8
TẠI
SAO KHOÁI CẢM QUAN TRỌNG
TRONG PHẦN LỚN LỊCH SỬ LOÀI NGƯỜI, chúng ta không có
truyền hình hay Internet hay sách. Thời tổ tiên chúng ta không có McDonald, thuốc
tránh thai, Viagra, phẫu thuật thẩm mỹ, vũ khí hạt nhân, đồng hồ báo thức, ánh
sáng huỳnh quang, xét nghiệm quan hệ cha con, hoặc các văn bản quy tắc. Cũng
không có hàng tỉ người.
Trí óc của chúng ta không hiện đại, và nhiều nỗi buồn
của chúng ta là kết quả của sự chênh lệch giữa một tâm lý thời Đồ Đá và một thế
giới hiện đại. Chứng béo phì là một ví dụ đơn giản cho chuyện này. Trong phần lớn
lịch sử loài người thì kiếm được thức ăn là một việc khó khăn. Thậm chí cho đến
vài trăm năm trước, một gia đình châu Âu trung bình đã chi hơn một nửa ngân
sách cho thực phẩm, và số tiền đó cũng không nhiều — lượng calo hấp thụ hàng
ngày của một người Pháp thế kỷ mười tám tương đương với một công dân hiện tại ở
một quốc gia châu Phi bị suy dinh dưỡng. Trong một thế giới khan hiếm thức ăn,
một động vật thông minh sẽ ăn ngay khi có thể để trữ chất béo, và chẳng khác
nào tự sát nếu chúng bỏ qua trái cây ngọt và thịt tươi. Nhưng bây giờ, nhiều
người chúng ta đang sống trong môi trường mà thức ăn rẻ, dồi dào, và được sản
xuất một cách khéo léo để tăng tối đa độ thơm ngon. Và chúng ta cảm thấy khó
khăn, với nhiều người là bất khả thi, để có thể chống lại cưỡng chế theo thuyết
tiến hóa Darwin: phải ngấu nghiến hết tất cả.
Một ví dụ khác là, một người thông minh sẽ xem thường
và bỏ qua những lời xúc phạm và khiêu khích từ người lạ - những hành vi thô lỗ
trên đường cao tốc, những bình luận khiếm nhã trên Internet. Giận dữ vì việc đó
thì chẳng có ý nghĩa gì. Nhưng trí óc của chúng ta không tiến hóa để nghĩ về
người lạ, chúng ta bị ám ảnh một cách vô ích bởi việc người khác nghĩ gì về
mình và những xúc phạm này sẽ hạ thấp chúng ta trong mắt người khác ra sao. Đây
là lý do tại sao chúng ta có những cơn thịnh nộ đường phố và những trận chiến
trên blog.
Cuối cùng, chúng ta đã tiến hóa trong một thế giới của
sư tử, hổ và gấu; của những cái cây và những con chim và những tảng đá và nhiều
thứ khác. Chúng ta đạt được khoái cảm và cảm thấy đủ đầy từ thế giới tự nhiên.
Nhiều người hiện đại đã bỏ qua điều này khi sống hoàn toàn trong môi trường được
con người xây dựng. Nhà sinh học E.O. Wilson cho rằng sự tách biệt khỏi thiên
nhiên này gây hại cho tâm hồn chúng ta: “[chúng ta] sẽ càng rời xa khỏi thiên
đường khi chúng ta quên mất ý nghĩa của tự nhiên.” Một vài nghiên cứu chỉ ra rằng
ngay cả một liều thuốc tự nhiên ít ỏi – như việc nhìn ngắm thế giới ngoài kia
qua cửa sổ, cũng vô cùng tốt cho sức khỏe. Những bệnh nhân ở bệnh viện khỏi bệnh
sớm hơn, các tù nhân ít bị bệnh hơn; chơi với thú cưng nâng cao cuộc sống của tất
cả mọi người từ trẻ tự kỷ đến bệnh nhân Alzheimer.
Sự chênh lệch này (tâm trí thời đồ đá và môi trường sống
hiện tại) vô cùng thú vị và quan trọng, và chúng là lý thuyết và trọng tâm
nghiên cứu của tâm lý học tiến hóa. Tuy nhiên, điều mà các học giả đôi khi bỏ
sót là chúng ta không phải là những người ngoài cuộc vô tội. Chúng ta không phải
những con chuột bị nhốt vào ma trận của nhà tâm lý học hay những con voi trong
rạp xiếc. Chúng ta tự tạo ra thế giới phi tự nhiên này. Chúng ta đầu tư vào Big
Mac và Twinkie, đường cao tốc và Internet và những tòa nhà chọc trời, vào chính
phủ và tôn giáo và luật lệ.
Cho đến nay cuốn sách này đã luôn nói về những điều
chúng ta thích và tại sao chúng ta thích nó. Trong chương cuối ngắn ngủi này,
tôi sẽ nói về một số hàm ý đến từ thuyết bản chất của khoái lạc, và bàn luận về
sức ảnh hưởng của nó trong thế giới mà chúng ta đang sống.
SỰ
VÔ NGHĨA CẦN THIẾT
Arthur Koestler kể một câu chuyện về một cô bé 12 tuổi,
con gái của một người bạn, đến thăm bảo tàng Greenwich và sau đó được hỏi về
tác phẩm đẹp nhất ở đó. Cô bé nói đó là áo của Đô đốc Lord Nelson, “Chiếc áo sơ
mi dính máu thật đẹp. Máu thật trên một chiếc áo thật thuộc về một người có thật
trong lịch sử."
Bạn có thể nghe thấy tiếng thở dài của Koestler khi
ông ấy viết rằng: “Chúng ta không thể thoát khỏi lực kéo ma thuật bên trong
chúng ta, như thể chúng ta không thể thoát khỏi trọng lực.” Ma thuật là một từ
khá nặng ở đây, với hàm ý về sự phi lý trí, nhưng có lẽ từ này cũng hợp lý.
Thích một cái ghế vì ngồi nó êm ái, hay thích một bức tranh vì thấy nó đẹp là một
chuyện. Và điều này hợp lý. Nhưng việc thích một thứ - như cái áo của một người
chết – không phải bởi vì nó làm được gì cho chúng ta, và những giá trị thấy được
từ nó, mà là vì câu chuyện bên trong nó, bao gồm những giá trị vô hình mà nó chứa
đựng, thì đúng là một việc kỳ lạ. “Bản chất” không thực sự tồn tại! Trên thực tế,
cuốn sách này cho đến thời điểm này đâu có khác gì với một biên niên sử về sự
ngu ngốc của con người — sự ngu ngốc về thức ăn, về tình dục, v.v.? Không phải
chúng ta đã bàn luận lâu lắc rằng khoái cảm bị ảnh hưởng bởi các yếu tố vốn dĩ
không hề quan trọng?
Một số nhà tâm lý học sẽ phủ nhận điều này. Đồng nghiệp
Bruce Hood của tôi có quan niệm giống với Koestler, cho rằng những ràng buộc
sai trái này nên được gộp chung với những lo lắng về mèo đen và những ngôi nhà
ma ám. Chúng vô lý. Khi nói về tác phẩm gốc và đồ nhái, ông ấy đã nói rằng:
“Khi các nhà phê bình nghệ thuật và chủ phòng trưng bày nói về bản chất của một
tác phẩm nghệ thuật, những điều họ nói về bản chất là vô nghĩa.” Trong một báo
cáo thí nghiệm khám phá sở thích về các đồ vật hàng ngày, Hood và đồng nghiệp
phân biệt rõ ràng “các quyết định kinh tế lý trí” – liên quan đến các lợi ích
có thật, với “những đánh giá rõ ràng là phi lý” – khi người ta đánh giá một món
đồ dựa trên những lý do cảm xúc, như một đứa bé gắn kết với tấm chăn an toàn của
nó.
Thí nghiệm về sự phi lý trí của con người không phải
thứ gì mới mẻ. Như nghiên cứu của Amos Tversky và Daniel Kahneman, mà nhờ đó
Kahneman đã thắng giải Nobel Kinh tế năm 2002. Tversky và Kahneman phát hiện ra
rằng chúng ta thường khá kém trong việc suy luận logic và suy luận xác suất.
Chúng ta sẽ trả $99.99 cho dàn loa mới nhưng sẽ quay đi nếu giá là $100.00;
chúng ta bị ám ảnh bởi nguy hiểm đến từ súng ống trong nhà nhưng thờ ơ với mối
nguy đến từ hồ bơi trong nhà (thứ còn nguy hiểm hơn). Sự bất hoàn hảo của chúng
ta không đáng ngạc nhiên. Chúng ta là động vật, chứ không phải thiên thần. Trí
óc của chúng ta được tạo ra bởi chọn lọc tự nhiên để lý giải thế giới một cách
hữu ích, nhưng tiến hóa thường là để thỏa mãn, chứ không phải để tối ưu. Và
cũng hãy nhớ rằng trí óc chúng ta tiến hóa trong một thế giới khác với thế giới
mà chúng ta đang sống. Vì thế, cách chúng ta lý giải về thế giới hiện nay không
chỉ không hoàn hảo mà còn không hiệu quả, nhưng điều này là hoàn toàn hợp lý.
Như nhà tâm lý học Gary Marcus đã lập luận rất độc đáo, bộ não của chúng ta đầy
“chắp vá”.
Chủ nghĩa bản chất có phải một trong số những chắp vá
đó không? Đương nhiên người ta sẽ có những niềm tin bản chất sai lầm. Làm tình
với trinh nữ không chữa khỏi AIDS và ăn thịt một người nói tiếng Anh sẽ không cải
thiện khả năng nói tiếng Anh của bạn. Các nhóm người, như người da màu và người
Do Thái, không có những bản chất khiến họ khác biệt với các nhóm người khác.
Trong một phiên tòa ở Anh, Procter&Gamble cho rằng Pringles không phải
khoai tây cắt lát (và vì thế không phải là đối tượng áp dụng thuế giá trị gia
tăng) vì chúng không chứa nhiều khoai tây đủ để “là khoai tây về bản chất”. Thẩm
phán Tòa án Tối cao đã đúng đắn khi bác bỏ tuyên bố này, chỉ ra rằng loại khái
niệm mang tính Aristotle này không thể áp dụng ở đây – Pringles không có cái gọi
là “bản chất”.
Vì thế, có khá nhiều thứ mà chúng ta bị nhầm lẫn là “bản
chất”. Nhưng điều này không có nghĩa là những trực giác chung về bản chất là
sai. Như chúng ta đã bàn luận ở phần đầu của cuốn sách này, mọi thứ đều có một
đặc tính sâu sắc hơn bề ngoài của nó: những con hổ không chỉ là một loại động vật
với vẻ ngoài nhất định; những con hổ có các đặc tính sâu sắc hơn khiến chúng trở
thành hổ, như những đặc trưng DNA và lịch sử tiến hóa. Vàng không chỉ là một loại
vật liệu có màu nhất định; thứ khiến vàng là vàng là cấu trúc phân tử của nó. Các
cá nhân cũng có bản chất riêng. Chúng ta có thể khó phân biệt được hai đứa trẻ
sơ sinh, nhưng nếu một trong hai là con của bạn, đứa còn lại thì không phải,
thì đó là một đặc trưng về gien vô hình nhưng vô cùng quan trọng. Bản chất là
thứ tồn tại thật, và hoàn toàn hợp lý khi chúng ta nhận thấy nó.
Nhưng tại sao một cô bé lại quan tâm đến việc trên áo
của Nelson có máu của ai? Điều gì đang xảy ra khi một người bằng lòng chi trả
$50,000 để sở hữu cuộn thước dây gia dụng của Kennedy? Người mua là Juan Molyneux,
một nhà thiết kết nội thất ở Manhattan, và ông nói rằng: “Khi tôi mua cuộn thước
dây này, điều đầu tiên tôi đo được là sự tỉnh táo của mình.”
Tôi khi ông ấy hơi khắt khe với bản thân rồi. Nếu ông ấy
bị rối trí khi mua cuộn thước dây này - Thí dụ như nếu ông ấy cho rằng cây thước
cuộn này có một năng lực ma thuật, thì ông ấy hẳn đã nhầm lẫn. Nhưng ông ấy chỉ
thích nó vì chủ sở hữu của nó, đây là vấn đề về sở thích. Nó không đúng cũng chẳng
sai. Nếu bạn thích vị vani còn tôi thích vị sô cô la, chúng ta sẽ không đồng ý
với nhau nhưng không ai trong chúng ta là vô lý. Tương tự, nếu Sarah mua cuộn
thước dây vì cảm giác hấp dẫn hay nhu cầu sử dụng hàng ngày, còn Juan thì thích
cuộn thước dây vì lịch sử của chính nó, thì khó mà nói được là Sarah thông minh
hơn (hay đức hạnh hơn, hay hợp lý hơn) Juan – hoặc ngược lại.
Điều này được áp dụng khá rộng rãi. Trong thảo luận về
những người có ham muốn tình dục không bình thường, Daniel Bergner phỏng vấn một
người khổ dâm, một người đàn ông ở độ tuổi 40 đã rời phố Wall để sống với con
cái của mình. Cuộc phỏng vấn diễn ra trong phân xưởng của một người bạo dâm, và
lưng người đàn ông này bị trói trên bàn làm việc, ông ấy mặc một bộ đồ liền
thân bằng cao su và một chiếc mặt nạ chỉ hở miệng. Một vòng dẫn điện gắn vào trục
dương vật của anh ta và nối vào một cái máy nhỏ. Người bạo dâm kết nối máy móc
để tạo ra các cú sốc điện tương ứng với tiếng nói phát ra, làm cho Bergner trở
thành đồng lõa trong cuộc tra tấn người đàn ông này. Nhưng khi Bergner dịu dàng
hỏi về các trải nghiệm thời thơ ấu của ông ta, người khổ dâm phủ nhận rằng ông
ta không bình thường: “Tôi chưa bao giờ bị cưỡng hiếp bởi người lùn đồng tính cả.
Đây liệu có phải một cách sống kỳ lạ không? Hãy xem xét thử trường hợp một người
nào đó mua quả bóng chày home-run thứ mười bảy của Mark McGwire với giá ba triệu
đô la xem. Ai mới là người kỳ lạ ở đây?”
Tôi thì cho rằng cả hai người đều kỳ lạ. Tuy nhiên, cả
hai đều không hề bị nhầm lẫn. Người ta có thể tưởng tượng ra một giống loài giống
với chúng ta, trừ việc não của họ có kết cấu khác, họ không có tính bản chất bẩm
sinh, vì thế họ khá thờ ơ với bản chất sâu hơn của mọi thứ. Những sinh vật như
vậy sẽ không trải nghiệm được nhiều loại khoái cảm mà chúng ta có. Họ sẽ vui vẻ
đánh đổi nhẫn cưới của họ cho chiếc nhẫn khác tương tự. Họ cũng không sưu tập
chữ ký hay ảnh kỷ niệm, và trẻ con sẽ không gắn kết với những đồ vật khiến
chúng thấy an toàn như những tấm chăn mềm. Họ sẽ không có được khoái cảm đến từ
nghệ thuật và tiểu thuyết và thậm chí là khổ dâm, vì họ không quan tâm đến hành
động sáng tạo của con người cho những thứ đó. Những cá nhân như vậy không thông
minh hơn, hay ngu ngốc hơn, ít hay nhiều lý trí hơn chúng ta – họ chỉ khác biệt
hơn thôi.
CÒN RẤT NHIỀU cách khác để đánh giá. Vấn đề không phải
là đúng hay sai, lý trí hay phi lý trí. Mà là cái gì là đúng đắn, còn cái gì là
sai trái. Một số khoái cảm phi đạo đức. Một số khiến cho người khác đau khổ.
Ngay cả nếu việc làm tình với trẻ con là có thể lý giải hợp lý, thì nó vẫn là một
khoái cảm phi đạo đức, một thứ đáng bị phê phán. Nếu tình yêu đối với đồ ăn của
bạn khiến cho bạn tự phá hủy cơ thể mình hay lấy đồ của người khác, thì bạn là
một kẻ háu ăn, và điều này cũng đáng bị phê phán.
Đôi khi thuyết bản chất khiến chúng ta hành xử phi đạo
đức. Chúng ta đã bàn về việc này trong các chương trước, bao gồm các ví dụ khủng
khiếp về việc giết thịt trẻ con và sự ám ảnh xấu xí với trinh tiết của phụ nữ.
Thuyết bản chất cũng khiến chúng ta bị ám ảnh với vật
chất và phớt lờ nhu cầu của những con người thật. Những nhà kinh tế học như
Robert Frank và Richard Layard, và các nhà tâm lý học tiến hóa như Geoffrey
Miller đã cho rằng xã hội phải trả giá cho sự ám ảnh về việc sở hữu những xa xỉ
phẩm của nhiều người, rằng nếu sở hữu xa xỉ phẩm bị phê phán và ngăn cấm thì xã
hội này sẽ tốt đẹp hơn. Triết gia Peter Singer nói về điều này gay gắt hơn, vạch
ra những vấn đề đạo đức khi chúng ta tiêu tiền vào quần áo và xe cộ đắt tiền
thay vì dùng chúng để cứu đói trẻ em. Nếu chúng ta là những sinh vật phi bản chất,
chúng ta sẽ ít trân trọng các thứ vật chất này và có lẽ sẽ trân trọng những con
người thực hơn một chút. Luôn có cái giá phải trả cho khoái cảm.
TÌM
KIẾM BẢN CHẤT
Theo một mức độ hời hợt và vô nghĩa, người ta thường
nhấn mạnh rằng, nước đóng chai đắt tiền thì ngon hơn thứ nước đến từ vòi nước,
hay tác phẩm gốc của Chagall thì đẹp hơn nhiều so với tác phẩm nhái – bất kỳ một
người sành điệu nào cũng có thể nhận ra điều này. Trong những trường hợp này,
chúng ta đã không ý thức được độ sâu của khoái cảm.
Tuy nhiên, trong những lĩnh vực khác, chúng ta hoàn
toàn ý thức được quan tâm của chính mình về bản chất của mọi thứ. Sự quan tâm
này thể hiện ở việc chúng ta tò mò về ý định của họa sĩ hay tác giả, cụ thể là,
câu chuyện này liệu có thật hay chỉ là hư cấu. Nó thể hiện ở việc chúng ta mê đắm
tình yêu và sự lãng mạn. Một số người trong chúng ta đặc biệt quan tâm đến việc
ai đó thực sự bao nhiêu tuổi, thay vì bề ngoài của họ trông già trẻ như thế
nào, và chúng ta quan tâm mãnh liệt đến việc ai đó có phẫu thuật thẩm mỹ hay
tiêm Botox hay cấy tóc hay không. Nói chung, nỗ lực để che đậy vẻ ngoài thực sự
của người khác thường khiến chúng ta bối rối, về mặt đạo đức và thẩm mỹ, và điều
này phản ánh trong việc chúng ta thường thấy cảm thấy không thoải mái về những
cải thiện thể chất và tâm lý.
Hay hãy xem xét sự hấp dẫn của thiên nhiên. Chúng ta sẵn
sàng trả tiền để sống gần biển, gần núi và cây cối – một căn hộ ở Manhattan hướng
nhìn ra công viên trung tâm sẽ thì có giá đắt hơn nhiều so với căn hộ hướng ngược
lại. Những tòa nhà văn phòng thường có giếng trời và cây cối; chúng ta tặng hoa
cho người bị ốm và người ta yêu, và khi về nhà thì chúng ta xem kênh Thế giới Động
vật và Discovery. Chúng ta nuôi thú cưng, vốn dĩ là một sự kết hợp kỳ lạ của những
thứ được dựng lên (chó mèo được thuần chủng để sống gần con người), để thay thế
cho con người, và chúng ta hướng đến tự nhiên. Nhiều người trong chúng ta tìm
cách trốn thoát khỏi môi trường mà chúng ta xây dựng lên ngay khi có thể - đi
leo núi, cắm trại, lái ca nô hay săn bắn.
Khi nói về tự nhiên, chúng ta muốn những thứ có thật;
chúng ta cảm thấy khó chịu với những thứ thay thế. Thí dụ như, người ta bỏ ra cả
gia tài để dựng nên những con robot hành xử như động vật. Nhưng phản ứng của
con người với chúng không hề giống, hay thậm chí chỉ là gần giống, với khi họ gặp
chó con, mèo con, hay hamster. Chúng là đồ chơi, chứ không phải bạn đồng hành.
Cũng hãy xem xét một nghiên cứu của nhà tâm lý học Peter H. Kahn, Jr., và các đồng
nghiệp của ông. Họ đặt một cái ti vi HD 50 inch vào những văn phòng không có cửa
sổ, và các nhân viên được xem một cảnh thiên nhiên trực tiếp. Họ thích điều
này, nhưng khi người ta dùng các phương thức tâm lý học để kiểm tra, thì việc
xem tivi HD chẳng có ý nghĩa gì cả, không khác mấy so với việc nhìn vào bức tường
trống. Thứ thực sự khiến người ta giảm stress là một cửa sổ bằng kính thật để
ra một cảnh cây cối xanh mướt thật. Tôi nghĩ rằng chúng ta tìm kiếm thiên nhiên
thật, và trực giác của chúng ta về tầm quan trọng của điều này đã giải thích
cho sự căng thẳng khi chúng ta rời xa tự nhiên.
Đó là nhiều lĩnh vực minh chứng cho việc ít nhất một số
người trong chúng ta hoàn toàn ý thức được thuyết bản chất của mình. Và còn hơn
thế nữa, nhiều người, thậm chí là tất cả chúng ta, đều nhận thức một cách có ý
thức rằng có một cái gì đó trên thế giới này sâu xa hơn những thứ chúng ta nắm
bắt được. Có một thế giới bên dưới mọi thứ, một thế giới mà chúng ta muốn luôn được
kết nối.
Đây là động lực phía sau ngành công nghiệp khoa học. Vài
năm trước, nhà sinh vật học Richard Dawkins viết một cuốn sách có tên là Tháo chỉ Cầu Vồng. Tựa sách phản ánh nỗi
lo của Keats rằng Newton đã phá hủy chất thơ của cầu vồng với vật lý của ông.
Dawkins cho rằng điều này không đúng: “Cảm giác kinh ngạc kỳ diệu mà khoa học
có thể mang lại cho chúng ta là một trong những trải nghiệm cao cấp nhất mà tâm
hồn con người có thể có được. Đó là một niềm đam mê thẩm mỹ sâu sắc để xếp
ngang hàng với những gì tốt nhất mà âm nhạc và thơ ca có thể mang lại. Đó thực
sự là một trong những điều làm cuộc sống trở nên đáng sống.” Điều mà Dawkins
nói ở đây, đó là khoái cảm có thể đến từ khoa học, niềm vui đến từ việc kết nối
sâu sắc hơn với bản chất của mọi thứ.
Cho đến nay, khoa học vẫn chưa tồn tại quá lâu dưới tư
cách là một lĩnh vực riêng biệt, và một số xã hội vẫn chưa tồn tại khoa học. Ngay
cả ở phương Tây, có lẽ có nhiều người mê chân (foot fetishist) hơn các nhà khoa
học. Nhưng lập luận của Dawkins có ý nghĩa mở rộng hơn cho những người là người
tiêu dùng hoặc người tiêu dùng tiềm năng của những kiến thức khoa học, và tôi
nghĩ rằng việc công chúng thích những cuốn sách như sách của Dawkin là bằng chứng
cho thấy rằng có nhiều người thích, và có được khoái cảm từ việc hiểu biết bản
chất sâu sắc của mọi thứ, dù họ không phải là nhà khoa học.
Tuy nhiên, khoa học vẫn không phải là cách phổ biến để
tiếp cận siêu thực tế. Nhiều người gãi vết ngứa này bằng một cách khác. Họ đạt
được khoái cảm từ “điều kì diệu” mà không cần nghiền ngẫm các chi tiết của di
truyền học Mendel hay bảng tuần hoàn hay tính lưỡng tính sóng-hạt của các
electron. Thay vào đó, ham muốn được tiếp cận thế giới siêu nhiên được thỏa mãn
thông qua một ngành công nghiệp xã hội khác – tôn giáo.
Mọi người có cách lý giải khác nhau khi nói về tôn
giáo. Một cách tiếp cận phổ biến là xem các tôn giáo như các hệ thống niềm tin,
đặc trưng bởi những tuyên bố cụ thể về cách mọi thứ vận hành. Đây là cách tiếp
cận của nhà nhân chủng học Edward Burnett Taylor, năm 1871, ông đã viết rằng “định
nghĩa tối thiểu về tôn giáo” là một niềm tin về sự tồn tại của các linh hồn –
như chúa, thiên thần, các linh hồn và tương tự. Nếu bạn có niềm tin này, thì bạn
là người có tôn giáo. Tôi nghĩ đây là một cách hợp lý để nắm bắt thứ mà tất cả
các tôn giáo đều có, và cuốn sách gần đây của tôi phần nào đã khám phá xem những
niềm tin này đến từ đâu. Người ta cũng có thể nghĩ về tôn giáo như một tập hợp
các hành vi và các nhóm liên kết cụ thể. Để là một người Công giáo, thì phải gắn
kết với các nghi lễ nhất định và những người nhất định. Từ quan điểm này, các
câu hỏi tâm lý thú vị sẽ xoay quanh bản chất của các nghi lễ và lý do tại sao mọi
người chọn tham gia vào chúng, cũng như cách thức mà mọi người hình thành các
nhóm xã hội riêng biệt.
Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng tôn giáo thì bao gồm nhiều thứ
hơn là niềm tin hay nghi lễ hay là một nhóm xã hội. Có một cái gì đó cơ bản hơn
mà tất cả các tôn giáo đều chia sẻ và thứ này cũng tràn sang cái thường được mô
tả là tâm linh. Chính là quan điểm cho rằng ngoài thế giới mà chúng ta đang cảm
nhận thì còn nhiều thế giới khác nữa. Có một thế giới sâu sắc hơn, có ý nghĩa đạo
đức và cá nhân hơn. Nhà xã hội học và thần học Peter Berger nói về giả định này
"rằng có một thực tại khác, và một thực tại có ý nghĩa tối thượng đối với
con người, vượt qua trải nghiệm thực tại hàng ngày của chúng ta." William
James, trong cuốn Các trải nghiệm Tôn
giáo đa dạng, viết rằng các tôn giáo “bao gồm niềm tin rằng có một thế lực
không thể nhìn thấy được, và đạo đức tối thượng của chúng ta nằm ở việc điều chỉnh
bản thân một cách hài hòa theo thế lực đó.” Đây cũng là điều mà các học giả nói
đến khi họ thảo luận về sự thiêng liêng và sự thô tục: sự thô tục là thực tại đời
sống hàng ngày; thiêng liêng là một thực tại khác mà con người khao khát.
Nền móng của tôn giáo có nhiều điểm khác với nền móng
của khoa học. Đầu tiên, khoa học nói với chúng ta là vũ trụ này là vô nghĩa –
như nhà vật lý Steven Weinberg đã nói. Nó không quan tâm đến việc chúng ta
thành công hay hạnh phúc; nó không hướng dẫn đạo đức. Ngược lại, nền móng của của
tôn giáo thì đầy ắp ý nghĩa và đạo đức và tình yêu. Thêm nữa, trong khi khoa học
có thể cho chúng ta biết về đặc tính sâu sắc hơn (thông qua các công cụ như
kính hiển vi) và thi thoảng điều khiển chúng (thông qua các kỹ thuật như phân
tách gien), thì tôn giáo thậm chí còn mạnh mẽ hơn, bởi vì tôn giáo cung cấp các
công cụ ở mức độ trải nghiệm.
Đây chính là chức năng của các nghi lễ. Trong một số
nghi lễ, đặc tính sâu sắc hơn – hay tính siêu nhiên – có thể bằng cách nào đó
biểu lộ thông qua các vật phẩm của nghi lễ, như Bí tích Thánh thể trong đó rượu
và bánh là máu và thịt của Chúa Giê su. (Các học giả, như Walter Benjamin và
Ellen Dissanayake cho rằng điều này giống như những gì xảy ra khi sáng tạo nghệ
thuật.) Một số nghi lễ khác, một người có thể trực tiếp kết nối với đặc tính
sâu hơn này, như khi cầu nguyện và thiền định hoạc các trải nghiệm cá nhân siêu
nhiên khác. Những trải nghiệm này có thể có ý nghĩa to lớn.
Tôn giáo và khoa học là các tổ chức xã hội tồn tại để
thỏa mãn ham muốn được kết nối với thế giới siêu nhiên của con người, nhưng bản
thân sự ham muốn này xuất hiện và tồn tại trước khi những tổ chức này hình
thành. Ví dụ, bạn không cần tôn giáo để có nghi lễ; trẻ em có thể tạo ra các
nghi lễ một cách tự phát. Một số nghi lễ này là sự liên tưởng nguyên nhân – kết
quả: như khi tôi mang đôi vớ may mắn của mình và chiến thắng trận bóng, tôi sẽ
mang chúng trong mọi trận đấu khác – và một số việc khác sẽ phản ánh hệ thống
niềm tin sâu sắc hơn. Trong nghiên cứu sâu rộng của các nhà dân gian Peter và
Iona Opie về hệ thống niềm tin của hàng ngàn trẻ em, họ kết luận rằng nhu cầu tạo
ra những nghi lễ như vậy là một phần của bản chất con người, và trẻ em “có một
ý thức bẩm sinh rằng số phận có nhiều cách sắp đặt hơn là những gì chúng ta
đang thấy.”
Tương tự, không cần phải là nhà khoa học, người ta
cũng có thể quan tâm đến thứ gì làm nên các đồ vật hay những đồ vật này đến từ
đâu. Nhà tâm lý học Alison Gopnick đưa ra một trường hợp điển hình rằng “khủng
hoảng tuổi lên 2” có thể được giải thích rằng: lúc này trẻ em đang thực hiện
các “thí nghiệm” về thế giới, hành động lên người và vật xung quanh chúng để
xem kết quả. Và từ lâu đã có một phong trào rộng lớn hơn trong tâm lý học phát
triển, nổi lên từ công trình của nhà tâm lý học Susan Carey, trong đó sự phát
triển nhận thức của trẻ được coi là tương tự như sự tiến bộ khoa học.
Tuy nhiên, một nhà phê bình có thể tự hỏi rằng, bao
nhiêu trong số những xung động tiền tôn giáo và tiền khoa học này phản ánh thuyết
bản chất theo một ý nghĩa mạnh mẽ, trái ngược với mong muốn chung chung của trẻ
em là hiểu biết hơn về thế giới và vận dụng tốt hơn. Tôi cũng tự hỏi như vậy.
Tôi bị thuyết phục bởi nghiên cứu đã được tóm tắt ở phần đầu cuốn sách này rằng
ngay cả trẻ em chưa đi học cũng là người theo thuyết bản chất thông thường,
chúng ngầm tin rằng các phạm trù và các cá nhân có những bản chất vô hình giấu
sâu bên trong. Nhưng liệu trẻ em có ham muốn cụ thể để kết nối với những bản chất
này không? Liệu thuyết bản chất của chúng có cho chúng niềm vui hay không? Tôi
nghĩ còn quá sớm để trả lời cho câu hỏi này.
Tuy nhiên, bằng chứng về người lớn thì rõ ràng hơn.
Ngay cả những người công khai từ chối các niềm tin tôn giáo cũng biểu lộ dấu hiệu
của các xung động với thế giới siêu nhiên. Họ không thờ ơ trước sự hấp dẫn của
đặc tính ẩn sâu bên trong; họ chỉ phản ứng với sự hấp dẫn ở bên ngoài ranh giới
của tôn giáo có tổ chức. Chúng ta hãy minh họa bằng việc xem xét quan điểm của
một người vô thần nổi bật thời hiện đại.
Tôi đã kể về việc Richard Dawkins đã viết một cuốn sách về sức hấp dẫn siêu nhiên
của nghiên cứu khoa học như thế nào. Sam Harris nổi tiếng về việc tấn công các
tín ngưỡng độc thần, nhưng ông vô cùng nhiệt huyết với Phật Giáo, mô tả Phật
Giáo như “phương pháp hoàn thiện nhất mà chúng ta đó để khám phá sự tự do nội tại
của ý thức, mà không bị ngăn cản bởi bất kỳ giáo điều nào.” Và Christopher
Hitchens, tác giả của cuốn “Chúa không vĩ
đại”, đã nói về tầm quan trọng của “sự giác ngộ” – điều thường dùng để chỉ
trải nghiệm liên kết với đấng toàn năng – và cho rằng người ta có thể trải nghiệm
điều này mà không cần bất kỳ niềm tin siêu nhiên hay niềm tin tôn giáo nào. Ông
ấy tin rằng mọi người đều phụ thuộc vào sự giác ngộ và sự siêu nhiên, và nói rằng
cá nhân ông không tin tưởng những người không có cảm giác này.
Như vậy, ngay cả những người lý trí mạnh mẽ nhất cũng
có khao khát đối với sự siêu nhiên. Nếu bạn tìm kiếm những cá nhân hoàn toàn thờ
ơ với điều này, bạn có sẽ đang tìm nhầm loài rồi.
0 nhận xét:
Đăng nhận xét