Thứ Bảy, 6 tháng 8, 2022

How Pleasure Works - chương 8 (1)

 

8

TẠI SAO KHOÁI CẢM QUAN TRỌNG

TRONG PHẦN LỚN LỊCH SỬ LOÀI NGƯỜI, chúng ta không có truyền hình hay Internet hay sách. Thời tổ tiên chúng ta không có McDonald, thuốc tránh thai, Viagra, phẫu thuật thẩm mỹ, vũ khí hạt nhân, đồng hồ báo thức, ánh sáng huỳnh quang, xét nghiệm quan hệ cha con, hoặc các văn bản quy tắc. Cũng không có hàng tỉ người.

Trí óc của chúng ta không hiện đại, và nhiều nỗi buồn của chúng ta là kết quả của sự chênh lệch giữa một tâm lý thời Đồ Đá và một thế giới hiện đại. Chứng béo phì là một ví dụ đơn giản cho chuyện này. Trong phần lớn lịch sử loài người thì kiếm được thức ăn là một việc khó khăn. Thậm chí cho đến vài trăm năm trước, một gia đình châu Âu trung bình đã chi hơn một nửa ngân sách cho thực phẩm, và số tiền đó cũng không nhiều — lượng calo hấp thụ hàng ngày của một người Pháp thế kỷ mười tám tương đương với một công dân hiện tại ở một quốc gia châu Phi bị suy dinh dưỡng. Trong một thế giới khan hiếm thức ăn, một động vật thông minh sẽ ăn ngay khi có thể để trữ chất béo, và chẳng khác nào tự sát nếu chúng bỏ qua trái cây ngọt và thịt tươi. Nhưng bây giờ, nhiều người chúng ta đang sống trong môi trường mà thức ăn rẻ, dồi dào, và được sản xuất một cách khéo léo để tăng tối đa độ thơm ngon. Và chúng ta cảm thấy khó khăn, với nhiều người là bất khả thi, để có thể chống lại cưỡng chế theo thuyết tiến hóa Darwin: phải ngấu nghiến hết tất cả.

Một ví dụ khác là, một người thông minh sẽ xem thường và bỏ qua những lời xúc phạm và khiêu khích từ người lạ - những hành vi thô lỗ trên đường cao tốc, những bình luận khiếm nhã trên Internet. Giận dữ vì việc đó thì chẳng có ý nghĩa gì. Nhưng trí óc của chúng ta không tiến hóa để nghĩ về người lạ, chúng ta bị ám ảnh một cách vô ích bởi việc người khác nghĩ gì về mình và những xúc phạm này sẽ hạ thấp chúng ta trong mắt người khác ra sao. Đây là lý do tại sao chúng ta có những cơn thịnh nộ đường phố và những trận chiến trên blog.

Cuối cùng, chúng ta đã tiến hóa trong một thế giới của sư tử, hổ và gấu; của những cái cây và những con chim và những tảng đá và nhiều thứ khác. Chúng ta đạt được khoái cảm và cảm thấy đủ đầy từ thế giới tự nhiên. Nhiều người hiện đại đã bỏ qua điều này khi sống hoàn toàn trong môi trường được con người xây dựng. Nhà sinh học E.O. Wilson cho rằng sự tách biệt khỏi thiên nhiên này gây hại cho tâm hồn chúng ta: “[chúng ta] sẽ càng rời xa khỏi thiên đường khi chúng ta quên mất ý nghĩa của tự nhiên.” Một vài nghiên cứu chỉ ra rằng ngay cả một liều thuốc tự nhiên ít ỏi – như việc nhìn ngắm thế giới ngoài kia qua cửa sổ, cũng vô cùng tốt cho sức khỏe. Những bệnh nhân ở bệnh viện khỏi bệnh sớm hơn, các tù nhân ít bị bệnh hơn; chơi với thú cưng nâng cao cuộc sống của tất cả mọi người từ trẻ tự kỷ đến bệnh nhân Alzheimer.

Sự chênh lệch này (tâm trí thời đồ đá và môi trường sống hiện tại) vô cùng thú vị và quan trọng, và chúng là lý thuyết và trọng tâm nghiên cứu của tâm lý học tiến hóa. Tuy nhiên, điều mà các học giả đôi khi bỏ sót là chúng ta không phải là những người ngoài cuộc vô tội. Chúng ta không phải những con chuột bị nhốt vào ma trận của nhà tâm lý học hay những con voi trong rạp xiếc. Chúng ta tự tạo ra thế giới phi tự nhiên này. Chúng ta đầu tư vào Big Mac và Twinkie, đường cao tốc và Internet và những tòa nhà chọc trời, vào chính phủ và tôn giáo và luật lệ.

Cho đến nay cuốn sách này đã luôn nói về những điều chúng ta thích và tại sao chúng ta thích nó. Trong chương cuối ngắn ngủi này, tôi sẽ nói về một số hàm ý đến từ thuyết bản chất của khoái lạc, và bàn luận về sức ảnh hưởng của nó trong thế giới mà chúng ta đang sống.

SỰ VÔ NGHĨA CẦN THIẾT

Arthur Koestler kể một câu chuyện về một cô bé 12 tuổi, con gái của một người bạn, đến thăm bảo tàng Greenwich và sau đó được hỏi về tác phẩm đẹp nhất ở đó. Cô bé nói đó là áo của Đô đốc Lord Nelson, “Chiếc áo sơ mi dính máu thật đẹp. Máu thật trên một chiếc áo thật thuộc về một người có thật trong lịch sử."

Bạn có thể nghe thấy tiếng thở dài của Koestler khi ông ấy viết rằng: “Chúng ta không thể thoát khỏi lực kéo ma thuật bên trong chúng ta, như thể chúng ta không thể thoát khỏi trọng lực.” Ma thuật là một từ khá nặng ở đây, với hàm ý về sự phi lý trí, nhưng có lẽ từ này cũng hợp lý. Thích một cái ghế vì ngồi nó êm ái, hay thích một bức tranh vì thấy nó đẹp là một chuyện. Và điều này hợp lý. Nhưng việc thích một thứ - như cái áo của một người chết – không phải bởi vì nó làm được gì cho chúng ta, và những giá trị thấy được từ nó, mà là vì câu chuyện bên trong nó, bao gồm những giá trị vô hình mà nó chứa đựng, thì đúng là một việc kỳ lạ. “Bản chất” không thực sự tồn tại! Trên thực tế, cuốn sách này cho đến thời điểm này đâu có khác gì với một biên niên sử về sự ngu ngốc của con người — sự ngu ngốc về thức ăn, về tình dục, v.v.? Không phải chúng ta đã bàn luận lâu lắc rằng khoái cảm bị ảnh hưởng bởi các yếu tố vốn dĩ không hề quan trọng?

Một số nhà tâm lý học sẽ phủ nhận điều này. Đồng nghiệp Bruce Hood của tôi có quan niệm giống với Koestler, cho rằng những ràng buộc sai trái này nên được gộp chung với những lo lắng về mèo đen và những ngôi nhà ma ám. Chúng vô lý. Khi nói về tác phẩm gốc và đồ nhái, ông ấy đã nói rằng: “Khi các nhà phê bình nghệ thuật và chủ phòng trưng bày nói về bản chất của một tác phẩm nghệ thuật, những điều họ nói về bản chất là vô nghĩa.” Trong một báo cáo thí nghiệm khám phá sở thích về các đồ vật hàng ngày, Hood và đồng nghiệp phân biệt rõ ràng “các quyết định kinh tế lý trí” – liên quan đến các lợi ích có thật, với “những đánh giá rõ ràng là phi lý” – khi người ta đánh giá một món đồ dựa trên những lý do cảm xúc, như một đứa bé gắn kết với tấm chăn an toàn của nó.

Thí nghiệm về sự phi lý trí của con người không phải thứ gì mới mẻ. Như nghiên cứu của Amos Tversky và Daniel Kahneman, mà nhờ đó Kahneman đã thắng giải Nobel Kinh tế năm 2002. Tversky và Kahneman phát hiện ra rằng chúng ta thường khá kém trong việc suy luận logic và suy luận xác suất. Chúng ta sẽ trả $99.99 cho dàn loa mới nhưng sẽ quay đi nếu giá là $100.00; chúng ta bị ám ảnh bởi nguy hiểm đến từ súng ống trong nhà nhưng thờ ơ với mối nguy đến từ hồ bơi trong nhà (thứ còn nguy hiểm hơn). Sự bất hoàn hảo của chúng ta không đáng ngạc nhiên. Chúng ta là động vật, chứ không phải thiên thần. Trí óc của chúng ta được tạo ra bởi chọn lọc tự nhiên để lý giải thế giới một cách hữu ích, nhưng tiến hóa thường là để thỏa mãn, chứ không phải để tối ưu. Và cũng hãy nhớ rằng trí óc chúng ta tiến hóa trong một thế giới khác với thế giới mà chúng ta đang sống. Vì thế, cách chúng ta lý giải về thế giới hiện nay không chỉ không hoàn hảo mà còn không hiệu quả, nhưng điều này là hoàn toàn hợp lý. Như nhà tâm lý học Gary Marcus đã lập luận rất độc đáo, bộ não của chúng ta đầy “chắp vá”.

Chủ nghĩa bản chất có phải một trong số những chắp vá đó không? Đương nhiên người ta sẽ có những niềm tin bản chất sai lầm. Làm tình với trinh nữ không chữa khỏi AIDS và ăn thịt một người nói tiếng Anh sẽ không cải thiện khả năng nói tiếng Anh của bạn. Các nhóm người, như người da màu và người Do Thái, không có những bản chất khiến họ khác biệt với các nhóm người khác. Trong một phiên tòa ở Anh, Procter&Gamble cho rằng Pringles không phải khoai tây cắt lát (và vì thế không phải là đối tượng áp dụng thuế giá trị gia tăng) vì chúng không chứa nhiều khoai tây đủ để “là khoai tây về bản chất”. Thẩm phán Tòa án Tối cao đã đúng đắn khi bác bỏ tuyên bố này, chỉ ra rằng loại khái niệm mang tính Aristotle này không thể áp dụng ở đây – Pringles không có cái gọi là “bản chất”.

Vì thế, có khá nhiều thứ mà chúng ta bị nhầm lẫn là “bản chất”. Nhưng điều này không có nghĩa là những trực giác chung về bản chất là sai. Như chúng ta đã bàn luận ở phần đầu của cuốn sách này, mọi thứ đều có một đặc tính sâu sắc hơn bề ngoài của nó: những con hổ không chỉ là một loại động vật với vẻ ngoài nhất định; những con hổ có các đặc tính sâu sắc hơn khiến chúng trở thành hổ, như những đặc trưng DNA và lịch sử tiến hóa. Vàng không chỉ là một loại vật liệu có màu nhất định; thứ khiến vàng là vàng là cấu trúc phân tử của nó. Các cá nhân cũng có bản chất riêng. Chúng ta có thể khó phân biệt được hai đứa trẻ sơ sinh, nhưng nếu một trong hai là con của bạn, đứa còn lại thì không phải, thì đó là một đặc trưng về gien vô hình nhưng vô cùng quan trọng. Bản chất là thứ tồn tại thật, và hoàn toàn hợp lý khi chúng ta nhận thấy nó.

Nhưng tại sao một cô bé lại quan tâm đến việc trên áo của Nelson có máu của ai? Điều gì đang xảy ra khi một người bằng lòng chi trả $50,000 để sở hữu cuộn thước dây gia dụng của Kennedy? Người mua là Juan Molyneux, một nhà thiết kết nội thất ở Manhattan, và ông nói rằng: “Khi tôi mua cuộn thước dây này, điều đầu tiên tôi đo được là sự tỉnh táo của mình.”

Tôi khi ông ấy hơi khắt khe với bản thân rồi. Nếu ông ấy bị rối trí khi mua cuộn thước dây này - Thí dụ như nếu ông ấy cho rằng cây thước cuộn này có một năng lực ma thuật, thì ông ấy hẳn đã nhầm lẫn. Nhưng ông ấy chỉ thích nó vì chủ sở hữu của nó, đây là vấn đề về sở thích. Nó không đúng cũng chẳng sai. Nếu bạn thích vị vani còn tôi thích vị sô cô la, chúng ta sẽ không đồng ý với nhau nhưng không ai trong chúng ta là vô lý. Tương tự, nếu Sarah mua cuộn thước dây vì cảm giác hấp dẫn hay nhu cầu sử dụng hàng ngày, còn Juan thì thích cuộn thước dây vì lịch sử của chính nó, thì khó mà nói được là Sarah thông minh hơn (hay đức hạnh hơn, hay hợp lý hơn) Juan – hoặc ngược lại.

Điều này được áp dụng khá rộng rãi. Trong thảo luận về những người có ham muốn tình dục không bình thường, Daniel Bergner phỏng vấn một người khổ dâm, một người đàn ông ở độ tuổi 40 đã rời phố Wall để sống với con cái của mình. Cuộc phỏng vấn diễn ra trong phân xưởng của một người bạo dâm, và lưng người đàn ông này bị trói trên bàn làm việc, ông ấy mặc một bộ đồ liền thân bằng cao su và một chiếc mặt nạ chỉ hở miệng. Một vòng dẫn điện gắn vào trục dương vật của anh ta và nối vào một cái máy nhỏ. Người bạo dâm kết nối máy móc để tạo ra các cú sốc điện tương ứng với tiếng nói phát ra, làm cho Bergner trở thành đồng lõa trong cuộc tra tấn người đàn ông này. Nhưng khi Bergner dịu dàng hỏi về các trải nghiệm thời thơ ấu của ông ta, người khổ dâm phủ nhận rằng ông ta không bình thường: “Tôi chưa bao giờ bị cưỡng hiếp bởi người lùn đồng tính cả. Đây liệu có phải một cách sống kỳ lạ không? Hãy xem xét thử trường hợp một người nào đó mua quả bóng chày home-run thứ mười bảy của Mark McGwire với giá ba triệu đô la xem. Ai mới là người kỳ lạ ở đây?”

Tôi thì cho rằng cả hai người đều kỳ lạ. Tuy nhiên, cả hai đều không hề bị nhầm lẫn. Người ta có thể tưởng tượng ra một giống loài giống với chúng ta, trừ việc não của họ có kết cấu khác, họ không có tính bản chất bẩm sinh, vì thế họ khá thờ ơ với bản chất sâu hơn của mọi thứ. Những sinh vật như vậy sẽ không trải nghiệm được nhiều loại khoái cảm mà chúng ta có. Họ sẽ vui vẻ đánh đổi nhẫn cưới của họ cho chiếc nhẫn khác tương tự. Họ cũng không sưu tập chữ ký hay ảnh kỷ niệm, và trẻ con sẽ không gắn kết với những đồ vật khiến chúng thấy an toàn như những tấm chăn mềm. Họ sẽ không có được khoái cảm đến từ nghệ thuật và tiểu thuyết và thậm chí là khổ dâm, vì họ không quan tâm đến hành động sáng tạo của con người cho những thứ đó. Những cá nhân như vậy không thông minh hơn, hay ngu ngốc hơn, ít hay nhiều lý trí hơn chúng ta – họ chỉ khác biệt hơn thôi.

 

CÒN RẤT NHIỀU cách khác để đánh giá. Vấn đề không phải là đúng hay sai, lý trí hay phi lý trí. Mà là cái gì là đúng đắn, còn cái gì là sai trái. Một số khoái cảm phi đạo đức. Một số khiến cho người khác đau khổ. Ngay cả nếu việc làm tình với trẻ con là có thể lý giải hợp lý, thì nó vẫn là một khoái cảm phi đạo đức, một thứ đáng bị phê phán. Nếu tình yêu đối với đồ ăn của bạn khiến cho bạn tự phá hủy cơ thể mình hay lấy đồ của người khác, thì bạn là một kẻ háu ăn, và điều này cũng đáng bị phê phán.

Đôi khi thuyết bản chất khiến chúng ta hành xử phi đạo đức. Chúng ta đã bàn về việc này trong các chương trước, bao gồm các ví dụ khủng khiếp về việc giết thịt trẻ con và sự ám ảnh xấu xí với trinh tiết của phụ nữ.

Thuyết bản chất cũng khiến chúng ta bị ám ảnh với vật chất và phớt lờ nhu cầu của những con người thật. Những nhà kinh tế học như Robert Frank và Richard Layard, và các nhà tâm lý học tiến hóa như Geoffrey Miller đã cho rằng xã hội phải trả giá cho sự ám ảnh về việc sở hữu những xa xỉ phẩm của nhiều người, rằng nếu sở hữu xa xỉ phẩm bị phê phán và ngăn cấm thì xã hội này sẽ tốt đẹp hơn. Triết gia Peter Singer nói về điều này gay gắt hơn, vạch ra những vấn đề đạo đức khi chúng ta tiêu tiền vào quần áo và xe cộ đắt tiền thay vì dùng chúng để cứu đói trẻ em. Nếu chúng ta là những sinh vật phi bản chất, chúng ta sẽ ít trân trọng các thứ vật chất này và có lẽ sẽ trân trọng những con người thực hơn một chút. Luôn có cái giá phải trả cho khoái cảm.

TÌM KIẾM BẢN CHẤT

Theo một mức độ hời hợt và vô nghĩa, người ta thường nhấn mạnh rằng, nước đóng chai đắt tiền thì ngon hơn thứ nước đến từ vòi nước, hay tác phẩm gốc của Chagall thì đẹp hơn nhiều so với tác phẩm nhái – bất kỳ một người sành điệu nào cũng có thể nhận ra điều này. Trong những trường hợp này, chúng ta đã không ý thức được độ sâu của khoái cảm.

Tuy nhiên, trong những lĩnh vực khác, chúng ta hoàn toàn ý thức được quan tâm của chính mình về bản chất của mọi thứ. Sự quan tâm này thể hiện ở việc chúng ta tò mò về ý định của họa sĩ hay tác giả, cụ thể là, câu chuyện này liệu có thật hay chỉ là hư cấu. Nó thể hiện ở việc chúng ta mê đắm tình yêu và sự lãng mạn. Một số người trong chúng ta đặc biệt quan tâm đến việc ai đó thực sự bao nhiêu tuổi, thay vì bề ngoài của họ trông già trẻ như thế nào, và chúng ta quan tâm mãnh liệt đến việc ai đó có phẫu thuật thẩm mỹ hay tiêm Botox hay cấy tóc hay không. Nói chung, nỗ lực để che đậy vẻ ngoài thực sự của người khác thường khiến chúng ta bối rối, về mặt đạo đức và thẩm mỹ, và điều này phản ánh trong việc chúng ta thường thấy cảm thấy không thoải mái về những cải thiện thể chất và tâm lý.

Hay hãy xem xét sự hấp dẫn của thiên nhiên. Chúng ta sẵn sàng trả tiền để sống gần biển, gần núi và cây cối – một căn hộ ở Manhattan hướng nhìn ra công viên trung tâm sẽ thì có giá đắt hơn nhiều so với căn hộ hướng ngược lại. Những tòa nhà văn phòng thường có giếng trời và cây cối; chúng ta tặng hoa cho người bị ốm và người ta yêu, và khi về nhà thì chúng ta xem kênh Thế giới Động vật và Discovery. Chúng ta nuôi thú cưng, vốn dĩ là một sự kết hợp kỳ lạ của những thứ được dựng lên (chó mèo được thuần chủng để sống gần con người), để thay thế cho con người, và chúng ta hướng đến tự nhiên. Nhiều người trong chúng ta tìm cách trốn thoát khỏi môi trường mà chúng ta xây dựng lên ngay khi có thể - đi leo núi, cắm trại, lái ca nô hay săn bắn.

Khi nói về tự nhiên, chúng ta muốn những thứ có thật; chúng ta cảm thấy khó chịu với những thứ thay thế. Thí dụ như, người ta bỏ ra cả gia tài để dựng nên những con robot hành xử như động vật. Nhưng phản ứng của con người với chúng không hề giống, hay thậm chí chỉ là gần giống, với khi họ gặp chó con, mèo con, hay hamster. Chúng là đồ chơi, chứ không phải bạn đồng hành. Cũng hãy xem xét một nghiên cứu của nhà tâm lý học Peter H. Kahn, Jr., và các đồng nghiệp của ông. Họ đặt một cái ti vi HD 50 inch vào những văn phòng không có cửa sổ, và các nhân viên được xem một cảnh thiên nhiên trực tiếp. Họ thích điều này, nhưng khi người ta dùng các phương thức tâm lý học để kiểm tra, thì việc xem tivi HD chẳng có ý nghĩa gì cả, không khác mấy so với việc nhìn vào bức tường trống. Thứ thực sự khiến người ta giảm stress là một cửa sổ bằng kính thật để ra một cảnh cây cối xanh mướt thật. Tôi nghĩ rằng chúng ta tìm kiếm thiên nhiên thật, và trực giác của chúng ta về tầm quan trọng của điều này đã giải thích cho sự căng thẳng khi chúng ta rời xa tự nhiên.

Đó là nhiều lĩnh vực minh chứng cho việc ít nhất một số người trong chúng ta hoàn toàn ý thức được thuyết bản chất của mình. Và còn hơn thế nữa, nhiều người, thậm chí là tất cả chúng ta, đều nhận thức một cách có ý thức rằng có một cái gì đó trên thế giới này sâu xa hơn những thứ chúng ta nắm bắt được. Có một thế giới bên dưới mọi thứ, một thế giới mà chúng ta muốn luôn được kết nối.

Đây là động lực phía sau ngành công nghiệp khoa học. Vài năm trước, nhà sinh vật học Richard Dawkins viết một cuốn sách có tên là Tháo chỉ Cầu Vồng. Tựa sách phản ánh nỗi lo của Keats rằng Newton đã phá hủy chất thơ của cầu vồng với vật lý của ông. Dawkins cho rằng điều này không đúng: “Cảm giác kinh ngạc kỳ diệu mà khoa học có thể mang lại cho chúng ta là một trong những trải nghiệm cao cấp nhất mà tâm hồn con người có thể có được. Đó là một niềm đam mê thẩm mỹ sâu sắc để xếp ngang hàng với những gì tốt nhất mà âm nhạc và thơ ca có thể mang lại. Đó thực sự là một trong những điều làm cuộc sống trở nên đáng sống.” Điều mà Dawkins nói ở đây, đó là khoái cảm có thể đến từ khoa học, niềm vui đến từ việc kết nối sâu sắc hơn với bản chất của mọi thứ.

Cho đến nay, khoa học vẫn chưa tồn tại quá lâu dưới tư cách là một lĩnh vực riêng biệt, và một số xã hội vẫn chưa tồn tại khoa học. Ngay cả ở phương Tây, có lẽ có nhiều người mê chân (foot fetishist) hơn các nhà khoa học. Nhưng lập luận của Dawkins có ý nghĩa mở rộng hơn cho những người là người tiêu dùng hoặc người tiêu dùng tiềm năng của những kiến thức khoa học, và tôi nghĩ rằng việc công chúng thích những cuốn sách như sách của Dawkin là bằng chứng cho thấy rằng có nhiều người thích, và có được khoái cảm từ việc hiểu biết bản chất sâu sắc của mọi thứ, dù họ không phải là nhà khoa học.

Tuy nhiên, khoa học vẫn không phải là cách phổ biến để tiếp cận siêu thực tế. Nhiều người gãi vết ngứa này bằng một cách khác. Họ đạt được khoái cảm từ “điều kì diệu” mà không cần nghiền ngẫm các chi tiết của di truyền học Mendel hay bảng tuần hoàn hay tính lưỡng tính sóng-hạt của các electron. Thay vào đó, ham muốn được tiếp cận thế giới siêu nhiên được thỏa mãn thông qua một ngành công nghiệp xã hội khác – tôn giáo.

Mọi người có cách lý giải khác nhau khi nói về tôn giáo. Một cách tiếp cận phổ biến là xem các tôn giáo như các hệ thống niềm tin, đặc trưng bởi những tuyên bố cụ thể về cách mọi thứ vận hành. Đây là cách tiếp cận của nhà nhân chủng học Edward Burnett Taylor, năm 1871, ông đã viết rằng “định nghĩa tối thiểu về tôn giáo” là một niềm tin về sự tồn tại của các linh hồn – như chúa, thiên thần, các linh hồn và tương tự. Nếu bạn có niềm tin này, thì bạn là người có tôn giáo. Tôi nghĩ đây là một cách hợp lý để nắm bắt thứ mà tất cả các tôn giáo đều có, và cuốn sách gần đây của tôi phần nào đã khám phá xem những niềm tin này đến từ đâu. Người ta cũng có thể nghĩ về tôn giáo như một tập hợp các hành vi và các nhóm liên kết cụ thể. Để là một người Công giáo, thì phải gắn kết với các nghi lễ nhất định và những người nhất định. Từ quan điểm này, các câu hỏi tâm lý thú vị sẽ xoay quanh bản chất của các nghi lễ và lý do tại sao mọi người chọn tham gia vào chúng, cũng như cách thức mà mọi người hình thành các nhóm xã hội riêng biệt.

Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng tôn giáo thì bao gồm nhiều thứ hơn là niềm tin hay nghi lễ hay là một nhóm xã hội. Có một cái gì đó cơ bản hơn mà tất cả các tôn giáo đều chia sẻ và thứ này cũng tràn sang cái thường được mô tả là tâm linh. Chính là quan điểm cho rằng ngoài thế giới mà chúng ta đang cảm nhận thì còn nhiều thế giới khác nữa. Có một thế giới sâu sắc hơn, có ý nghĩa đạo đức và cá nhân hơn. Nhà xã hội học và thần học Peter Berger nói về giả định này "rằng có một thực tại khác, và một thực tại có ý nghĩa tối thượng đối với con người, vượt qua trải nghiệm thực tại hàng ngày của chúng ta." William James, trong cuốn Các trải nghiệm Tôn giáo đa dạng, viết rằng các tôn giáo “bao gồm niềm tin rằng có một thế lực không thể nhìn thấy được, và đạo đức tối thượng của chúng ta nằm ở việc điều chỉnh bản thân một cách hài hòa theo thế lực đó.” Đây cũng là điều mà các học giả nói đến khi họ thảo luận về sự thiêng liêng và sự thô tục: sự thô tục là thực tại đời sống hàng ngày; thiêng liêng là một thực tại khác mà con người khao khát.

Nền móng của tôn giáo có nhiều điểm khác với nền móng của khoa học. Đầu tiên, khoa học nói với chúng ta là vũ trụ này là vô nghĩa – như nhà vật lý Steven Weinberg đã nói. Nó không quan tâm đến việc chúng ta thành công hay hạnh phúc; nó không hướng dẫn đạo đức. Ngược lại, nền móng của của tôn giáo thì đầy ắp ý nghĩa và đạo đức và tình yêu. Thêm nữa, trong khi khoa học có thể cho chúng ta biết về đặc tính sâu sắc hơn (thông qua các công cụ như kính hiển vi) và thi thoảng điều khiển chúng (thông qua các kỹ thuật như phân tách gien), thì tôn giáo thậm chí còn mạnh mẽ hơn, bởi vì tôn giáo cung cấp các công cụ ở mức độ trải nghiệm.

Đây chính là chức năng của các nghi lễ. Trong một số nghi lễ, đặc tính sâu sắc hơn – hay tính siêu nhiên – có thể bằng cách nào đó biểu lộ thông qua các vật phẩm của nghi lễ, như Bí tích Thánh thể trong đó rượu và bánh là máu và thịt của Chúa Giê su. (Các học giả, như Walter Benjamin và Ellen Dissanayake cho rằng điều này giống như những gì xảy ra khi sáng tạo nghệ thuật.) Một số nghi lễ khác, một người có thể trực tiếp kết nối với đặc tính sâu hơn này, như khi cầu nguyện và thiền định hoạc các trải nghiệm cá nhân siêu nhiên khác. Những trải nghiệm này có thể có ý nghĩa to lớn.

Tôn giáo và khoa học là các tổ chức xã hội tồn tại để thỏa mãn ham muốn được kết nối với thế giới siêu nhiên của con người, nhưng bản thân sự ham muốn này xuất hiện và tồn tại trước khi những tổ chức này hình thành. Ví dụ, bạn không cần tôn giáo để có nghi lễ; trẻ em có thể tạo ra các nghi lễ một cách tự phát. Một số nghi lễ này là sự liên tưởng nguyên nhân – kết quả: như khi tôi mang đôi vớ may mắn của mình và chiến thắng trận bóng, tôi sẽ mang chúng trong mọi trận đấu khác – và một số việc khác sẽ phản ánh hệ thống niềm tin sâu sắc hơn. Trong nghiên cứu sâu rộng của các nhà dân gian Peter và Iona Opie về hệ thống niềm tin của hàng ngàn trẻ em, họ kết luận rằng nhu cầu tạo ra những nghi lễ như vậy là một phần của bản chất con người, và trẻ em “có một ý thức bẩm sinh rằng số phận có nhiều cách sắp đặt hơn là những gì chúng ta đang thấy.”

Tương tự, không cần phải là nhà khoa học, người ta cũng có thể quan tâm đến thứ gì làm nên các đồ vật hay những đồ vật này đến từ đâu. Nhà tâm lý học Alison Gopnick đưa ra một trường hợp điển hình rằng “khủng hoảng tuổi lên 2” có thể được giải thích rằng: lúc này trẻ em đang thực hiện các “thí nghiệm” về thế giới, hành động lên người và vật xung quanh chúng để xem kết quả. Và từ lâu đã có một phong trào rộng lớn hơn trong tâm lý học phát triển, nổi lên từ công trình của nhà tâm lý học Susan Carey, trong đó sự phát triển nhận thức của trẻ được coi là tương tự như sự tiến bộ khoa học.

Tuy nhiên, một nhà phê bình có thể tự hỏi rằng, bao nhiêu trong số những xung động tiền tôn giáo và tiền khoa học này phản ánh thuyết bản chất theo một ý nghĩa mạnh mẽ, trái ngược với mong muốn chung chung của trẻ em là hiểu biết hơn về thế giới và vận dụng tốt hơn. Tôi cũng tự hỏi như vậy. Tôi bị thuyết phục bởi nghiên cứu đã được tóm tắt ở phần đầu cuốn sách này rằng ngay cả trẻ em chưa đi học cũng là người theo thuyết bản chất thông thường, chúng ngầm tin rằng các phạm trù và các cá nhân có những bản chất vô hình giấu sâu bên trong. Nhưng liệu trẻ em có ham muốn cụ thể để kết nối với những bản chất này không? Liệu thuyết bản chất của chúng có cho chúng niềm vui hay không? Tôi nghĩ còn quá sớm để trả lời cho câu hỏi này.

Tuy nhiên, bằng chứng về người lớn thì rõ ràng hơn. Ngay cả những người công khai từ chối các niềm tin tôn giáo cũng biểu lộ dấu hiệu của các xung động với thế giới siêu nhiên. Họ không thờ ơ trước sự hấp dẫn của đặc tính ẩn sâu bên trong; họ chỉ phản ứng với sự hấp dẫn ở bên ngoài ranh giới của tôn giáo có tổ chức. Chúng ta hãy minh họa bằng việc xem xét quan điểm của một người vô thần nổi bật  thời hiện đại. Tôi đã kể về việc Richard Dawkins đã viết một cuốn sách về sức hấp dẫn siêu nhiên của nghiên cứu khoa học như thế nào. Sam Harris nổi tiếng về việc tấn công các tín ngưỡng độc thần, nhưng ông vô cùng nhiệt huyết với Phật Giáo, mô tả Phật Giáo như “phương pháp hoàn thiện nhất mà chúng ta đó để khám phá sự tự do nội tại của ý thức, mà không bị ngăn cản bởi bất kỳ giáo điều nào.” Và Christopher Hitchens, tác giả của cuốn “Chúa không vĩ đại”, đã nói về tầm quan trọng của “sự giác ngộ” – điều thường dùng để chỉ trải nghiệm liên kết với đấng toàn năng – và cho rằng người ta có thể trải nghiệm điều này mà không cần bất kỳ niềm tin siêu nhiên hay niềm tin tôn giáo nào. Ông ấy tin rằng mọi người đều phụ thuộc vào sự giác ngộ và sự siêu nhiên, và nói rằng cá nhân ông không tin tưởng những người không có cảm giác này.

Như vậy, ngay cả những người lý trí mạnh mẽ nhất cũng có khao khát đối với sự siêu nhiên. Nếu bạn tìm kiếm những cá nhân hoàn toàn thờ ơ với điều này, bạn có sẽ đang tìm nhầm loài rồi.

>>> (2) & hết

0 nhận xét:

Đăng nhận xét