6
TRÍ
TƯỞNG TƯỢNG
NGƯỜI MỸ DÙNG THỜI GIAN RẢNH ĐỂ LÀM GÌ? Câu trả lời có
thể sẽ làm bạn ngạc nhiên. Hoạt động tự nguyện thông thường nhất không phải là
ăn, uống rượu hay phê thuốc. Nó cũng phải là đi chơi với bạn bè, tham gia thể
thao, hay thư giãn với gia đình. Dù thi thoảng người ta cho rằng tình dục là
hành vi khiến chúng ta thỏa mãn nhất, các nghiên cứu về quản lý thời gian cho
thấy rằng trung bình một người Mỹ trưởng thành mất khoảng 4 phút một ngày cho
tình dục – gần như ngang bằng một cách chính xác thời gian mà chúng ta điền giấy
tờ để nộp cho nhà nước.
Hoạt động giải trí chính của chúng ta, đại khái chính
là trải nghiệm những thứ mà chúng ta biết rằng không có thật. Khi chúng ta được
tự do làm thứ mình muốn, chúng ta sẽ ưu tiên cho trí tưởng tượng – cho những thế
giới được người khác tạo ra, như sách, phim, trò chơi điện tử, và ti vi (một
người Mỹ trung bình tốn nhiều hơn 4 tiếng đồng hồ để xem tivi), hay những thế
giới mà chính chúng ta tạo ra, khi chúng ta mơ mộng và tưởng tượng. Dù có thể
công dân của các nước khác sẽ tốn ít thời gian xem tivi hơn, nhưng nghiên cứu ở
Anh và phần lớn Châu Âu cho thấy một sự tương đồng trong nỗi ám ảnh của chúng
ta với những thứ không có thật.
Đối với động vật thì bỏ thời gian để tưởng tượng và mơ
mộng là một chuyện kì lạ. Chắc chắn cuộc sống của chúng ta sẽ tốt hơn nếu chúng
ta theo đuổi các hoạt động mang tính thích nghi — như ăn uống và rèn luyện sức
khỏe, tạo ra các mối quan hệ, xây dựng nơi ở và dạy dỗ con cái của chúng ta.
Thay vào đó, những đứa trẻ hai tuổi đóng giả làm sư tử, các sinh viên tốt nghiệp
thức nguyên đêm để chơi trò chơi điện tử, các cặp bố mẹ trẻ trốn khỏi con cái của
mình để đọc tiểu thuyết, và có nhiều đàn ông thà bỏ thời gian để xem phim đồi
trụy trên mạng còn hơn là tương tác với các phụ nữ thật. Một nhà tâm lý học đã
đặt câu hỏi chính xác về vấn đề này trên Website của cô ấy: “Tôi muốn tìm hiểu
xem khi nào và tại sao người ta thà ở nhà xem bộ phim Những Người Bạn hơn là đi
chơi với những người bạn thật của họ.”
Câu trả lời là: khoái cảm đến từ trí tưởng tượng bởi
vì trí tưởng tượng đã chiếm đoạt hệ thống tinh thần vốn phát triển để tận hưởng
khoái cảm từ thế giới thực. Chúng ta yêu thích những trải nghiệm tưởng tượng vì
ở mức độ nào đó chúng ta không phân biệt được chúng với thế giới thực. Đây là một
ý tưởng mạnh mẽ, một ý tưởng mà tôi cho rằng về cơ bản là đúng, và tôi sẽ diễn
giải ý tưởng này cũng như rút ra một số hàm ý đáng ngạc nhiên từ nó trong
chương này. Nhưng tôi không nghĩ rằng ý tưởng này là hoàn toàn chính xác, và chương
tiếp theo tôi cũng sẽ nghiên cứu một số hiện tượng nhất định – bao gồm phim
kinh dị và ảo tưởng khổ dâm – điều này đòi hỏi một lời giải thích khác, một giải
thích cũng dựa trên cùng một loại thuyết bản chất vốn đã được dùng để giải
thích cho thực phẩm, tình dục, đồ vật hàng ngày và nghệ thuật.
NHỮNG
NGƯỜI ĐÓNG KỊCH VĨ ĐẠI
Tất cả các trẻ em bình thường ở mọi nơi trên thế giới
đều thích đóng vai ai đó và giả vờ làm cái gì đó. Các nền văn hóa khác nhau sẽ
có nhiều loại hình và mức độ thường xuyên khác nhau của trò chơi đóng vai này. Một
đứa trẻ ở New York có thể đóng giả làm một cái máy bay; còn một đứa trẻ thời
săn bắt hái lượm thì không thể làm như vậy. Trong những năm 1950, trẻ em ở Mỹ
đóng giả làm cao bồi và thổ dân; giờ thì không thế nữa. Trong một số nền văn
hóa, người ta khuyến khích việc đóng giả thành ai đó/cái gì đó; trong một số
khác, thì trẻ phải lén lút làm việc này. Nhưng trẻ em thì luôn làm như thế.
Không muốn đóng giả làm một ai khác/một thứ gì khác là một dấu hiệu của vấn đề
thần kinh – một trong những dấu hiệu sớm của chứng tự kỷ.
Những nhà tâm lý học phát triển từ lâu đã rất quan tâm
việc liệu trẻ em có thể phân biệt giữa việc đóng vai ai đó/cái gì đó và ai
đó/cái gì đó trong thực tế hay không. Chúng ta đều biết rằng khi đến tuổi lên bốn,
trẻ em thường đã sở hữu một sự hiểu biết tương đối tinh tế, bởi vì khi chúng ta
hỏi thẳng bọn trẻ cái gì là thật còn cái gì là giả bộ, chúng biết rất rõ.
Còn trẻ nhỏ hơn thì sao? Những đứa trẻ hai tuổi giả bộ
làm thú vật và máy bay, và chúng cũng có thể hiểu được đây chỉ là giả bộ khi
người khác làm như vậy. Khi một đứa trẻ nhìn thấy cha mình gầm gừ và giơ tay giả
làm sư tử, nó sẽ bỏ chạy, nhưng nó sẽ không nghĩ rằng cha nó là sư tử thật, nếu
nó nghĩ cha nó là sư tử thật, thì nó sẽ sợ khiếp vía. Niềm vui mà trẻ em cảm nhận
được từ những hoạt động như vậy sẽ không thể giải thích được nếu bọn trẻ không
có sự hiểu biết lý trí tinh tế rằng việc giả vờ là không thật.
Điều này mở ra một câu hỏi rằng loại hiểu biết này bắt
đầu ở con người sớm đến mức nào, và có một số thí nghiệm hấp dẫn đã khám phá điều
này. Linh cảm của riêng tôi là ngay cả trẻ sơ sinh cũng đã có một mức độ hiểu
biết nhất định để nắm bắt được loại giả vờ này, và bạn có thể nhận thấy điều
này trong những giao tiếp thường ngày. Chúng ta thường hay chơi với trẻ một tuổi
bằng cách đưa mặt lại gần đứa trẻ và đợi nó chộp lấy mắt kính của ta hay mũi
hay tóc của ta. Khi trẻ vừa chộp được, ta đưa đầu ra xa và gầm lên giận dữ. Lần
đầu tiên ta sẽ thấy trẻ hơi ngạc nhiên, có lẽ nó sẽ có chút lo lắng, chút sợ
hãi, nhưng sau đó ta lại đưa đầu tới gần rồi đợi đứa trẻ lặp lại điều đó. Nó sẽ
lặp lại hành động đó, rồi ta lại giả vờ giật mình. Có rất nhiều bé cảm thấy
chuyện này mắc cười. (Nếu đứa trẻ thích chọc vào mắt hơn thì ta có thể dùng
chìa khóa thay vì đưa mặt vào gần nó). Để có thể cảm nhận được điều này, thì đứa
trẻ phải biết là bạn chẳng có giận dữ một chút xíu nào, trẻ phải hiểu rằng bạn
đang giả vờ.
Tất nhiên là chúng không phải lúc nào cũng phân biệt
được thật giả. Dù là người lớn thì đôi khi cũng cảm thấy khó mà phân biệt được đâu
là giỡn chơi và đâu là hành động nghiêm túc, cho nên bạn cũng không nên hy vọng
quá nhiều vào loài sinh vật có kích thước nhỏ như vậy. Charles Darwin kể chuyện
về con trai đầu của mình – William: “Khi thằng bé được bốn tháng tuổi, tôi tạo
ra nhiều tiếng ồn kì dị và những cái nhăn mặt lạ lùng trước mặt nó, nhưng tiếng
ồn – miễn không quá lớn, cũng như những cái nhăn mặt, đều bị coi như trò đùa;
và điều này xảy ra vào thời điểm mà chúng bắt đầu biết và quen với việc mỉm cười.”
Nhưng sau đó thì William bị lừa bởi y tá của thằng bé: “Khi thằng bé được sáu
tháng tuổi, y tá của nó giả vờ khóc, và tôi thấy mặt thằng bé lập tức trở nên
buồn bã, khóe môi chùng xuống.”
Đóng kịch và giả vờ liệu có phải là độc quyền của con
người không? Loài chó và loài sói tương tác với đồng loại theo cách giống như
đóng kịch, đặc biệt là khi chúng giả vờ đánh nhau, và chúng cũng có thể nhận ra
rằng những đòn tấn công không hề nghiêm túc, chúng vẫn đứng trên hai chân sau
và giữ đầu thấp hơn con vật mà chúng đang tương tác. Điều này đại khái có nghĩa
là “Tôi muốn đùa giỡn” hay là “Chúng ta vẫn đang đùa giỡn”. Theo nghĩa rộng, điều
này có thể tính là giả vờ. Nhưng loại trò chơi giả vờ này thường là thứ mà động
vật làm theo bản năng, như một cách để luyện tập các kỹ năng quan trọng trong
tương lai. Chúng không cần phải mã hóa những trò chơi này trong trí não để trở
thành một phiên bản tưởng tượng cho một cuộc chiến trong tương lai ở bất kỳ mức
độ nào.
Điều này cũng đúng với con người. Khi một đứa trẻ và một
con chó chạy trong công viên với nhau, chúng đều có cùng suy nghĩ, đó là – không
nghĩ gì cả. Nhưng trẻ con thì thông minh hơn như thế. Trí tưởng tượng của chúng
rất linh hoạt - bất cứ thứ gì có thật đều có thể được coi là giả vờ. Bạn có thể
cho đứa trẻ nhìn thấy một hành động hoàn toàn mới, như cắt giấy làm đôi, và sau
đó mô tả một phiên bản giả vờ của hành động này (lấy 2 ngón tay làm kéo, cắt
vào không khí) và, nếu bạn làm đủ giống, thì đứa trẻ sẽ hiểu được ý này – bạn
đang giả vờ cắt giấy. Điều này có vẻ đơn giản, nhưng tôi nghi ngờ rằng không có
loài nào ngoài loài người có thể làm được điều này.
SIÊU
ĐẠI DIỆN
(METAREPRESENTATION)
(*) là khả năng của
trí óc để diễn giải "một đại diện cấp cao hơn với đại diện cấp thấp hơn được
nhúng bên trong", ví dụ một bức vẽ là đại diện của một cái gì đó và khi ai
đó nhìn vào bức vẽ, thứ đó sẽ hiện lên trong tâm trí của họ.
Dùng trí não để lý giải và phản hồi bằng cảm xúc với một
thứ mà biết rằng nó không có thật – là một năng lực đặc biệt. Nó cho thấy khả
năng xử lý các siêu đại diện – đại diện của đại diện.
Để hiểu xem điều này có nghĩa gì, hãy xem xét ý nghĩ
đơn giản nhất mà chúng ta có, như:
Cây
dù trong tủ đồ.
Những câu như vậy (hoặc mệnh đề như vậy) giúp giải
thích hành động của con người. Nếu trời mưa và bạn không muốn bị ướt, thì bạn sẽ
đến tủ đồ để lấy dù, và điều này xảy ra là vì bạn tin rằng cây dù ở trong tủ đồ
- trong đầu bạn có sẵn điều gì đó liên quan đến mệnh đề phía trên. Những động vật
khác cũng có thể hành động tương tự. Thí dụ như chuột có thể mã hóa mệnh đề như
là
Thức
ăn ở trong góc.
Giờ hãy xem xét đến phần đặc biệt. Mary nói rằng cô ấy
không muốn bị ướt, và cô ấy muốn lấy cây dù, vì vậy cô ấy bước tới tủ đồ. Bạn
nhìn thấy điều này và bạn hình thành suy nghĩ rằng:
Mary
nghĩ rằng cây dù ở trong tủ.
Đây là loại suy nghĩ đặc biệt, vì bạn có thể giữ nó
trong đầu ngay cả khi sự việc cài trong bản thân câu nói là sai – bạn hoàn toàn
vừa có thể tin rằng Mary cho rằng cây dù trong tủ vừa tin rằng cây dù không có
trong tủ; thực ra nó ở trong phòng khách.
Năng lực lý giải những niềm tin sai lầm của người khác
khá là quan trọng. Nó tạo ra kỹ năng giảng dạy, một kỹ năng liên quan đến việc
tin rằng người khác biết ít hơn bạn. Nó cũng làm nền tảng cho nói dối và lừa đảo:
khi tôi nó rằng tôi chưa từng nhận được e-mail dù tôi thực ra đã nhận được, tôi
đang cài vào đầu bạn một niềm tin không có thật. Đối với trẻ em, giải thích về
niềm tin sai lệch này khá khó khăn, dù rằng có nhiều thí nghiệm gần đây cho thấy
rằng nếu nhiệm vụ đủ đơn giản thì ngay cả trẻ một tuổi cũng thành công.
Siêu đại diện là trọng tâm của niềm vui tưởng tượng. Chúng
ta biết rằng, xem các vở kịch, Jocasta là mẹ của Oedipus; điều khiến cho câu
chuyện thú vị là chúng ta cũng biết rằng Jocasta và Oedipus không biết rằng họ
là mẹ con. Học giả văn chương kiêm nhà khoa học nhận thức Lisa Zunshine viết về
điều này trong một tập phim Những Người Bạn: khi Phoebe nhận ra Monica và
Chandler đang yêu nhau, cô ấy quyết định đùa giỡn bằng cách tán tỉnh với
Chandler. Monica biết rằng Phoebe đã biết chuyện, nên để giỡn lại, cô ấy bảo
Chandler cứ đón nhận sự tán tỉnh của Phoebe, vì vậy Phoebe phải thu lại hành động
vì cảm thấy xấu hổ, sau đó khi Phoebe biết được Monica nghĩ gì, cô ấy nói với bạn
bè: “Họ nghĩ rằng họ có thể giỡn mặt với chúng ta. Họ giỡn mặt với chúng ta hả?
Họ không biết rằng chúng ta đã biết rằng họ biết chúng ta biết.”
Và Zunshine cũng nói về điều này trong hoạt cảnh ưa thích của tôi trên tờ The Yorker:
Dĩ
nhiên là em quan tâm tới việc anh nghĩ gì về việc em nghĩ gì về cách mà anh đón
nhận cảm giác mà em muốn dành cho anh.
© The New Yorker Collection 1998 Bruce Eric
Kaplan from cartoonbank.com. All Rights Reserved.
Năng lực Siêu đại diện này đến từ đâu? Có hai khả năng
hợp lý và tương thích cho nguồn gốc này.
Khả năng đầu tiên được mô tả trong ví dụ trên. Hành động
của người ta thường không bị chi phối bởi thế giới thật, mà bởi cách mà họ nghĩ
về thế giới, và để hiểu được hành động của họ thì bạn phải hiểu về những sự việc
mà bạn biết rằng không đúng. Siêu đại diện có thể tiến hóa nhằm để thấu hiểu lý
trí người khác.
Khả năng thứ hai là năng lực tưởng tượng ra những thứ
không có thật cho phép chúng ta lên kế hoạch cho tương lai, đánh giá thế giới
chưa từng tồn tại và có thể không bao giờ tồn tại. Như nhà phê bình AD Nuttall
đã nói, “Tôi nghĩ thứ khéo léo nhất mà Karl Popper đã từng nói là đánh giá của
ông về giả thuyết “chết thay chúng ta”. Loài người đã tìm ra một cách, nếu
không thể xóa bỏ, thì hãy tìm cách trì hoãn và giảm bớt guồng quay tử thần của
Darwin. Chúng ta gửi các giả thuyết của mình đi trước, như một đội tốt thí, và
nhìn chúng sụp đổ.”
Để xem điều này xảy ra như thế nào, hãy nghĩ tới việc
dự định đi du lịch. Bạn cân nhắc việc đi đến Ko Samet, một hòn đảo ở Thái Lan.
Bạn nghĩ về điều này và rút ra nhiều kết luận khác nhau dựa trên việc bạn biết
gì về nơi này – bạn kết luận rằng, bạn sẽ ở gần bãi biển. Nghe có vẻ là khá
vui. Bạn so sánh điều này với việc đi du lịch ở Luân Đôn, nơi bạn có thể đến
thăm các viện bảo tàng xuất sắc. Quan trọng là, những suy luận này tách biệt với
nhau và với thực tế hiện tại; chúng có dạng:
Nếu
tôi đến Ko Samet, tôi có thể đi dạo trên bờ biển.
Nếu
tôi đến Luân Đôn, tôi có thể đi dạo ở các bảo tàng.
Bạn có thể tạo ra những niềm tin với tin tưởng rằng những
nội dung bên trong là đúng; bạn tạo ra chúng mà không cần tin rằng chúng đúng với
hiện tại, rằng:
Tôi
có thể đi dạo trên bờ biển.
Tôi
có thể đi dạo ở các bảo tàng.
Điều này nghe có vẻ bình thường, nhưng khả năng để tạo
ra những thế giới tách biệt này đã cho phép chúng ta lên kế hoạch – điều mà
không loài sinh vật nào khác có thể làm, vì chúng ta có thể tưởng tượng và đánh
giá các tương lai khác nhau. Điều này thường diễn ra nhanh và không cần nhiều ý
thức, như khi bạn từ chối ly martini thứ hai vì tối này bạn còn phải làm việc
và bạn không muốn bị chếch choáng:
Nếu
tôi uống hai ly martini, tôi sẽ bị chếch choáng.
Nhưng điều này cũng có thể diễn ra một cách tinh tế
hơn – như đã đề cập trong Chương 3 về việc Charles Darwin xếp hạng lợi & hại
của việc cưới Emma Wedgwood.
Cả hai lý thuyết về nguồn gốc siêu đại diện này đều đến
từ thuyết thích nghi. Mặc dù khi chúng ta có hệ thống này, thì năng lực tưởng
tượng của chúng ta được dùng với nhiều mục đích không có lợi ích thích nghi,
như mơ tưởng, xem phim, đọc sách.
Siêu đại diện là trọng tâm của việc giả vờ và đóng kịch.
Trong một nghiên cứu tinh vi, nhà tâm lý học Alan Leslie yêu cầu những đứa trẻ
hai tuổi giả vờ rót nước vào cốc, sau đó đổ cốc lên một con gấu. Ông phát hiện
ra rằng bọn trẻ thừa biết thực ra con gấu rất khô ráo, nhưng chúng cũng biết rằng
– trong thế giới tưởng tượng, con gấu bị ướt và cần phải được lau khô, bởi vì
Trong
trò chơi này, cái cốc đầy nước.
Và chúng biết rằng điều này là đúng ở thế giới tưởng
tượng (giống như thế giới thật), rằng khi bạn đổ một cái cốc đầy nước lên ai đó
thì họ sẽ bị ướt. Đứa cháu gái 3 tuổi của tôi chỉ tay vào tôi và kêu “Bang!” và
tôi ngã ra đất, lưỡi thè ra, chết tươi, nhưng, con bé thừa biết rằng tôi còn sống.

0 nhận xét:
Đăng nhận xét