SỰ
TÊ DẠI
(*AWE)
Trải nghiệm về sự siêu việt này có thể được liên hệ với
cảm giác tê dại – một thứ cảm giác thú vị và khó hiểu.
Có nhiều thứ gây tê dại. Nhà tâm lý học Dacher Keltner
cho rằng các trường hợp kinh điển bao gồm việc chạm mặt đấng toàn năng. Sự cải
đạo của Phao-lô trên đường đến Đa-mách, nơi ông bị mù do ánh sáng, là một ví dụ
nổi tiếng. Một câu chuyện chi tiết hơn là ở phần cuối của Bhagavad Gita của đạo
Hindu, trong đó anh hùng Arjuna hỏi Krishna rằng liệu anh ta có thể tự mình
nhìn thấy vũ trụ hay không, và vì vậy Krishna đã cho anh ta một “con mắt vũ trụ”.
Arjuna sau đó nhìn thấy các vị thần và mặt trời và không gian vô tận: “Những điều
trước đây tôi chưa từng thấy, và niềm vui sướng của tôi là ngây ngất; nhưng nỗi
sợ hãi và run rẩy vẫn làm xáo trộn tâm trí tôi. " Đây chính là cảm giác tê
dại.
Theo thời gian, các học giả bắt đầu nhìn thấy cảm xúc
này trong những trải nghiệm phi thần thánh khác. Năm 1757, Edmund Burke mô tả sự
thăng hoa – phản ứng tê dại mà chúng ta cảm thấy khi nghe tiếng sấm sét, ngắm
nhìn các bức tranh hay nghe hòa nhạc. Đối với ông, hai yếu tố của thăng hoa là
cảm giác quyền lực và sự mù mờ. Trong thời đại của chúng ta thì phạm vi của nó
còn lớn hơn. Khi Keltner hỏi các sinh viên trường đại học California ở Berkeley
về các trải nghiệm tê dại, họ nói về âm nhạc, nghệ thuật, những người quyền lực
và nổi tiếng, những trải nghiệm thiêng liêng, những trải nghiệm tri giác nhất định,
thiền định và cầu nguyện. Họ kể cho ông về cảm giác của họ khi Red Sox thẳng
cúp Thế giới, hay trải nghiệm lần làm tình gần đây nhất của họ, hay cảm giác
bay lên trong buổi nhạc rock, hay khi họ đang phê cần.
Đâu là điểm chung của những trải nghiệm này? Keltner, cũng
với nhà tâm lý học Jonathan Haidt, nhấn mạnh tính chất rộng lớn – về mặt thể chất,
xã hội, trí tuệ và những thứ khác – và sự điều tiết mà chúng ta dùng để đấu
tranh với sự mênh mông này. Ông ghi nhận rằng khi chúng ta thấy tê dại, chúng
ta cảm thấy nhỏ bé, và điều này liên quan đến phản ứng thể chất nhất định mà
thi thoảng đi kèm trải nghiệm này. (Khi Phao-lô nhìn thấy ánh sáng ở Damascus,
ông ấy đã ngã lăn ra đất.)
Tê dại là một bí ẩn theo góc nhìn tiến hóa. Keltner
cho rằng về bản chất, cảm giác tê dại là một cảm xúc xã hội; nó tương quan với
“ý thức tôn trọng tập thể.” Yếu tố kích hoạt đầu tiên là những người quyền lực
kết nối cộng đồng, và chúng ta làm bản thân của mình tan biến trước những người
này, trở nên lệ thuộc vào những người tạo cho chúng ta cảm giác tê dại này. Về
điều này, cảm giác tê dại tương tự với những cảm xúc xã hội như tính trung
thành với người trong nhóm và nỗi sợ và sự ghét bỏ với người ngoài nhóm. Đây là
sự thích nghi xã hội.
Đây là một giả thuyết thú vị, nhưng nó cũng có chỗ thiếu
sót. Thứ nhất, nó không giải thích rõ tại sao cảm giác tê dại lại được khơi gợi
bởi những thực thể và trải nghiệm không liên quan gì đến việc gắn kết một tập
thể, chẳng hạn như Grand Canyon hoặc tác phẩm nghệ thuật theo trường phái ấn tượng
hoặc cơn phê bởi axit. Thứ hai, thật khó hiểu khi tuyên bố rằng chúng ta đã
phát triển một thứ cảm xúc đặc biệt hướng đến việc bị tê dại bởi kẻ mạnh. Những
người đó không phải là thần thánh. Thứ mà họ muốn từ chúng ta không nhất thiết
là sự lệ thuộc vào lợi ích cộng đồng – cái họ muốn là sự lệ thuộc của chúng ta
vào chính họ. Họ muốn bạn tình của chúng ta, con cái và nguồn lực của chúng ta.
Tại sao chúng ta lại được thiết lập để vui vẻ đưa hết nó cho họ? Một phản ứng
như vậy sao có thể tiến hóa được? Nếu bạn nghĩ về hai người tiền sử - một người
sẵn sàng khuỵu gối và dâng hết cho lãnh đạo vĩ đại, người còn lại thì hoài nghi
hơn, thì không thể lý giải được tại sao gien của người tôn thờ lãnh đạo lại dễ
di truyền hơn.
Keltner sẽ cho rằng nghĩ về điều này quá mức đa nghi.
Ông là người hâm mộ cảm giác tê dại, nhìn nhận nó như một cảm xúc “thay đổi con
người, cung cấp năng lượng cho họ để theo đuổi một cuộc đời ý nghĩa và trong
các hoạt động tốt đẹp hơn.” Tôi nghĩ thế giới này sẽ tốt đẹp hơn nếu cảm giác
tê dại này không tồn tại. Chúng ta sẽ tốt đẹp hơn nếu chúng ta đánh giá một
cách lạnh lùng về năng lực và mục tiêu của những người lãnh đạo tiềm năng, và
chúng ta không bị đắm chìm cảm xúc. Khi Keltner nghĩ về những người là đối tượng
của cảm giác tê dại, ông nghĩ về Gandhi và Đạt Lai Lạt Ma. Còn tôi thì nghĩ về
Hitler và Stalin, cùng với vô số nhà độc tài tồi tệ khác, những người cuồng tín
tôn giáo đa thê, và những kẻ cuồng tín Machiavellian, tất cả đều sẵn sàng khai
thác điểm mù tâm lý này.
Nếu cảm giác tê dại không phải là một thích nghi xã hội,
thì nó là cái gì? Một giả thuyết dự kiến phù hợp với nghiên cứu của Keltner và
Haidt – rằng nó không phải là sự thích nghi, mà lại một tai nạn. Người ta có xu
hướng tìm kiếm bản chất sâu sắc của mọi thứ; chúng ta tò mò, và phần thưởng cho
việc học thêm là một thoáng hài lòng. Thật vậy, trong một bài báo thú vị gọi là
“Giải thích chính là Cực Khoái”,
Alison Gopnick đã tạo ra sự liên hệ giữa việc cảm giác thỏa mãn của cực khoái dẫn
đến thúc đẩy quan hệ tình dục nhiều hơn, và cảm giác thỏa mãn đến từ một giải
thích tốt dẫn tới thúc đẩy tìm kiếm giải thích sâu hơn. Nhưng bạn có thể có quá
nhiều thứ tốt đẹp. Có lẽ cảm giác tê dại là thứ chúng ta có được khi hệ thống bị
quá tải; khi có quá nhiều thứ để vận hành, quá nhiều những quy mô rộng lớn về thể
chất, như sức mạnh thần thánh, hoặc kỹ thuật điêu luyện của con người.
TƯỞNG
TƯỢNG
Năng lực để nghĩ về những thế giới không tồn tại là một
năng lực hữu ích của con người. Nó cho phép đánh giá các dự tính về tương lai
thay thế; thứ không thể thiếu khi chúng ta lên kế hoạch cho hành động của mình;
nó cho phép chúng ta hiểu về thế giới dưới góc nhìn của những người khác (ngay
cả khi chúng ta biết họ sai lầm), điều này cần thiết cho các hoạt động của con
người như dạy dỗ, nói dối, và quyến rũ. Và, khi kết hợp với thuyết bản chất, nó
tạo ra khoái cảm trung tâm của đời sống hiện đại.
Đầu tiên, nó tạo ra tiểu thuyết và nghệ thuật. Rõ ràng
là những tác giả và các họa sĩ cần năng lực tưởng tượng; nhưng chính khán giả
cũng cần năng lực này. Bạn sẽ không thể có khoái cảm từ tiểu thuyết trừ phi bạn
có năng lực tưởng tượng để tạo ra các thực tế khác. Và khoái cảm đến từ tác phẩm
nghệ thuật thường liên quan đến một bước nhảy vọt về mặt diễn giải, một sự phỏng
đoán có học thức về những gì đã diễn ra trong quá trình sáng tạo. Niềm vui thẩm
mỹ ở một mức độ nào đó là một hành động thiết kế ngược, và thay vì tháo rời vật
thể để xem nó được tạo ra như thế nào, bạn làm điều đó trong tâm trí của mình.
Không có năng lực tưởng tượng, thì bạn có thể sẽ thích thú trước một mảng màu sắc
hấp dẫn trên giấy canvas, nhưng bạn sẽ không bao giờ thưởng thức nghệ thuật như
cách người bình thường làm.
Trí tưởng tượng cũng tạo ra khoa học và tôn giáo, vì
chúng đều khám phá một thực tại mà các cảm giác thông thường không cảm nhận được.
Hoạt động của con người sẽ chẳng có gì nếu chúng ta không thể tưởng tượng về một
địa ngục bên dưới chúng ta và một thiên đường bên trên chúng ta, hay nếu chúng
ta không thể nghĩ về một quả cầu hoàn hảo hoặc không gian vô hạn. Chúng ta sẽ lạc
lối nếu không có khả năng trân trọng một thứ chất lỏng trông như rượu vang như
thực ra là máu của Chúa và xem một hòn đá là một tập hợp những phân tử và năng
lượng. Thật ra, điều chúng ta đang làm – nghĩ về những gì chúng ta sẽ mất nếu
như không có năng lực tưởng tượng – chính là đang tưởng tượng.
Trong khoa học, một vai trò cụ thể của trí tưởng tượng
là hỗ trợ cái mà các nhà triết học gọi là “thí nghiệm tư duy”, trong đó người
ta minh họa hoặc kiểm tra một giả thuyết khoa học bằng cách tưởng tượng một
tình huống nhất định. Galileo sử dụng thí nghiệm tư duy bao gồm việc thả các
hòn đá xuống từ một cái tháp để phản đối nhận định của Aristotle là những thứ nặng
hơn thì rơi nhanh hơn; Einstein sử dụng thí nghiệm tư duy về một chiếc xe lửa
đang chạy để mô tả thuyết tương đối.
Trong tôn giáo, các câu chuyện được nhấn mạnh một cách
đặc biệt; các văn bản tôn giáo đầy ắp các câu chuyện. Các câu chuyện khiến cho
ý tưởng tôn giáo tồn tại theo thời gian – chúng dễ nhớ hơn nhiều so với danh
sách các sự thật. Chúng khiến cho ý tưởng trở nên hấp dẫn với trẻ em, cho trẻ
em niềm vui giống như những câu chuyện hư cấu.
Các câu chuyện có thể đóng một vai trò khác trong tôn
giáo. Có một yếu tố đóng kịch đối với phần lớn tôn giáo, nơi bạn giả vờ rằng điều
gì đó là sự thật. Bây giờ, sẽ là sai lầm và xúc phạm nếu cho rằng khi người mộ
đạo nói rằng họ đang tiêu thụ máu và thân thể của Chúa Giê-su Christ là họ đang
đóng kịch, giống như một đứa trẻ bốn tuổi dùng ngón tay bắn hạ những tên tội phạm
hoặc tưởng tượng rằng một quả chuối là một chiếc điện thoại. Thông thường, những
tuyên bố tôn giáo là các niềm tin nghiêm túc về thực tế; giống như niềm tin của
các nhà khoa học về việc nước được tạo ra bởi các phân tử; bạn không thể nhìn
thấy chúng, nhưng chúng là có thật.
Nhưng các tôn giáo tuyên bố rất nhiều thứ, và chúng
không có tầm quan trọng giống nhau. Theo
truyền thống của riêng tôn giáo chúng tôi, trong lễ Vượt qua, chúng tôi mở cửa để Ê-li-sê vào và uống một chén rượu
trên bàn. Đây hoàn toàn là một vở kịch, và sau đó cái cốc sẽ bị đổ đi hay đổ
ngược vào bình. Có lẽ có một số người Công giáo nghĩ về Bí tích Thánh Thể theo
một cách tương tự, như một nghi lễ không có bất kỳ sự tham gia siêu hình nào.
Hay ví dụ như hành động cầu nguyện. Với một số người, đây thực sự là phương thức
liên hệ với đấng bề trên; nhưng với một số khác, nó chỉ hơn một cú click xảy ra
trong não một chút. Với nhiều người, thì nó ở đâu đó đoạn giữa.
“Đoạn giữa” là trường hợp đặc biệt thú vị. Tình huống
này nhắc chúng ta nhớ về điều mà nhà phân tích tâm lý Donald Winnicott đã nói về
mối liên kết giữa trẻ nhỏ và những đồ vật mang tính chuyển tiếp như gấu bông và
chăn mền. Ở chương 4, ông ấy đã nói một cách hợp lý rằng những thứ này là vật
thay thế cho người mẹ, hoặc ngực của mẹ. Nhưng trẻ nhỏ nghĩ gì về chúng? Liệu
trẻ có nhận ra rằng chúng là vật thay thế, hay trẻ cho rằng chúng thực sự là “mẹ”
hay “ngực của mẹ”? Winnicott có một nhận định kì lạ về điều này: “Đối với các vật
có tính chuyển tiếp, có một thỏa thuận ngầm quan trọng là chúng ta sẽ không bao
giờ hỏi đứa trẻ là: ‘Con có nhận thức được điều này hay là con sử dụng nó mà
không có nhận thức này?’ Quan trọng là không thể quyết định gì về chuyện này cả.
Câu hỏi này không bao giờ có câu trả lời.”
Nói cách khác: đừng hỏi. Tôi nghĩ là nhận xét của Winnicott đã nắm bắt
được sự mơ hồ mà nhiều người cảm thấy về niềm tin tôn giáo của họ. Đó là một
tình trạng kỳ lạ và mong manh. Khoa học cũng vậy, có nhiều câu hỏi được đặt ra
về một số cấu trúc lý thuyết. Các hạt quark và các siêu chuỗi có thật hay chỉ
là sự trừu tượng? Người ta sẽ khuyên là: đừng hỏi.
Trong bất kỳ trường hợp nào, trí tưởng tượng và sự
siêu nhiên luôn có quan hệ mật thiết. Trí tưởng tượng là một công cụ mà nhờ đó
chúng ta có niềm khoái cảm siêu nhiên. Chúng ta có năng lực không chỉ để kết nối
với bản chất sâu sắc hơn, mà còn có thể hình dung ra bản chất này có thể là gì.
Loại năng lực này cũng có ở trẻ em. Câu chuyện ưa
thích của tôi về việc này là một câu chuyện do nhà giáo dục Ken Robinson kể về
cuộc đối thoại trong lớp mà ông ấy đã nghe được. Có một đứa bé gái sáu tuổi ngồi
vòng tay xung quanh một tờ giấy, vô cùng chăm chú vào bức vẽ của mình. Giáo
viên của cô bé chờ hơn 20 phút rồi mới đến hỏi xem cô bé đang vẽ cái gì. Cô bé
trả lời mà không nhìn lên: “Con đang vẽ Chúa.”
Giáo viên rất ngạc nhiên và nói rằng, “Nhưng đâu có ai
biết rằng Chúa trông như thế nào.”
Và con bé trả lời: “Chút nữa họ sẽ biết.”
-hết-
0 nhận xét:
Đăng nhận xét