – nhưng những thế bào này dường như tạo ra một ảnh hưởng khổng lồ đối với hành vi. Các đối tượng thí nghiệm trải nghiệm cảm giác vui vẻ khi họ bật dopamine lên, và phải cố gắng hết sức để kích hoạt những tế bào hiếm này. Thật ra, trong tình huống hợp lý, thì việc chống lại cảm giác tốt đẹp khi dopamine được kích hoạt là không thể làm được. Một số các nhà khoa học đặt tên cho dopamine là phân tử niềm vui, và con đường mà các tế bào sản xuất ra dopamine được gọi là mạch não khen thưởng.

Danh tiếng của dopamine như một phân tử niềm vui được củng cố bằng các thí nghiệm với người nghiện thuốc. Các nhà thí nghiệm tiêm cho họ một hợp chất cocaine và đường phóng xạ, điều này cho phép các nhà khoa học tìm ra phần nào của não đốt calories nhiều nhất. Khi lượng cocaine được tiêm vào tĩnh mạch bắt đầu phát huy tác dụng, các đối tượng thí nghiệm được yêu cầu đánh giá mức độ phê mà họ cảm nhận được. Những nhà nghiên cứu khám phá ra rằng lượng dopamine càng cao, thì người ta càng phê. Khi cơ thể dọn sạch cocaine ra khỏi não, thì lượng dopamine cũng giảm, và cơn phê tan biến. Các nghiên cứu khác cũng cho ra kết quả tương tự. Vai trò phân tử niềm vui của dopamine được thiết lập từ đó.

Những nhà nghiên cứu khác thử nhân đôi kết quả, và những điều bất ngờ bắt đầu xuất hiện. Họ lý giải rằng, việc sản sinh dopamine không khiến người ta phê thuốc. Ma túy mới là thứ tạo ra hình thức nhân tạo của việc sản sinh dopamine. Có vẻ như quá trình tiến hóa tạo ra dopamine bắt nguồn từ nhu cầu sinh tồn và hoạt động tái sinh sản. Vì thế, họ thử thay thế cocaine bằng thức ăn, hy vọng nhìn thấy hiệu quả tương tự. Thứ mà họ tìm thấy khiến tất cả mọi người kinh ngạc. Nó kết thúc chuỗi ngày tháng dopamine được cho là phân tử của niềm vui.

Họ khám phá ra rằng, dopamine không hề liên quan đến niềm vui. Dopamine tạo ra một thứ cảm giác còn ảnh hưởng lớn hơn. Hiểu được dopamine chính là chìa khóa để giải thích và thậm chí là suy đoán hành vi xuyên suốt một chuỗi ngoạn mục những nỗ lực của con người: tạo ra nghệ thuật, văn chương, và âm nhạc; tìm kiếm thành công; khám phá thế giới mới và quy luật tự nhiên mới; nghĩ về Thượng Đế - và yêu.

 

Shawn biết là anh đã yêu rồi. Sự bất an của anh tan biến. Mỗi một ngày anh đều cảm thấy mình đang tiến gần hơn đến một tương lai sáng lạn. Anh càng ở bên cạnh Samantha thì anh càng yêu thích cô ấy, và cảm giác mong đợi của anh xuất hiện thường xuyên. Mỗi một suy nghĩ về cô ấy đều mang lại cho anh vô số những mong đời. Còn về tình dục, thì ham muốn của anh mạnh mẽ hơn bao giờ hết, nhưng chỉ dành cho cô ấy thôi. Những người phụ nữ khác giống như không còn tồn tại vậy. Thậm chí, khi anh thú nhận sự hạnh phúc của mình với Samantha, cô ấy ngắt lời anh và nói rằng cô ấy cũng cảm thấy như vậy.

Shawn muốn chắc chắn rằng họ sẽ ở bên nhau mãi mãi, vì vậy, một ngày nọ, anh cầu hôn cô. Và cô đồng ý.

Vài tháng sau tuần trăng mật, mọi thứ bắt đầu thay đổi. Ban đầu họ dính chặt lấy nhau, nhưng, thời gian qua đi, sự dính chặt lấy nhau ấy đã bớt chặt đi. Niềm tin rằng bất kỳ thứ gì cũng có thể trở nên ít chắc chắn, ít ám ảnh, và ít quan trọng. Sự phấn khởi của họ giảm dần. Họ không hẳn là không hạnh phúc, nhưng sự thỏa mãn to lớn mà họ có ở giai đoạn đầu đang trượt dần đi. Cảm giác vĩnh cửu trở nên thiếu thực tế. Suy nghĩ về nhau – thứ trước đây thường xuất hiện – giờ đã không còn. Shawn bắt đầu chú ý đến những người phụ nữ khác, dù anh không có ý ngoại tình. Samantha thi thoảng cũng tán tỉnh ai đó, dù đó chỉ là việc cười với một chàng trai trẻ mang túi hàng hóa đang xếp hàng chờ thanh toán.

Họ vẫn vui vẻ với nhau, nhưng sự bóng loáng của cuộc sống mới bắt đầu trở nên cũ kỹ. Phép mầu – dù đó là gì đi nữa – bắt đầu tan biến.

Cũng như mối quan hệ cũ của mình thôi, Samantha nghĩ.

Chuyện này đã làm rồi, quen quá rồi, Shawn nghĩ.

KHỈ VÀ CHUỘT VÀ TẠI SAO NGƯỜI TA HẾT YÊU

Trên một số phương diện, nghiên cứu về loài chuột dễ hơn so với loài người. Các nhà khoa học có thể làm đủ thứ với chúng mà không cần phải lo lắng về việc ủy ban đạo đức nghiên cứu sẽ gõ cửa nhà họ. Để kiểm tra giả thuyết rằng cả thức ăn và thuốc phiện đều có thể thúc đẩy sản sinh dopamine, các nhà khoa học đã cấy các điện cực trực tiếp vào não chuột để họ có thể đo trực tiếp hoạt động của từng nơ-ron dopamine. Sau đó, học tạo ra những cái lồng với cái máng hứng các viên thức ăn. Kết quả đúng như những gì họ trông đợi. Ngay khi họ thả viên thức ăn xuống, hệ thống dopamine trong chuột sáng bừng lên. Thành công rồi! Phần thưởng tự nhiên đã thúc đẩy hoạt động của dopamine giống y như cách mà cocaine và các loại thuốc phiện khác đã làm.

Sau đó họ làm thêm một điều mà những nhà thí nghiệm ban đầu chưa từng làm. Họ tiếp tục quan sát não chuột khi các viên thức ăn khác được thả xuống máng ăn, ngày này qua ngày khác. Kết quả hoàn toàn ngoài dự đoán. Những con chuột ngấy nghiên các viên thức ăn như thường lệ. Chúng rõ ràng rất thích thức ăn. Nhưng hoạt động của dopamine lại bị tắt đi. Tại sao dopamine lại ngưng hoạt động khi thứ thúc đẩy chúng vẫn còn? Câu trả lời đến từ một nguồn khác: con khỉ và cái bóng đèn.

Wolfram Schultz là một trong những nhà tiên phong về thí nghiệm dopamine có ảnh hưởng lớn nhất. Là một giáo sư khoa thần kinh ở Đại Học Fribourg, Thụy Sĩ, ông bắt đầu hứng thú với việc nghiên cứu vai trò của dopamine. Ông cấy các điện cực vào các chùm nơ ron dopamine trong não của các con khỉ đuôi dài. Sau đó đặt chúng vào bộ máy có 2 cái bóng đèn và 2 cái hộp. Các bóng đèn lần lượt bật sáng trong một thời điểm nhất định. Một bóng đèn là tín hiệu rằng con khỉ có thể tìm thấy các viên thức ăn ở cái hộp bên phải. Cái bóng đèn kia có ý nghĩ rằng các viên thức ăn sẽ ở cái hộp bên trái.

Con khỉ mất một ít thời gian để tìm ra quy luật này. Ban đầu chúng mở hộp một cách ngẫu nhiên, và tầm nửa tiếng sau thì chúng mở đúng hộp. Khi chúng tìm thấy thức ăn, các tế bào dopamine trong não chúng phun ra, giống như ở loài chuột. Sau một khoảng thời gian, trong mỗi một lần những con khỉ đều nhận ra tín hiệu và tìm được hộp chứa thức ăn chính xác – và khi đó, thời điểm mà dopamine được giải phóng bắt đầu thay đổi: từ thời điểm khám phá ra thức ăn, bây giờ dopamine được phun ra mỗi khi đèn phát sáng. Tại sao lại như vậy?

Việc nhìn thấy các bóng đèn được bật sáng luôn luôn không được dự báo trước. Nhưng khi con khỉ phát hiện ra rằng bóng đèn phát sáng nghĩa là chúng sắp có thức ăn, cảm giác “ngạc nhiên” của chúng hoàn toàn đến từ sự phát sáng của bóng đèn, chứ không phải đến từ thức ăn nữa. Từ đây, một giả thuyết mới được hình thành: hoạt động của dopamine không phải là dấu hiệu của khoái cảm. Nó là phản ứng với với những việc không mong đợi – với các khả năng có thể xảy ra và sự dự đoán.

Là con người, chúng ta cảm nhận một cơn sốt dopamine đến từ các ngạc nhiên hứa hẹn tương tự: thư tình từ người yêu (người đó sẽ nói gì nhỉ?), email từ một người bạn mà bạn không gặp hàng năm trời (người đó có tin gì mới đây?), hay, nếu bạn tìm kiếm sự lãng mạn, gặp gỡ một người bạn thú vị ở một quán ba quen thuộc (chuyện gì sẽ xảy ra đây?). Nhung khi những điều này trở thành các sự kiện thường xuyên, tính mới lạ của chúng biến mất, và cơn sốt dopamine cũng biến theo – thư tình dù có ngọt ngào hơn, hay bức email có dài hơn, ngay người bạn mới có thú vị hơn, thì cơn sốt dopamine cũng chẳng trở lại.

Ý tưởng đơn giản này đã giải đáp về phương diện hóa học cho câu hỏi xưa cũ rằng: tại sao tình yêu lại phai nhạt dần đi? Bộ não của chúng ta được lập trình để khao khát những thứ không đoán trước được, và vì thế, chúng ta luôn nhìn tới tương lai, nơi mà mọi điều gây hứng thú có khả năng xảy ra. Nhưng khi thứ gì đó, bao gồm tình yêu, trở nên quen thuộc, sự hứng thú đó trượt khỏi tay ta, còn những thứ mới mẻ khác thì thu hút sự chú ý của ta.

Các nhà khoa học đã nghiên cứu hiện tượng này và gọi sự hào hứng mà chúng ta có được sự những thứ mới lạ là lỗi dự đoán phần thưởng, và ý nghĩa của nó đúng như tên gọi của nó. Chúng ta luôn luôn dự đoán về điều sắp xảy ra, từ việc mấy giờ thì chúng ta tan làm, đến số dư trong ngân hàng khi chúng ta kiểm tra thẻ ATM của mình. Khi điều gì đó xảy ra tốt hơn chúng ta dự đoán, thì đó rõ ràng là một lỗi dự đoán theo đúng nghĩa đen: có thể chúng ta được tan làm sớm hơn, hay chúng ta phát hiện mình có nhiều hơn $100 so với mức mình dự đoán. Chính các lỗi dự đoán vui vẻ là thứ khiến dopamine hoạt động. Chứ không phải là thời gian hay tiền bạc dư ra. Nó là sự bất ngờ đến từ những tin vui không đoán trước.

Trên thực tế, chỉ riêng mỗi khả năng có thể xảy ra của lỗi dự đoán phần thưởng cũng đã đủ cho dopamine xuất hiện. Hãy tưởng tượng bạn đang đi bộ đến chỗ làm trên con đường quen thuộc mà bạn đã đi rất nhiều lần trước đây. Bất thình lình bạn phát hiện ra một cửa hàng bánh mới mở, một cửa hàng mà bạn chưa thấy bao giờ. Ngay lập tức bạn muốn ghé vào xem họ bán thứ gì. Đó là vì dopamine đã nắm quyền kiểm soát, và nó tạo ra một cảm giác khác biệt so với việc thích thú trước mùi vị, cảm giác, hay vẻ ngoài của thứ gì đó. Nó là khoái cảm đến từ sự dự đoán – khả năng về một thứ không quen thuộc và tốt hơn. Bạn thích thú trước cửa hàng bánh, nhưng bạn chưa từng ăn bánh của họ, chưa từng uống qua cà phê của họ, và thậm chí chưa từng bước vào xem thử bên trong ra sao.

Bạn đi vào trong và gọi một tách cà phê đen và một cái bánh sừng trâu. Bạn nếm thử cà phê. Những mùi vị phức tạp chạy dọc lưỡi bạn. Đây là món cà phê ngon nhất mà bạn từng được uống. Sau đó bạn cắn miếng bánh sừng trâu. Nó thơm bơ và giòn tan, y hệt như cái bánh mà bạn từng ăn ở một quán cà phê ở Paris mà bạn đã đến vào nhiều năm trước. Giờ thì bạn cảm thấy thế nào? Có lẽ là cuộc đời bạn sẽ tốt hơn một tí nếu ngày nào cũng được bắt đầu như thế này. Từ hôm nay bạn sẽ ghé vào đây mỗi buổi sáng để ăn sáng, để uống tách cà phê ngon nhất và ăn cái bánh sừng trâu giòn tan nhất trong thành phố này. Bạn sẽ nói với bạn bè về tiệm bánh này, có lẽ nhiều hơn mức mà họ muốn nghe. Bạn sẽ mua một cái tách với tên của bạn in trên đó. Thậm chí bạn sẽ cảm thấy hứng thú hơn để bắt đầu ngày mới bởi vì, à, đây là một quán cà phê quá đỉnh, chính thế. Đó là dopamine đang hoạt động.

Cứ như thể bạn đã yêu quán cà phê này rồi.

Nhưng thi thoảng khi chúng ta có thứ mà bản thân muốn, nó hóa ra lại không vui vẻ như chúng ta mong đợi. Sự hưng phấn đến từ dopamine (dopaminergic excitement) (còn gọi là, sự phấn khởi của việc dự đoán) không kéo dài mãi mãi, vì cuối cùng thì tương lai cũng trở thành hiện tại. Bí ẩn gây hưng phấn đến từ những điều chưa biết dần dần trở thành sự quen thuộc nhàm chán hàng ngày, ở thời điểm này dopamine đã làm xong công việc của nó rồi, cho nên nó tan biến. Cà phê và bánh sừng trâu đã từng rất ngon, bạn đã từng thường xuyên ghé quán cà phê đó để ăn sáng. Nhưng sau vài tuần, thì “món cà phê và bánh sừng trâu ngon nhất thành phố” trở thành món ăn sáng cũ kỹ quen thuộc.

Nhưng, thứ thay đổi không phải là cà phê và bánh sừng trâu; mà là mong đợi của bạn.

Cũng theo cách này, Samantha và Shawn từng yêu nhau tha thiết cho đến khi mối quan hệ của họ trở nên hoàn toàn quen thuộc. Khi mọi thứ trở thành một phần thói quen hàng ngày, chẳng còn phần thưởng nào cho những lỗi dự đoán nữa, và dopamine cũng không sản sinh ra để cho bạn các cảm giác hưng phấn. Shawn và Samantha gây bất ngờ cho nhau giữa muôn trùng những gương mặt xa lạ ở quán bar, sau đó say đắm nhau cho đến khi tương lai đầy niềm vui không ngớt trong tưởng tượng của họ trở thành trải nghiệm thực tế cụ thể. Nhiệm vụ của dopamine – và năng lực của nó – để lý tưởng hóa những điều chưa biết đã kết thúc, vì thế dopamine tắt ngúm.

Niềm đam mê trỗi dậy khi chúng ta mơ tưởng về một thế giới đầy những điều có thể xảy ra, và tan biến khi chúng ta đối diện thực tế. Khi nam thần/nữ thần tình yêu vẫy gọi bạn từ khuê phòng biến thành người vợ/chồng ngái ngủ xì mũi vào một cái khăn giấy nhăn nhúm, bản chất của tình yêu – lý do để chúng ta tiếp tục bên nhau – phải được thay đổi từ những giấc mơ tạo ra bởi dopamine thành… một thứ khác. Cơ mà, thứ gì bây giờ?

MỘT BỘ NÃO, HAI THẾ GIỚI

Jogn Douglas Pettigre, giáo sư danh dự của ngành sinh lý học ở Đại Học Queensland, Úc, là người bản địa ở một thành phố có cái tên vui vẻ là Wagga Wagga. Pettigrew có một sự nghiệp xuất sắc với vai trò là nhà khoa học thần kinh, và nổi tiếng với thuyết về loài linh trưởng bay mới, nội dung của thuyết này đã khiến cho dơi được xem như họ hàng xa của chúng ta. Khi nghiên cứu ý tưởng này, Pettigrew đã trở thành người đầu tiên chỉ rõ cách mà não của chúng ta tạo ra một bản đồ thế giới ba chiều. Việc này nghe hơi không liên quan tới các mối quan hệ đầy đam mê, nhưng hóa ra nó lại chính là chìa khóa giải thích cho dopamine và tình yêu.

Pettigrew đã phát hiện ra rằng bộ não lý giải thế giới bên ngoài bằng cách chia nó ra làm những phần riêng biệt, phụ cận (peripersonal) ngoại vi (extrapersonal) – về cơ bản là gần và xa. Không gian phụ cận bao gồm những thứ chúng ta có thể với được trong tầm tay; những thứ mà bạn có thể điều khiển ngay lập tức bằng tay của bạn. Đây là thế giới thực – hiện tại. Không gian ngoại vi chỉ những thứ khác – bất kỳ thứ gì mà bạn không chạm được trừ phi bạn vươn ra khỏi phạm vi mà tay bạn có thể với tới, dù khoảng cách này là một mét hay sáu triệu kilomet. Đây là lãnh địa của những điều có thể xảy ra. (possibility)

Định nghĩa về nơi chốn này kéo theo một sự thật khác, rõ ràng và hữu ích: vì việc di chuyển từ chỗ này đến chỗ khác tốn thời gian, nên bất kỳ tương tác nào với không gian ngoại vi đều xảy ra trong tương lai. Hay nói cách khác, khoảng cách kết nối chặt chẽ với thời gian. Ví dụ, nếu bạn thèm một trái đào, nhưng trái đào gần bạn nhất đang nằm ở quầy hàng ở chợ, thì bạn không ăn nó ngay được. Bạn chỉ có thể ăn nó trong tương lai, khi bạn đi mua nó. Để có được thứ gì đó ngoài tầm với đôi khi cũng cần phải có kế hoạch. Kế hoạch có thể đơn giản là đứng dậy bật đèn, hoặc đi đến chợ mua trái đào, hoặc tìm ra cách phóng tên lửa lên mặt trăng. Điều này định hình tính chất của những thứ ở không gian ngoại vi: chúng đòi hỏi nỗ lực, thời gian, và trong nhiều trường hợp – chúng đòi hỏi phải có kế hoạch. Ngược lại, những thứ trong không gian phụ cần có thể trải nghiệm ngay và luôn. Những trải nghiệm này có thể thực hiện ngay lập tức. Chúng ta chạm vào, nếm thử, cầm nắm, siết chặt; chúng ta cảm thấy hạnh phúc, buồn bã, tức giận, và thích thú.

Điều này đã giải thích rõ ràng về cơ chế hóa thần kinh: bộ não hoạt động theo phương thức không gian phụ cận và phương thức không gian ngoại vi. Nếu bạn đang thiết kế tâm trí người khác, thì sẽ hợp lý nếu bạn tạo ra bộ não phân biệt các thứ theo cách này, một hệ thống dành cho những thứ bạn có và một hệ thống khác dành cho những thứ bạn không có. Đối với con người thưở sơ khai, cụm từ quen thuộc “có nó hoặc không có nó” có thể được dịch thành “có nó hoặc là chết”.

Dưới quan điểm tiến hóa, thức ăn mà bạn không có vô cùng khác biệt với thức ăn mà bạn có. Nước, nhà ở, công cụ, cũng tương tự. Sự khác biệt này quá cơ bản tới mức nó chia tách các cơ chế và hóa chất tiến hóa trong não để xử lý không gian phụ cận và ngoại vi. Khi bạn nhìn xuống, bạn nhìn vào không gian phụ cận, và não được điều khiển bởi các hóa chất liên quan tới trải nghiệm ngay và luôn. Nhưng khi não bạn xử lý không gian ngoại vi, một hóa chất khác chiếm quyền kiểm soát – loại hóa chất liên quan đến sự dự đoán và tính khả dĩ: dopamine. Những thứ ở xa, những thứ mà chúng ta chưa có, không thể hấp thụ ngay được, chỉ có thể mơ ước. Dopamine có một vai trò rất cụ thể: mở rộng tối đa nguồn lực trong tương lai của chúng ta, theo đuổi những thứ tốt đẹp hơn.

Mỗi một phần trong cuộc sống đều được chia theo cách này: chúng ta có một phương thức để xử lý thứ chúng ta muốn, và một phương thức khác để xử lý thứ chúng ta có. Muốn một ngôi nhà, trải nghiệm loại khao khát thúc đẩy việc phải làm việc chăm chỉ để tìm kiếm và mua nó, điều này được thực hiện trong một chuỗi cách mạch não khác với các mạch não hoạt động khiến bạn tận hưởng khi có được ngôi nhà mơ ước đó. Đoán trước rằng sẽ được tăng lương sản sinh lượng dopamine tập trung vào tương lai, và cảm giác này rất khác so với loại trải nghiệm ngay-và-luôn khi nhận được bảng lương lớn hơn hai hay ba lần gì đó. Và tìm kiếm tình yêu là việc đòi hỏi một loạt những kỹ năng khác với kỹ năng giữ gìn tình yêu. Tình yêu phải thay đổi từ trải nghiệm ngoại vi trở thành một trải nghiệm phụ cận – từ việc truy đuổi trở thành việc sở hữu; từ một thứ mà chúng ta dự đoán trở thành thứ mà chúng ta giữ gìn. Những kỹ năng này có khác biệt to lớn, đây là lý do mà tình yêu phải thay đổi theo thời gian – và cũng là lý do mà tại sao đối với nhiều người, tình yêu lại tan biến khi cơn sốt dopamine – thứ mà chúng ta gọi sự lãng mạn – kết thúc.

Nhưng nhiều người có thể thực hiện được sự thay đổi này. Họ làm nó bằng cách nào – sao họ lại có thể vượt qua sự quyến rũ của dopamine?

>>> (2)

0 nhận xét:

Đăng nhận xét