Thứ Bảy, 6 tháng 8, 2022

How Pleasure Works - chương 5 (3)

 

NGƯỜI TRÌNH DIỄN

Trọng tâm của lịch sử là giúp giải thích tại sao chúng ta thích các tác phẩm gốc hơn.

Trong thế kỷ trước, các triết gia đã lập luận rằng các công nghệ tái sản xuất mới sẽ làm mất đi sở thích này. Walter Benjamin cho rằng “lần đầu tiên trong lịch sử thế giới, máy móc tái sản xuất giải phóng thế giới nghệ thuật khỏi sự phụ thuộc ký sinh của nó vào thực tế.” André Malraux cho rằng các tác phẩm gốc sẽ không còn quan trọng nữa, vì bảo tàng nào cũng có thể chứa tất cả những tác phẩm nghệ thuật trên khắp thế giới. Vậy chúng ta cần bảo tàng để làm gì? Hãy nghĩ về ngôi nhà của Bill Gate ở Seattle, với những màn hình lớn trên tường trưng bày những tác phẩm thị giác. Sau đó hãy tưởng tượng những màn hình như vậy ở mỗi một ngôi nhà, hoàn toàn có khả năng tái sản xuất bất kỳ bức tranh nào mà bạn muốn ngắm nhìn.

Nhưng với định nghĩa của nó, tác phẩm gốc thì chỉ có duy nhất một, vì vậy luôn việc nhìn thấy nó, hay tốt hơn là sở hữu nó, luôn có một vị trí quan trọng nhất định. Tương tự, tác phẩm gốc có mối liên hệ với tác giả, và như đã nói ở chương trước, sự lây lan tích cực này rất hấp dẫn. Hầu hết các tác phẩm gốc đều có lịch sử đặc biệt, như việc nó xuất hiện và tồn tại thông qua một quá trình sáng tạo, ấn tượng hơn nhiều so với các kỹ thuật sao chép của các tác phẩm nhái. Chính cảm giác của chúng ta đối với lịch sử này đã giái thích lý do tại sao sự yêu thích đối với các tác phẩm gốc không hề mất đi.

Việc chú ý vào màn trình diễn cũng giúp chúng ta hiểu hơn về các sự bất đồng trong nghệ thuật. Lấy ví dụ như những bức tranh trừu tượng của Jackson Pollock. Nhiều người không ấn tượng với các bức vẽ này. Phản ứng tiêu cực này một phần là do những bức tranh này không thể hiện rõ ràng trình độ kỹ năng. Tạo ra chúng có vẻ khá dễ dàng; câu nhận xét điển hình là: “Vẽ vậy thì con tôi cũng vẽ được.” Nhà giáo nghệ thuật Philip Yenawine phản đối nhận định này. Ông đã mô tả một tác phẩm của Pollock – One (số 31, 1950) rằng kích thước khổng lồ của nó (274cm cao, 518cm rộng) và kỹ năng cũng như trí tưởng tượng siêu phàm trong việc tạo ra các nét sơn quét hình vòng cung, đồng thời duy trì các yếu tố riêng biệt, v.v. Nếu bạn nghĩ làm điều này là dễ dàng, thì sao bạn không thử xem?

Vì vậy, người ta phản bác tác phẩm của Pollock một phần nào đó là bởi vì lịch sử của nó. Nếu Yenawine có thể thuyết phục những người hoài nghi rằng làm ra những tác phẩm này rất khó khăn, thì những người hoài nghi có thể sẽ đánh giá cao bức tranh hơn. Tương tự, nếu Yenawine nhìn thấy một đứa trẻ sáu tuổi nguệch ngoạc vẽ trên một bức canvas khổng lồ trong 10 phút và tạo ra thứ gì đó vô cùng giống với tác phẩm One (Số 31, 1950) của Pollock, thì tôi cá là từ nay ông sẽ không thích thú gì với tranh của Pollock đâu.

Khi đánh giá màn trình diễn, chúng ta đang tìm kiếm thứ gì? Một xem xét thô sơ nhưng hợp lý là việc chúng ta cảm nhận được tác phẩm có bao nhiêu nỗ lực. Nhà tâm lý học Justin Kruger và đồng nghiệp đã thí nghiệm điều này một cách đơn giản, bằng cách cho các đối tượng xem một bài thơ, một bức tranh hoặc một bộ áo giáp và kể cho họ những câu chuyện khác nhau về thời gian họ làm ra. Ví dụ, cho người ta xem các tác phẩm trừu tượng của họa sĩ Doborah Kleven, một nửa trong số họ được cho biết là bức vẽ tốn 4 giờ để vẽ, và nửa còn lại là 26 giờ. Như đã dự đoán trước, những người được biết tác phẩm tốn nhiều thời giở hơn thì đánh giá cao nó hơn, về chất lượng, giá trị và mức độ yêu thích.

(Tôi nghi ngờ rằng điều này cũng giải thích một chút về định giá nghệ thuật: kích thước là một vấn đề quan trọng. Đối với một số nghệ sĩ, bức tranh càng lớn thì càng có xu hướng tốn kém hơn. Điều này cũng có thể phản ánh việc chúng ta trực giác tin rằng vẽ một bức tranh lớn thì khó khăn hơn bức tranh nhỏ. Càng tốn nhiều công sức hơn thì khoái cảm càng lớn hơn và giá trị cũng lớn hơn.)

Công sức cũng quan trọng khi chúng ta đánh giá tác phẩm của chính mình. Khi hỗn hợp bột làm bánh không cần pha trộn thêm được giới thiệu vào những năm 1950, chúng không phổ biến – mãi cho đến khi nhà sản xuất thay đổi công thức để các bà nội trợ phải bỏ thêm vào chút công sức; ví dụ thêm trứng. Điều này khiến sản phẩm tốt hơn. Việc tăng giá trị dựa trên công sức của chính mình là thứ mà nhà tâm lý học Michael Norton và đồng nghiệp gọi là “hiệu ứng IKEA”, dựa trên tên của các cửa hàng đồ nội thất của Thụy Điển – nơi mà bạn mua món đồ về rồi tự lắp ráp. Họ đã mô tả điều này trong phòng thí nghiệm, phát hiện ra rằng các đối tượng thí nghiệm đánh giá cao tác phẩm của chính mình – như một con ếch xếp bằng giấy – hơn là cùng vật đó nhưng là của người khác tạo ra.

Công sức đóng vai trò nhất định, nhưng không phải là thứ quan trọng nhất. Nói cho cùng, khi chúng ta thích tác phẩm của Vermeer hơn tác phẩm của van Meegeren, hoàn toàn không phải bởi vì chúng ta nghĩ rằng Vermeer vẽ bức tranh đó lâu hơn và tốn nhiều công sức hơn. Điều quan trọng ở đây là chúng ta trực giác tin tưởng sự sáng tạo và tính thiên tài.

Một ví dụ xuất sắc cho việc các trực giác này quan trọng như thế nào, là khi Marla Olmstead nổi tiếng với các tác phẩm trừu tượng, các tác phẩm của cô bé được bán với giá hàng chục ngàn đô la. Các tác phẩm này được bán giá cao như vậy một phần là vì cô bé chỉ là một đứa bé; người ta gọi cô bé là “Pollock cỡ nhỏ” và điều này đã khiến cô bé có được triển lãm tranh vẽ của riêng mình vào độ tuổi lên 4. Các bức tranh của cô bé có thể khó mà phân biệt được bằng mắt thường với các tác phẩm của người khác, nhưng, khi còn bé, Olmstead không được dạy vẽ và rất tách biệt khỏi thế giới nghệ thuật, và các tác phẩm của cô ấy thấp thoáng bóng dáng của một thiên tài sáng tạo. Cú twist xảy ra khi cô bé được mời đến chương trình ti vi 60 phút II, đã để lộ rằng chính cha cô bé đã huấn luyện cô ấy. Điều này đã làm thay đổi ấn tượng của người ta về bản năng họa sĩ thiên tài của cô, và giá trị các bức tranh đã rớt xuống.

ÁP LỰC TRÌNH DIỄN

Liệu thuyết bản chất này có thể cho chúng ta biết cái gì là nghệ thuật và cái gì không phải hay không?

Có lẽ là không. Không có ranh giới nhất định giữa nghệ thuật và phi nghệ thuật. Như Dutton đã nói, có vài thuộc tính điển hình trong các tác phẩm nghệ thuật, và đối với các trường hợp chỉ chứa một số thuộc tính này, thì chúng ta không có câu trả lời. Tương tự, nghệ thuật là một lĩnh vực mang tính cá nhân cao, và khi một lý thuyết nghệ thuật mới trở nên phổ biến, thì sẽ có một số nghệ sĩ dở hơi sẽ vội vàng phủ nhận và làm trái nó. Ví dụ điển hình nhất ở đây là một trong những tác phẩm nghệ thuật có ảnh hưởng nhất trong thế kỷ trước - Đài phun nước của Marcel Duchamp, được ông tạo ra một phần để chế nhạo lý thuyết rằng nghệ thuật phải đẹp.

Tuy nhiên, nếu nghệ thuật là một loại hình trình diễn, thì:

1.      Tác phẩm nghệ thuật phải có chủ đích

2.      Tác phẩm nghệ thuật hướng tới khán giả

Nói về chủ đích trước. Chúng ta để lại các bước chân trên cát, vo giấy vứt vào thùng rác, và giường bừa bộn, và không có thứ gì trong số này là tác phẩm nghệ thuật. Nhưng chúng có thể là nghệ thuật nếu chúng được tạo ra với chủ đích này, và những tác phẩm như vậy có thể nhìn thấy trong các viện bảo tàng. Ví dụ, Giường ngủ của tôi của Tracey Emin, là cái giường của cô với nhiều thứ đồ trên đó; nó được triển lãm tại Bảo tàng Tate. Vì vậy, người ta có thể có hai tác phẩm giống hệt nhau, nhưng một tác phẩm trở thành nghệ thuật và tác phẩm kia không phải, dựa trên trạng thái tâm lý của người tạo ra chúng.

Dù sao thì đây cũng là trực giác của một số triết gia. Nhà tâm lý học Susan Gelman và tôi đều lưu ý đến việc điều này phù hợp với quan niệm của chúng tôi về sự thông thường như thế nào. Vì vậy chúng tôi đã kiểm tra trẻ ba tuổi bằng cách cho chúng xem một số đồ vật và kể cho chúng nghe các câu chuyện về những đồ vật này. Ví dụ, chúng tôi cho lũ trẻ xem một đốm màu sơn trên canvas và nói rằng nó được tạo ra bởi một đứa trẻ vô tình làm đổ sơn của mình, hoặc là,  một đứa trẻ đã vẽ một cách rất cẩn thận. Như dự đoán, điều này đã tạo ra sự khác biệt: Khi biết rằng đây là một tác phẩm tạo ra bởi tai nạn vô ý, lũ trẻ thường dùng chữ “bức vẽ” (paint), và nếu biết rằng đốm màu được cố tình tạo ra, thì lũ trẻ dùng chữ “bức tranh” (painting).

Điều này dẫn chúng ta tới câu hỏi rằng, chúng ta nên nghĩ gì về những tác phẩm không phải do con người tạo ra, như những bức tranh được vẽ bởi voi và tinh tinh. Nhiều bức rất thu hút, nhưng khó lòng mà xem chúng như nghệ thuật. Vấn đề là động vật không biết chúng đang làm gì. Nếu tôi nhúng bàn tay của con hamster và màu vẽ rồi cho nó chạy trên bức canvas, có thể tác phẩm sẽ đẹp đấy, nhưng nó không phải là một bức tranh. Tôi nghi là những tạo phẩm của voi và tinh tinh còn hơn thế nữa. Chúng không có ý định vẽ và cũng không thích thú gì tác phẩm của mình. Những con vật được huấn luyện cần tới sự giúp đỡ của con người, không chỉ với cách bình thường như đưa cọ vẽ cho chúng, mà còn vì chúng cần người dừng chúng lại – nếu không ai lấy bức tranh đi, thì con vật cứ tiếp tục, tạo ra các bức tranh sơn dầu màu nâu. Điều mà những con vật này làm rất khác biệt so với hành vi của trẻ nhỏ, chúng biết tạo ra nghệ thuật, và dừng lại khi hoàn thành, và thích thú các tác phẩm của mình và đưa cho người khác xem.

Giờ hãy nói về điều thứ hai, nghệ thuật có mục đích là để trưng bày; và nó được tạo ra cho khán giả xem. Điều này khiến nó khác biệt so với các hoạt động có mục đích khác như chạy đua, pha cà phê, chải tóc hay kiểm tra e-mail. Đó là sự khác biệt giữa Đài phun nước và một bồn tiểu; giữa Hộp Brillo của Andy Warhol và một cái hộp Brillo; giữa John Cage’s 4'33" và một anh chàng nào đó đang ngồi ở cây piano trong 4 phút 33 giây vì anh ta đang lên cơn hoảng sợ.

Tôi thừa nhận rằng có một số ví dụ chống lại lập luận này. Có những tác phẩm được làm ra không có mục đích trưng bày – như các bức vẽ tay của Rodin – nhưng dù vậy đây vẫn được coi là tác phẩm nghệ thuật. Và cũng có một số vật phẩm được cố tình tạo ra để trưng bày cho khán giả xem, nhưng chẳng ai coi nó là nghệ thuật. (Cuốn sách này cũng được tạo ra với mục đích cho khán giả xem, nhưng nó không phải tác phẩm nghệ thuật, theo định nghĩa bình thường nhất của từ này.)

Tuy nhiên, một trong những ưu điểm của thuyết trình diễn là nó đã giải thích nhiều thứ đúng đắn, với trọng tâm cho rằng tác phẩm nghệ thuật gồm 2 phần: ý định của tác giả và trưng bày cho khán giả. Ý kiến cho rằng chúng ta nhìn nghệ thuật như một màn trình diễn bằng trực giác, có thể cho chúng ta những hiểu biết sâu sắc về cách thức mà người ta hiểu và lý giải các tác phẩm nghệ thuật khác thường trong thời đại của nó, như tác phẩm của Duchamp, Warhol và Cage. Và nó cũng giúp chúng ta hiểu được phản ứng của mình đối với những tác phẩm thậm chí còn gây tranh cãi hơn.

Lấy ví dụ, đồ án nghệ thuật tốt nghiệp của một sinh viên năm cuối đại học Yale nói về những lần phá thai một cách có chủ đích lặp đi lặp lại nhiều lần. Như cô ấy mô tả, vào đầu chu kỳ kinh nguyệt, cô ấy sẽ tự thụ tinh với tinh trùng của những người tình nguyện. Vào ngày thứ 28 của chu kỳ, cô ấy sẽ uống thuốc phá thai và sau đó sẽ bị chuột rút và ra máu. Máu là một phần của triển làm, cùng với các video ghi lại quá trình. Dự án của cô ấy đã gây ra tranh cãi khi nó được đưa lên bản tin quốc gia và người ta tranh luận về việc liệu cô ấy có thực sự làm tất cả những điều này hay không, với ban giám hiệu Đại học Yale khẳng định đó là giả.

Hãy xem xét tác phẩm nổi tiếng nhất của Piero Manzoni: 90 lon phân của nghệ sĩ. Chúng được bán khá tốt; năm 2002, Bảo tàng Tate trả 61,000 đô la để mua một trong số này. Tác phẩm nghệ thuật thú vị này liên kết với thuyết bản chất một cách hết sức thú vị. Nó là hình ảnh thu nhỏ của sự lây lan tích cực, ý tưởng rằng niềm vui mà chúng ta nhận được từ một số đồ vật nhất định là do niềm tin rằng chúng chứa phần dư của người tạo ra chúng hoặc người sử dụng chúng. Như Manzoni đã nói, “Nếu nhà sưu tập muốn thứ gì đó thân thuộc, mang tính cá nhân của người nghệ sĩ, thì đó chính là phân của người nghệ sĩ đó.” Thêm vào đó, tác phẩm này còn chứa một viễn cảnh hết sức buồn cười. Manzoni cố tình không hấp tiệt trùng những cái lon, vì thế ít nhất là phân nửa số lon phân, đang được trưng bày một cách tự hào ở các viện bảo tàng và các bộ sưu tập cá nhân, nổ.

Người ta có nhiều phản ứng khác nhau trong trường hợp như vậy. Nhiều người bị sốc và cảm thấy kỳ cục, những người khác bị lóa mắt, nhận được niềm vui to lớn từ chúng. Mục đích của tôi ở đây không phải là so sánh thiệt hơn, mà là để chỉ ra rằng ngay cả nhà phê bình khắt khe nhất cũng có thể đánh giá đây là một màn trình diễn sáng tạo. Chúng ta hiểu lý do mà vụ phá thai tồn tại rồi đấy (nếu nó thực sự tồn tại), hoặc lý do tại sao có nghệ sĩ lại đem phân của mình đi đóng hộp.

Hơn nữa, giống như Pollock, xung đột trong trực giác của chúng ta về chất lượng của tác phẩm phần lớn đến từ việc chúng ta nghĩ gì về màn trình diễn. Nếu bạn nghĩ rằng công sức tạo nên bức tranh là không đáng kể, thì bạn sẽ thấy nó là một tác phẩm nghệ thuật tồi và bạn chẳng cảm thấy vui vẻ gì với nó – có lẽ là trừ niềm vui đến từ chuyện chế nhạo nó. Chúng ta không phản ứng với tác phẩm của Manzoni giống như với tác phẩm của Rembrandt (tuy nhiên, theo một bài viết trên trang web của Bảo tàng Tate, để trữ phân thì không hề dễ dàng chút nào). Bạn phải bị lóa mắt bởi ý tưởng là bạn bị lóa mắt vì nghệ thuật.

Đây là lý do tại sao người ta phản ứng tiêu cực với các tác phẩm hiện đại và hậu hiện đại; bởi vì chúng không phô bày các kỹ năng một cách rõ ràng. Nhưng nhà phê bình Louis Menand đã giải thích, sở thích nghệ thuật thay đổi từ việc biết nghệ thuật là gì chuyển sang biết nghệ thuật là như thế nào. Nghệ thuật truyền thống thường là về những thứ thực sự tồn tại trong thế giới này; còn nhiều tác phẩm hiện đại thì lại là về bản thân của chính quá trình trình diễn. Do đó, việc đánh giá cao phần lớn nghệ thuật hiện đại đòi hỏi phải có chuyên môn cụ thể. Bất kỳ kẻ ngốc nào cũng có thể kinh ngạc trước một Rembrandt, nhưng chỉ một số ít người ưu tú mới có thể hiểu được tác phẩm như Bồn Phun Nước / Sau Marcel Duchamp của Sherrie Levine, và vì vậy chỉ một số ít người ưu tú mới thích nó. Manzoni đã từng lật ngược một cái bệ để bề mặt của nó chạm vào mặt đất, và sau đó tuyên bố rằng toàn bộ hành tinh này đã trở thành tác phẩm nghệ thuật của ông. Khi tôi đọc về chuyện này, tôi thấy nó khá buồn cười, nhưng đối với tôi, đó là một trò đùa mà một đứa trẻ 10 tuổi cũng có thể làm được. Một người nào đó đắm chìm trong thế giới nghệ thuật có lẽ sẽ thấy khác. Vở kịch Nghệ thuật là một kịch tài liệu về những xung đột về cảm nhận giống như vậy giữa những người mới và các chuyên gia. Vở kịch bắt đầu với cảnh Serge mua một bức tranh trắng không khung với một số vết hằn theo đường chéo khó nhìn thấy và đưa nó cho người bạn Marc của mình xem:

Marc: Cậu đã trả hai trăm đô la cho đống cứt này sao?

[Sau đó, Serge phàn nàn với một người bạn khác.]

Serge: Tôi không trách cậu ấy vì không thích bức tranh này, cậu ấy chưa từng được đào luyện, bạn phải trải qua sự học hành luyện tập nghệ thuật mới có thể cảm nhận được.

Chúng ta không nhất thiết phải cho rằng Serge đã đúng trong trường hợp này. Có lẽ Marc mới là người đúng, vì về sau, anh ấy đã nhấn mạnh rằng Serge nhìn thấy gì đó không hề tồn tại trong bức tranh. Hẳn là Marc sẽ thích những câu chuyện đời thực khi chính các chuyên gia bị nhầm lẫn, như khi David Hensel nộp tác phẩm điêu khắc của ông, một cái đầu đang cười lớn tên là Một ngày gần hơn với Thiên Đường, đến một cuộc triển lãm nghệ thuật đương đại đang mở tại Học viện Hoàng gia ở London. Ông đã đóng hộp nó với một cái giá đỡ là một phiến đá để đặt cái đầu lên. Các giám khảo nghĩ rằng đây là 2 tác phẩm riêng biệt, họ từ chối cái đầu nhưng giữ lại phiến đá. Trực giác của chuyên gia về lịch sử và màn trình diễn không phải lúc nào cũng chính xác.

THỂ THAO

Chúng ta đã bắt đầu chương này với câu chuyện về một nghệ sĩ ở trạm tàu điện ngầm, chuyển tới một tác phẩm đạo nhái nổi tiếng, sau đó thì quay lại với nghệ thuật tổng quát. Chúng ta đã bàn luận về nhiều loại nguồn gốc khoái cảm liên quan đến nghệ thuật, nhưng trọng tâm vẫn đặt ở màn trình diễn, với quan điểm là khoái cảm mà chúng ta có từ nghệ thuật đến từ việc chúng ta nghĩ về cách mà tác giả tạo ra các tác phẩm nghệ thuật.

Loại khoái cảm này không chỉ dành riêng cho nghệ thuật. Người ta nói rằng người Hy Lạp xếp nghệ thuật và thể thao và cùng một nhóm, một điều chưa từng có trong giới học thuật hiện đại. Trong các trường đại học, có rất ít các lớp trong các trường đại học sử dụng các công cụ trí tuệ vốn dùng cho nghệ thuật để nghiên cứu về thể thao; có nhiều giáo sư chuyên môn cao về nhạc baroque hay nghệ thuật đại chúng, nhưng không có ai chuyên môn về môn nhảy sào hay bóng đá.

Việc bỏ qua thể thao có thể là một thiếu sót. Phải thừa nhận rằng nghệ thuật và thể thao khác nhau rõ ràng ở số một mặt nhất định. Nghệ thuật thường vô dụng. Thể thao thì có một nền tảng thực tế hơn; một phần trong khoái cảm đến từ thể thao đến từ việc thực hành các kỹ năng có ích trong môi trường mà chúng ta đã tiến hóa, như chạy và đánh nhau, vì thế người ta có thể bị thúc đẩy đến với thể thao mà việc phô diễn có hay không cũng không quan trọng. Có lẽ vì điều này, nghệ thuật thường được đính kèm với mong đợi từ khán giả, nhưng thể thao thì không – nếu bạn chơi bóng quần với bạn bè và chẳng ai đến xem, thì nó vẫn là trò chơi bóng quần.

Tuy nhiên, chúng đều thể hiện các đặc tính sâu sắc hơn của con người, vì thế sự tương đồng sẽ ở mức độ sâu hơn. Đối với cả hai, sự đánh giá của chúng ta về màn trình diễn bị ảnh hưởng bởi thời gian và nơi chốn mà sự việc xảy ra. Nếu tôi ký tên vào một cái bồn tiểu và gửi nó đi dự thi, tôi sẽ không thắng giải. Trễ rồi – Duchamp đã làm điều này vào năm 1917. Một chuyên gia nghệ thuật đã viết rằng: “Tạo ra một thứ gì đó mới là một thành tựu. Einstein là người đầu tiên nhìn ra E=MC2. Sau này thì dù bất kỳ người diễn viên nào cũng có thể đội một bộ tóc giả rối và nguệch ngoạc công thức này lên bảng đen, nhưng điều này cũng không thể khiến anh ta trở thành Einstein được.”

Trong thể thao, là người đầu tiên làm được chuyện gì đó cũng rất quan trọng. Chúng ta phần nào có thể dùng tính nguyên bản để lý giải cho điều này, như với màn đấu dây táo bạo của Muhammad Ali chống lại George Foreman vào năm 1974. Nhưng trong thể thao, là người “đầu tiên” làm được gì đó rất quan trọng vì nhiều lý do khác nữa. Khi Roger Bannister phá kỷ lục bốn phút một dặm vào năm 1954, đây không phải là nghệ thuật sáng tạo – không phải là chưa ai nghĩ  ra việc chúng ta có thể chạy nhanh như vậy – nhưng đây vẫn là một màn trình diễn độc đáo và quan trọng. Điều gì khiến nó trở nên đặc biệt? Chúng ta hãy nhắc lại lời của Dutton khi viết về cách mà việc chúng ta đánh giá một tác phẩm nghệ thuật gắn liền với với “cách mà người nghệ sĩ giải quyết vấn đề, vượt qua trở ngại, và tạo ra bằng những nguyên liệu sẵn có.” Điều này cũng đúng với thể thao. Bannister không có huấn luyện viên; anh đã luyện tập cùng với bạn bè mình trong giờ nghỉ trưa khi anh đang học trường y. Hiện nay, bất kỳ ứng cử viên nặng ký nào nhắm tới việc phá kỷ lục số phút để chạy hết một dặm đều sẽ có riêng cho mình các bác sĩ, huấn luyện viên, chuyên gia dinh dưỡng, và thợ đấm bóp. Đây đã trở thành một công việc toàn thời gian, chứ không phải một thứ gì đó để cố gắng thêm ngoài những thứ khác trong cuộc sống. Chúng ta ngưỡng mộ Bannister một phần vì kỷ lục bốn phút một dặm của anh ấy là một màn trình diễn xuất sắc so với những người sau này.

Bởi vì nghệ thuật và thể thao đều là những màn trình diễn, nên cả hai đều có khả năng bị gian lận. Gian lận nghĩa là cố tình gây hiểu nhầm về bản chất của một màn trình diễn. Ví dụ điển hình về gian lận trong nghệ thuật là đạo nhái, nhưng cũng có nhiều cách gian lận khác. Chúng ta bị lóa mặt bởi vận tốc của những cú nhảy kép trong màn trình diễn được thu video  - "Mephisto Waltz" của Liszt – cho đến khi chúng ta phát hiện ra rằng điều này hóa ra được tạo ra bởi một kỹ thuật viên ghi hình. Đám đông hò hét ở một buổi biểu diễn âm nhạc trực tiếp, và la ó khi họ phát hiện ra người ca sĩ hát nhép (điều đã xảy ra với Milli Vanilli năm 1989). Gian lận là một vấn đề nghiêm trọng trong thể thao. Người hâm mộ thể thao không còn ấn tượng với kỳ tích hoàn thành cuộc đua marathon ở thành phố New York của Rosie Ruiz trong 2 giờ 32 phút vào năm 1980 nữa, khi phát hiện ra cô ấy đã đi bằng tàu điện ngầm. Người ta không còn xem màn trình diễn của một vận động viên ném bóng nữa khi phát hiện ra anh ta dùng bóng đạn giấy; và chiến thắng của một vận động viên boxing sẽ bị tước đi nếu người ta phát hiện thạch cao trong găng tay của anh ta.

Thêm vào đó, sự phẫn nộ về đạo đức còn cao hơn với các màn trình diễn dùng biện pháp nhân tạo để nâng cao kỹ năng, ví dụ như dùng steroid và các thuốc khác. Như tác giả Malcolm Gladwell đã nói, steroid được xem như vi phạm “nỗ lực trung thực”. Một vận động viên dùng steroid sẽ không còn được xem như là đã tự mình thể hiện màn trình diễn đó. Nhưng điều gì đã khiến cho steroid khó chấp nhận hơn các biện pháp can thiệp khác như vitamin hay máy nâng tạ hay các bộ đồ bơi đắt tiền? Sinh viên đã tốt nghiệp Izzat Jarudi của tôi đã phỏng vấn nhiều người Mỹ từ New Haven đến New York về tính đạo đức của steroid, và phát hiện ra rằng họ vô cùng phản đối chúng. Điều thú vị là ngay cả họ cũng không biết vì sao. Một vài người đề cập đến các mối lo ngại về hậu quả tiêu cực đối với sức khỏe, nhưng khi hỏi họ về những loại steroid hoàn toàn không gây hậu quả, thì họ vẫn nhấn mạnh rằng chúng bất hợp phát và vận động viên dùng steroid thì là gian lận.

Có lẽ chúng ta không thể lý giải loại trực giác này. Loại trực giác này nổi tiếng là dễ thay đổi. Khi thụ tinh trong ống nghiệm lần đầu tiên được giới thiệu – nó đã gây sốc; nhưng hiện nay thì chỉ có những kẻ gàn dở mới phản đối nó. Những thứ làm chúng ta sốc hiện tại nhiều khi sẽ trở nên hoàn toàn bình thường trong tương lai, và sự phẫn nộ đạo đức liên quan đến steroid này phần lớn đến từ sự bảo thủ bản năng – chúng ta thường sợ những thứ mới mẻ.

Tương tự, như Gladwell đã chỉ ra, có điều gì đó khá ngoan cố về mối lo rằng sự nâng cấp như vậy sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh không công bằng. Nhưng còn điều gì không công bằng hơn việc được sinh ra với gien mạnh mẽ hơn người khác? Chúng ta trực giác cho rằng hai điều này là khác nhau. Nhưng có lẽ là vì chúng ta có xu hướng đánh giá cao những thiên tài tự nhiên, vì những khả năng này sẽ được truyền cho con cái. Chúng ta ngưỡng mộ tự nhiên và khinh thường sự nâng cấp. Chúng ta đã thấy trước điều này ở lĩnh vực sắc đẹp; người ta thích vẻ đẹp tự nhiên hơn phẫu thuật thẩm mỹ và cấy tóc. Sở thích này hợp lý theo thuyết Darwin và rất khó để vượt qua. Nhưng điều này không khiến mọi thứ công bằng.

MÀN TRÌNH DIỄN XẤU XÍ

Nghệ thuật và thể thao là hai loại hình biểu diễn được xem trọng nhất. Có nhiều cấu trúc xã hội ủng hộ chúng: các trường nghệ thuật và các trại thể thao, Rolling StoneSports Illustrated, Louvre Sân vận động Yankee, các mục riêng trong báo chí mỗi ngày. Nhưng khoái cảm đến từ màn trình diễn – khoái cảm khi nhìn thấy chúng và khoái cảm khi thực hiện chúng – thì mang tính tổng quát hơn, và nguyên thủy hơn.

Các nhà tâm lý học phát triển từ lâu đã rất ngạc nhiên trước việc trẻ con tự động chỉ tay, vẫy tay, hay gầm gừ để thu hút sự chú ý đến những thứ thú vị xung quanh chúng. Việc này có thể được xem là kỹ năng đơn giản nhất cho đến khi bạn nhận ra rằng chẳng có loài vật nào khác có thể thực hiện điều này. Bằng cách nào đó, ham muốn chia sẻ suy nghĩ của mình đóng vai trò lớn trong việc khiến chúng ta thành con người, bao gồm ngôn ngữ và văn hóa phức tạp.

Một thứ khác cũng quan trọng không kém – ham muốn khoe khoang kỹ năng nào đó. Trẻ mới biết đi biết lộn nhào, xếp chồng các khối gỗ lên nhau mà không bị đổ và đứng bằng một chân. Những điều này đều là phô diễn kỹ năng. Đôi khi chúng làm điều này công khai để được cha mẹ khen ngợi, nhưng chúng cũng tự làm một mình nữa; chúng vui vẻ khi trình diễn một mình.

Một số màn trình diễn đã phát triển thành sở thích thi thố. Mỗi xã hội loài người đều có các trận đấu vật hay cuộc chạy đua. Bất kỳ thứ gì cũng có thể thi thố được. Một đứa trẻ ợ hơi, rồi một đứa khác ợ hơi, sau đó thì cuộc thi ợ hơi liền bắt đầu. Một đứa trẻ bảy tuổi kể một câu chuyện, một đứa khác cố thêm vào (sự ra đời của tiểu thuyết). Trẻ vị thành niên ngồi thành vòng tròn, thay phiên kể chuyện cười, chọc cười người khác (sự ra đời của hài kịch độc thoại). Việc thi thố có thể là với chính bạn trong quá khứ, như những vận động viên chạy bộ cố gắng phá kỷ lục lần trước của mình. (Bạn hàng xóm của tôi, nhà kinh tế học Ray C. Fair, là một người chạy marathon, và anh ấy so sánh thời gian chạy của mình với các tính toán để xem chúng giảm đi theo độ tuổi như thế nào). Các ô chữ và Sudoku là những ví dụ khác, chúng ta cố gắng hoàn thành chúng mà không cần người nào xung quanh để xem.

Chúng ta là một loài sáng tạo và ngoan cố, và không có giới hạn cho các màn trình diễn mà chúng ta có thể phát minh ra. Lúc tôi tám tuổi, tôi biết mình sẽ không bao giờ trở thành chàng trai nhanh nhất thế giới, nhưng tôi là một ác quỷ trên cây cà kheo và đã cố gắng hàng tháng trời, nhưng không thành công, để đạt được kỷ lục thế giới là bật lên nhiều lần liên tiếp nhất. Tôi biết tôi phải đánh bại thứ gì vì tôi có cuốn Kỷ Lục Guinness Thế Giới, thứ mà – như Dutton đã nói, là một mô tả hoàn hảo cho tất cả những cách thức mà con người có thể cố gắng để trở nên xuất sắc. 

Không phải tất cả các màn trình diễn đều như nhau, một phần bởi vì không phải tất cả chúng đều phô diễn sự phù hợp ở mức độ giống nhau. Làm một chuyên gia Sudoku tạo ra khoái cảm, nhưng nó thiếu đi sự phong phú về trí tuệ như môn cờ vua. Ai đó có thể thích thú trước người chiến thắng cuộc thi Người Ăn Nhiều Phô Mai Nướng nhất (103 cân bởi Sonya “Quả Phụ Đen” Thomas), nhưng cảm giác không giống với việc xem Rudolf Nereyev hay Micheal Jordan. Đánh vần cũng khá ổn, nhưng khi chọn sinh viên, tôi sẽ không bị ấn tượng bởi việc người đó vô địch giải đánh vần quốc gia. Ai đó sẽ đánh giá cao nhà vô địch thế giới môn trò chơi điện tử Donkey Kong vì nó đòi hỏi tính kỷ luật và sự phối hợp cao độ, nhưng bất kỳ khoái cảm nào đến từ việc xem những màn trình diễn này đều bị vấy bẩn bởi cảm giác lo lắng rằng người đó đang lãng phí cuộc đời mình.

Một số sự phô diễn có tính nghịch lý. Từ lâu đã có nhiều tác phẩm mô tả sự xấu xí, như các bức tranh của Hieronymus Bosch. Bồn tiểu của Duchamp, hay phân của Manzoni, cái đầu bò thối rữa của Hirst, và vô số tác phẩm đương đại sử dụng dịch thể người và các phần của động vật. Có câu chuyện (có thể là ngụy tạo) về một tác phẩm điêu khắc của Ed Kienholz đã phải bị dỡ bỏ khỏi Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại Louisiana vì mọi người nôn mửa khi nhìn thấy nó. Một động lực để tạo ra nghệ thuật xấu xí là để chống đối ý tưởng rằng nghệ thuật phải xinh đẹp. Và cảm nhận vẻ đẹp thì quá dễ đoán, dễ dãi, dễ đánh giá và trưởng giả. Nghệ thuật đậm nét và sáng tạo thì phải đi ngược điều này. Nhiều nghệ sĩ sẽ không vui khi bạn mô tả tác phẩm của họ là “nâng cao tinh thần người xem”. Cũng có nhiều người bị hấp dẫn bởi một màn trình diễn kỳ dị - với sự đam mê lệch lạc trong những thứ méo mó, điều này có lẽ xuất phát từ phần bản năng muốn chuộc lỗi của con người, một động lực hướng tới bạo dâm và chế nhạo.

Nhưng đôi khi sự xấu xí cũng tích cực. Ở vùng nông thôn Anh, có những cuộc thi nhăn mặt, người ta thi nhau bóp méo mặt mình thành các dạng buồn cười. Luật lệ vô cùng rõ ràng. Các đấu thủ đưa đầu qua cổ ngựa và có một khoảng thời gian ấn định để khuôn mặt của họ biến dạng thành biểu cảm đáng sợ nhất hoặc ngớ ngẩn nhất có thể. Người ta có thể đặt răng giả vào trong, đưa ra ngoài hoặc lộn ngược nếu muốn.

Điều này khá thú vị. Con người đã tốn nhiều năng lượng cho các dạng khác nhau của nghệ thuật, âm nhạc, thể thao và trò chơi, và, nhưng tôi đã nói ở đây, những dạng này là sự phô diễn những khả năng liên quan đến việc sinh sản, phô diễn những đặc tính tốt nhất của loài người: sự thông minh, tính sáng tạo, sức mạnh, sự lanh trí, v.v. Chúng ta là những người theo thuyết bản chất, bị thu hút một cách tự nhiên về lịch sử của các màn trình diễn, và vì thế chúng ta có được khoái cảm từ việc phô diễn những tài năng thiên bẩm. Nhưng chúng ta cũng đủ thông mình để lật ngược tình thế và đôi khi có được khoái cảm từ việc phô diễn chính xác những thứ mà chúng ta không muốn, theo góc nhìn của Darwin. Sự quân bình này khiến chúng ta thoải mái hơn. Nhăn mặt chưa phải là một môn thể thao Olympic, nhưng tôi hy vọng ngày nào đó nó sẽ là. 

>>> Chương 6 (1)

0 nhận xét:

Đăng nhận xét