ĐÔI
MẮT DỄ DÀI
Cũng như với âm nhạc, một số khoái cảm thị giác khá
nông cạn. Khi nói đến nghệ thuật thị giác, một số màu sắc và hoa văn chỉ bắt mắt
theo một cách nhất định. Việc sơn phết phòng của con cái màu sáng sủa và những
hoa văn cân đối của các phụ huynh hoàn toàn không phải là một việc lãng phí thời
gian. Các em bé thích những thứ này, và chuyện này không liên quan gì đến chủ
nghĩa bản chất.
Những sở thích như vậy được nghiên cứu như một phần của
lĩnh vực được gọi là thẩm mỹ thực nghiệm. Các nhà tâm lý học tạo ra nhiều hình
khối khác nhau, như hình đa giác, và bóp méo chúng trên các tham số như tính đối
xứng hay sự điển hình, và hỏi đối tượng xem họ thích cái gì. Những nghiên cứu
này đã củng cố thêm cho lý thuyết sơ đồ U ngược mà chúng ta đã bàn phía trên,
cũng như việc giải thích cho đôi mắt dễ dãi khi ngắm nhìn các gương mặt xinh đẹp
mà chúng ta đã bàn trong chương về tình dục – người ta thích những bức ảnh dễ
ngấm.
Tuy nhiên, cuối cùng thì nghiên cứu này đã tạo ra một
nền tảng yếu ớt cho việc nghiên cứu về khoái cảm thị giác. Khó mà nghiên cứu được
khoái cảm thị giác bằng cách cho người ta xem những mẫu hình mà người ta không
muốn xem. Nói điều này không phải là để chê bai nghiên cứu này, có lẽ với những
mục đích khác như nghiên cứu tại sao người ta thích hình này hơn hình kia, thì
nó khá thú vị. Nhưng chúng ta không chi tiền hay bỏ thời gian để nhìn vào những
hình đa giác trắng đen trên màn hình máy tính. Chúng không mang lại cho chúng
ta khoái cảm.
Vậy thì nhìn cái gì khiến chúng ta cảm nhận được khoái
cảm? Có thể nhận thấy ngay tức thì là người ta thích nhìn những bức ảnh nhà cửa
yên bình, hoa và thức ăn, những địa điểm hấp dẫn, và trên hết, con người – bao
gồm những người mà chúng ta yêu thích và ngưỡng mộ. Nếu bạn ở nhà hay văn
phòng, tôi cá là khi bạn nhìn vào các bức hình xung quanh bạn, bạn sẽ tìm thấy chính xác những đại diện cho điều
tôi đã kể trên. Màn hình chờ của bạn có thể là một khu rừng hay bãi biển, có
nhiều hình của những người thân yêu của bạn trên bàn làm việc, v.v. Có rất nhiều
tác phẩm nghệ thuật không phù hợp với khuôn mẫu này, và tôi sẽ chuyển sang
Pollocks và những thứ tương tự sau, nhưng điều đáng chú ý là có nhiều bức ảnh
xung quanh chúng ta đại diện cho những thứ mà chúng ta thích ngắm nhìn trong thực
tế.
Một ví dụ đơn giản khác là phim khiêu dâm. Nhiều người
thích ngắm nhìn những người hấp dẫn khỏa thân, với các lý do tầm thường liên
quan đến thuyết tiến hóa Darwin. Nhưng bạn không có nhiều người hấp dẫn khỏa
thân xung quanh bạn khi bạn cần họ. Vì thế chúng ta đã tạo ra các đại diện hai
chiều mô phỏng trải nghiệm này, và từ đó tạo ra các phản ứng ham muốn giống như
phản ứng ham muốn đến từ những người thật. Bạn không phản ứng với hình ảnh đại
diện đó như thể nó là một tác phẩm, bạn phản ứng với nó như thể nó là người thật
việc thật (đàn ông, đàn bà khỏa thân, hay cặp đôi, hay cặp ba…)
Khoái cảm đến ảnh khỏa thân không chỉ giới hạn ở con
người. Trong một nghiên cứu gần đây, những con khỉ vàng đực đã được thí nghiệm,
chúng có thể chọn bằng cách di chuyển đầu, để nhận một ít nước trái cây ngọt
ngào hoặc để xem một bức tranh. Có hai loại hình ảnh khiến những con khỉ từ bỏ
nước trái cây - chân sau của con khỉ cái và khuôn mặt của những con khỉ đực có
địa vị cao. Đấy cũng là hai tệ nạn chính của con người — khiêu dâm và tôn sùng
người nổi tiếng.
NGƯỜI TA thường hay nghĩ rằng cần phải thông qua quá
trình học hỏi để tạo nên sở thích ngắm nhìn một bức ảnh chụp thực tế, và các nhà
nhân chủng học đã phát hiện ra rằng, những người trong các bộ lạc nguyên thủy
không thể hiểu được những bức tranh vì họ chưa từng nhìn thấy bất kỳ bức tranh
nào trước đây.
Điều này đã được chứng minh là sai bằng một thí nghiệm
khéo léo được báo cáo vào năm 1962. Nhà tâm lý học Julian Hochberg và Birginia
Brooks nuôi nấng một đứa trẻ mà không cho nó xem bất kỳ một bức ảnh nào cho đến
khi nó được 19 tháng tuổi. (Họ không nói ra, nhưng đứa trẻ là con của họ.) Sau
đó họ cho thằng bé xem hình chụp và những bức tranh mô tả những đồ vật quen thuộc
và yêu cầu nó gọi tên những đồ vật này. Thằng bé có thể làm điều đó một cách dễ
dàng. Nhiều nghiên cứu gần đây phát hiện ra rằng ngay cả các em bé cũng có thể
hiểu ngầm về sự liên quan giữa bức ảnh tả thực và đồ vật mà nó mô tả. Nếu bạn
cho một đứa trẻ năm tháng tuổi chơi với một con búp bê, sau đó đem con búp bê
đi và đưa đứa trẻ hai bức ảnh, một của con búp bê đó và một của một con búp bê
khác, đứa bé sẽ nhìn lâu hơn vào bức ảnh của con búp bê lạ, cho thấy vài dấu hiệu
trực giác về sự liên quan giữa con búp bê quen thuộc và bức ảnh của nó.
Trẻ em có thể bị thu hút bởi những bức tranh đến mức
chúng coi những thứ trong bức tranh là những thứ thực tế. Các phụ huynh đã quan
sát thấy nhiều hành vi kỳ lạ như con của họ cố thử bước chân vào bức ảnh của một
chiếc giầy hay cào bức ảnh để cố gắng lấy được đồ trong bức ảnh đó, và những
nghiên cứu thực nghiệm tinh tế cũng phát hiện ra hành vi này không chỉ ở Mỹ,
nơi mà trẻ em có rất nhiều trải nghiệm với hình ảnh, mà còn trong số các gia
đình nghèo và mù chữ ở Bờ Biển Ngà, nơi hiếm có tranh ảnh. Trẻ em có thể phân
biệt các hình ảnh và những thứ thật (chúng ít khi chạm vào các bức ảnh hơn),
nhưng sức hấp dẫn của sự giống nhau đôi khi rất khó cưỡng lại.
Điều này cũng đúng với người lớn. Đôi khi chúng ta cảm
thấy khó mà không nghĩ về một hình ảnh như nghĩ về người thật vật thật mà nó đại
diện. Nhà tâm lý học Paul Rozin và đồng nghiệp đã thực hiện một loạt các nghiên
cứu trong đó họ yêu cầu người ta ngậm bãi nôn làm bằng cao su trong miệng hoặc
ăn bánh rán được nướng thành hình phân chó. Đa số chúng ta cảm thấy điều này thật
khó chịu – nó là bãi nôn, nó là phân chó. Tôi và đồng nghiệp gần đây có làm một
loạt các nghiên cứu trong đó chúng tôi chụp hình những thứ quý giá nhất của người
ta – ví dụ như nhẫn cưới của họ, và yêu cầu họ cắt nát bức ảnh. Họ đồng ý làm
điều đó, nhưng các phép đo độ dẫn đã cho thấy họ đang ở trong trạng thái lo lắng
nhẹ, như thể họ đang hủy hoại chính thứ quý giá đó. Và nếu bạn kêu người ta ném
phi tiêu vào ảnh của trẻ con, thì họ thường ném trượt.
SỰ PHÔ BÀY VÀ TÍNH PHÙ HỢP
Dưới đây là một vài lý do để một người đánh giá cao một
bức ảnh:
1. Trông
nó hấp dẫn ở mức độ thấp; các hoa văn làm đôi mắt dễ chịu.
2. Nó
mô tả một thứ hấp dẫn, như các bông hoa nhiều màu sắc hoặc một gương mặt đẹp.
3. Trông
nó quen thuộc. Đây là hiệu ứng tiếp xúc thường xuyên: ở một mức độ nào đó, sự
quen thuộc tạo ra niềm vui.
Liệu sự hiệu ứng tiếp xúc thường
xuyên có áp dụng với tranh vẽ hay không? Nhà tâm lý học James Cutting đã hỏi lý
do tại sao các họa sĩ trường phái ấn tượng của Pháp được ưa thích hơn. Trong một
nghiên cứu, ông ta phát hiện ra rằng người lớn, chứ không phải trẻ nhỏ, đặc biệt
thích những bức tranh đã được triển lãm thường xuyên trong thế kỷ trước hơn là
những bức tranh ít người biết đến hơn.
Tất nhiên, điều này có thể không phải
là hiệu ứng sự quen thuộc. Có thể có một lý giải khác: có lẽ các bức tranh thường
được triển lãm thì đẹp hơn những bức
khác, và người lớn phản ứng dựa trên tính chất siêu việt này, chứ không phải sự
quen thuộc. Cutting đã kiểm tra điều này trong nghiên cứu thứ hai trong đó ông
giới thiệu các bức tranh trường phái ấn tượng hiếm thấy hơn cho sinh viên trong
lớp ông trong nhận thức thị giác, trưng bày mỗi bức vài giây, không bình luận
gì, như thể đó chỉ là một phần trong trình chiếu PowerPoint về các chủ đều
khác. Sau đó, vào cuối kỳ, ông kiểm tra các sinh viên của mình, hỏi xem họ
thích bức tranh nào nhất. Hóa ra sự tiếp xúc ngắn ngủi này đã làm đảo lộn mô
hình ưa thích thông thường. Giờ đây, các sinh viên thích những bức tranh ít người
biết đến này hơn những bức nổi tiếng, chỉ vì những sự tiếp xúc ngắn ngủi đó. Vì
vậy, bằng cách đơn giản là nhìn thấy một bức tranh, bạn sẽ thích nó hơn.
4. Có
thể bức ảnh liên quan đến một ký ức tích cực. Điều này quan trọng hơn khi nói về
ảnh chụp, nơi ghi lại những trải nghiệm như đám cưới, lễ tốt nghiệp, và khi chạm
đến đỉnh Everest.
5. Bức
tranh phù hợp và làm căn phòng đẹp hơn. (Dù sao thì, hình dạng của một bức
tranh rõ ràng ảnh hưởng đến giá cả của chính nó.)
6. Nó
nâng cao địa vị của bạn, làm người ta ấn tượng về việc bạn sở hữu nó. Một bức vẽ
chúa Jesu trên thánh giá hay lễ Sabbath giúp quảng cáo cho đức tin của bạn. Một
bức tranh hiện đại cho thấy bạn có hiểu biết và quan tâm đến nghệ thuật. Một bức
vẽ khiêu khích có thể là dấu hiệu về sự tinh tế tôn giáo hay tình dục của bạn.
Và một bức tranh gốc của một họa sĩ nổi tiếng là một cách dễ dàng và quý phái để
nói cho mọi người biết bạn giàu có và thành công như thế nào. Rõ ràng là có rất
nhiều khoái cảm ở đây.
7. Giá
trị của nó có thể đến tự sự lây lan tích cực. Như đã đề cập ở chương trước, việc
một thứ được chạm vào và được yêu thích bởi người nổi tiếng có thể làm tăng giá
trị của nó.
Tuy nhiên danh sách này đã bỏ qua một yếu tố quan trọng.
Chúng ta cũng thích thú việc một bức tranh được tạo ra như thế nào, và chúng ta
nhận được khoái cảm từ những gì chúng ta suy luận là bản chất của quá trình
sáng tạo đó.
Đây là lập luận của triết gia Denis Dutton trong cuốn
sách quan trọng của ông, Nghệ Thuật Bản
Năng. Theo Dutton, phần hấp dẫn nhất của một tác phẩm nghệ thuật là nó phục
vụ cho “bài kiểm tra tính phù hợp chủ nghĩa Darwin”. Ông xây dựng phát biểu này
trong bối cảnh của thuyết chọn lọc tình dục về nguồn gốc của nghệ thuật – bắt
nguồn từ Darwin và sau đó được mở rộng ra bởi nhà tâm lý học Geoffrey Miller,
chúng ta đã bàn luận về công trình của ông trước đây ở chương tình dục. Theo
thuyết này, nghệ thuật giống như cái đuôi công đực. Nó đã tiến hóa như một dấu
hiệu của sự phù hợp theo chủ nghĩa Darwin, để thu hút bạn tình.
Theo Miller, tương đồng nhất với nghệ thuật của loài
người là chim xanh, một loài chim được tìm thấy ở New Guinea và Úc. Các con đực
là các nghệ sĩ. Chúng bay xung quanh và tìm những thứ màu sắc như các quả mọng,
vỏ sò, và hoa, và mang chúng về để sắp xếp thành các hoa văn cân đối và phức tạp
– các túp lều. Những con cái là các nhà phê bình sáng suốt và nghiêm khắc.
Chúng xem xét các túp lều, tìm kiếm cái sáng tạo nhất, và kết đôi với con đực tạo
ra nó. Một con đực thành công sẽ có thể kết đôi với 10 con cái; con nào không
thành công thì sẽ độc thân. Sau khi kết đôi, con cái sẽ bay đi để đẻ trứng và
con đực chẳng bao giờ nhìn thấy nó nữa. Cuộc đời của một con chim xanh đực
thành công khá giống với Pable Picasso.
Điều này chứng minh rằng chọn lọc tình dục làm nên sự
sáng tạo của chim xanh – việc con cái rất nhạy cảm với các túp lều như một dấu
hiệu của sự phù hợp, ví dụ như độ thông minh, kỹ năng, kỷ luật, v.v, những đặc
điểm có ích cho con non. Miller và Dutton cho rằng sự phát triển nghệ thuật của
loài người cũng giống như thế. Những bức tranh đẹp thì khó vẽ. Một nghệ sĩ giỏi
là một người biết cách học hỏi và lên kế hoạch giỏi, cho thấy sự thông minh và
tính sáng tạo, và đủ thành công trong việc vượt qua những trở ngại trước mắt của
cuộc sống (thức ăn, nơi ở, v.v.) để tìm thời gian và nguồn lực cho những sáng tạo
không vị lợi này. Con cái thích những điều này: chim xanh mái bị thu hút khi
nhìn thấy những tính chất này trong chim xanh đực và phụ nữ thì bị hấp dẫn bởi
những tính chất này ở đàn ông. Phương châm ở đây đến từ Renoir: Tôi vẽ bằng
dương vật của mình.
Darwin có cái nhìn tương tự khi ông đề cập đến âm nhạc,
cho rằng sự phát triển của nó là để “hấp dẫn giới tính kia”. Không khó để hiểu
về cách mà những bài hát và điệu nhảy gây ấn tượng người khác như thế nào – xây
dựng và duy trì tính nhịp nhàng trong một quãng thời gian dài là một cách hiệu
quả để phô bày bày sự thông minh, sáng tạo, năng lượng, khả năng di chuyển, và
tất cả những điều này là đặc điểm tích cực có thể tìm thấy ở bạn tình. Và người
ta cũng không cần một nghiên cứu hoa mỹ để biết rằng, trong thời hiện đại, những
người nghệ sĩ thành công từ Mick Jagger đến, à, Joshua Bell, ít gặp khó khăn
trong việc tìm bạn. Kỹ năng âm nhạc vô cùng hấp dẫn, và thuyết chọn lọc tình dục
là một ứng viên hợp lý để giải thích nguồn gốc của nó.
Những dù tôi đồng ý với Dutton và Miller rằng nghệ thật
có thể là một sự trưng bày tính phù hợp, và rằng cả ham muốn sáng tạo và khoái
cảm mà chúng ta nhận được từ những sáng tạo như vậy có thể đã được hình thành ở
một mức độ nào đó bởi sự lựa chọn giới tính, vẫn còn ở đó những vấn đề với lý
thuyết này, như là lời giải thích cho lý do tại sao chúng ta thích nghệ thuật.
Sự thật rõ ràng về cái đuôi công đực là chỉ có công đực
mới có bộ đuôi, công cái thì không. Chim xanh đực mới tạo ra các túp lều còn
con cái thì đánh giá chúng. Đây mới là cách mà chọn lọc tình dục vận hành. Vì
con cái thường chịu phần chi phí tình dục nhiều hơn con đực (trong hầu hết các
loài, con cái phải nuôi con, trong khi con đực chẳng đóng góp gì ngoài tinh
trùng trong thời gian ngắn), chọn lọc đi theo đường một chiều – rằng con đực
thì cạnh tranh để thu hút con cái, con cái thì đánh giá các con đực.
Mô hình này không đúng với loài người. Miller tranh luận
rằng đàn ông thì thích tạo ra nghệ thuật hơn phụ nữ và phụ nữ thì thích đánh
giá nghệ thuật hơn đàn ông. Điều này đúng ở một mức độ nào đó, tuy nhiên, trong
xã hội mà mọi người đều có cơ hội sáng tạo nghệ thuật, thì số lượng nhà thơ nữ,
nhà văn, họa sĩ, ca sĩ nữ không hề ít ỏi.
Một câu trả lời công bằng cho điều này là con người
không phải là chim công; chúng ta là một loài tương đối chung thủy, và đối với
chúng ta, chọn lọc tình dục có thể đi theo cả hai chiều, mọi người đều có thể
thể hiện các đặc điểm phù hợp và đánh giá các đặc điểm phù hợp của bạn tình tiềm
năng. Tuy nhiên, vấn đề còn sót lại là sự đánh giá cao nghệ thuật chẳng liên
quan gì tới ham muốn tình dục. Một người đàn ông ngưỡng mộ Picasso không cần phải
là người đồng tính. Trẻ em, đối tượng chưa có bất kỳ liên quan gì đến việc thu
hút bạn tình, lại là những nghệ thuật nhiệt tình nhất, còn người già, bao gồm
phụ nữ đã qua giai đoạn sinh sản, có được niềm vui từ việc sáng tạo và ngưỡng mộ
nghệ thuật.
Cũng có một vấn đề tổng quát hơn. Chọn lọc tự nhiên có
thể giải thích tại sao Picasso dễ dàng tìm bạn tình – những tác phẩm của ông là
minh chứng cho các đặc tính chủ nghĩa Darwin. Nhưng điều này giải thích cho sự
hấp dẫn của người nghệ sĩ, chứ không giải thích cho khoái cảm người ta có được
từ tác phẩm. Tại sao người ta lại thích tác phẩm của Picasso nhiều như vậy, mặc
dù ông ấy đã mất từ rất lâu rồi?
Giờ hãy xem xét đế một thuyết bổ sung, với hai phần.
Đầu tiên, việc phô bày sự khéo léo, kỷ luật, sức mạnh,
tốc độ, v.v thu hút sự quan tâm của chúng ta vì nó cho thấy các đặc tính liên
quan của từng cá nhân.
Đây không phải là phát biểu của Miller và Dutton sao?
Đúng, phần nào đó. Đàn ông thường phô bày với mong muốn rằng phụ nữ sẽ kết bạn
với anh ta, và đúng là các phụ nữ có
đánh giá sự phô bày của đàn ông để tìm kiếm nguồn DNA cao cấp nhất. Nhưng không
hoàn toàn là về tình dục. Chúng ta cũng đánh giá các cá nhân dựa trên các tính
cách của họ khi họ là bạn bè, đồng nghiệp,
hay lãnh đạo. Thật ra, mặc dù điều này nghe hơi có vẻ máu lạnh, chúng ta thường
phải đánh giá tính cách của con cái để xem đứa nào có nhiều khả năng để sống
sót và tái sinh sản trong tương lai nhiều hơn. Trong tiểu thuyết Sự lựa chọn của Sophie, nhân vật của
William Styron bị bắt buộc chọn giữa con gái nhỏ Eva và đứa con trai tóc vàng mắt
xanh Jan để chọn ra một đứa sẽ bị ngạt khí ở Auschwitz, và bà đã chọn hy sinh
Eva, một quyết định tàn nhẫn như hợp lý vì Jan có nhiều khả năng để sống sót
trong trại hơn. Trong thế giới còn nhiều khó khăn, phiên bản nhẹ nhàng hơn của
câu chuyện này vẫn tồn tại: cha mẹ thường phải phân bổ nguồn lực cho con cái và
sự phân bổ này thường không đồng đều. Vì vậy, để có được lợi ích tốt nhất, trẻ
em phải gây ấn tượng với bố mẹ bằng những phẩm chất tốt đẹp của chúng.
Đây là một minh chứng cho việc tạo sao có thể dùng
đánh giá mức độ phù hợp để giải thích cho lý do phát triển của nghệ thuật, và tại
sao chúng ta buộc phải tạo ra nghệ thuật và thưởng thức nó. Đây không phải
tuyên bố về động lực tâm lý – dù là ý thức hay vô thức. Khi một đứa trẻ tự hào
đưa cho bố mình xem bức tranh mình vẽ, cô bé không tự nói với mình – vô thức
hay có ý thức – rằng “Cái này sẽ gây ấn tượng với bố, và bố sẽ cho mình nhiều đồ
ăn hơn em trai.” Khi bạn thích một bức tranh, bạn không thường nghĩ rằng, “Kỹ
thuật và kỹ năng điêu luyện của tác phẩm đó cho thấy một nghệ sĩ có phẩm chất
xuất sắc; Tôi sẽ cố gắng giao phối hoặc kết bạn với anh ấy.” Chức năng tiến hóa
không liên quan gì tới động lực tâm lý. William James chỉ ra điều này từ rất
lâu trước đây thông qua ví dụ về thức ăn, khi ông lưu ý rằng không ai trong
hàng tỷ người nghĩ về những lợi ích khi ăn uống: “Anh ta ăn vì thức ăn ngon miệng
và làm anh ta muốn ăn nhiều hơn. Nếu bạn hỏi người ta tại sao anh muốn ăn nhiều
hơn những thứ như thế, thay vì tôn kính bạn như một triết gia thì người ta thông
thường sẽ cười và cho là bạn là đồ ngớ ngẩn.”
Phần thứ hai của thuyết này là chúng ta tiến hóa để đạt
được khoái cảm từ sự phô bày mức độ điêu luyện. Điều này đã thúc đẩy chúng ta
tìm kiếm những sự phô bày này, nó thúc đẩy chúng ta tự mình phô bày, và nó cung
cấp một cơ chế tâm lý làm nền tảng cho việc chúng ta bị thu hút bởi các nghệ sĩ
– họ có khả năng tạo ra những thứ mang cho chúng ta rất nhiều khoái cảm, và
chúng ta thường thích những người mang lại cho chúng ta khoái cảm.
Nếu sự phô bày ở đây là thông qua các bức tranh và những
tác phẩm nghệ thuật tĩnh khác, thì một phần nào đó, chúng được đánh giá dựa
trên việc chúng ta cho rằng chúng được tạo ra như thế nào. Bản chất lịch sử (historical nature) của
tác phẩm nghệ thuật đã được nhiều học giả nhấn mạnh, và đã được Dutton lập luận
gay gắt nhất hơn 25 năm trước:
Như
một màn trình diễn, tác phẩm nghệ thuật đại diện cho cách mà những người nghệ
sĩ giải quyết vấn đề, vượt qua khó khăn, và tạo ra bằng những nguyên liệu sẵn
có. Tác phẩm cuối cùng được tạo ra để chúng ta chiêm ngưỡng, là một thứ mang ý
nghĩa từ chính nó, có thể tách biệt khỏi
các tác phẩm khác hoặc tách khỏi hoạt động của người nghệ sĩ. Nhưng sự tách biệt
này – vốn thường được xem như cách mà chúng ta chú ý đến tác phẩm – không nên
làm chúng ta lu mờ trước sự thật mà chúng ta coi như là đương nhiên: rằng tác
phẩm này có nguồn gốc từ con người, và phải hiểu như thế.
Vì thế, ý tưởng ở đây là một số sự phô bày nhất định –
bao gồm các tác phẩm nghệ thuật – cung cấp cho chúng ta các thông tin có giá trị
cao và tính tích cực về một người khác. Chúng ta đã tiến hóa để đạt được khoái
cảm từ những sự phô bày này. Đây là một ví dụ khác của chủ nghĩa bản chất, một
trường hợp khác trong đó các đối tượng được cho là được tạo nên bởi những bản
chất vô hình bên trong chúng. Đối với một thứ ví như một khối thịt, bản chất là
vật chất; đối với một tạo tác của con người ví như một bức tranh, bản chất của
nó nằm ở việc người ta suy đoán về màn trình diễn đã tạo ra nó.
Người ta có thực sự nghĩ rằng các tác phẩm nghệ thuật
có một bản chất vô hình cắm rễ sâu trong câu chuyện của chính nó? Tôi cho là
ngay cả trẻ con cũng nghĩ thế. Lần đầu tiên tôi cảm thấy hứng thú với tâm lý về
nghệ thuật là hơn một thế kỷ trước, khi đứa con trai hai tuổi của tôi vẽ tranh
trên tấm các tông, và tự hào khoe với tôi rằng đó là “một cái máy bay”. Đối với
một nhà tâm lý học phát triển như tôi thì chuyện này khá ngạc nhiên vì trong
ngành của tôi, chúng tôi đồng thuận rằng một đứa trẻ thường đặt tên dựa trên
hình dáng: đối với một đứa trẻ, từ “máy bay” nên liên quan tới cái gì đó giống
với cái máy bay. Nhưng hình vẽ của Max thì chẳng giống cái máy bay chút nào; nó
là một bãi màu sắc rực rỡ. Và hành vi này của thằng bé cũng không khác lạ. Kiểm
tra nhanh tài liệu cho thấy rằng việc trẻ em tạo ra các bức tranh và đặt tên
cho chúng là hoàn toàn bình thường - một con chó con, một bữa tiệc sinh nhật, Mẹ
- mặc dù các bức tranh của chúng không giống những thứ này.
Cùng với sinh viên đã tốt nghiệp Lori Markson (hiện tại
đang ở Đại học Washington ở St.Louis), tôi khám phá ra ý tưởng rằng những cái
tên này không dựa trên việc bức tranh trông giống cái gì; chúng thường được đặt
dựa trên câu chuyện của bức tranh đó. Nó là một cái máy bay vì Max muốn nó là một
cái máy bay. Một loạt cái nghiên cứu đã củng cố ý tưởng này, phát hiện ra rằng
ngay cả những đứa trẻ 3 tuổi cũng sẽ đặt tên cho các bức tranh dựa trên việc
chúng định vẽ cái gì. Chúng tôi cũng thấy rằng đối với những bức tranh mà người
khác vẽ cũng vậy. Nếu một đứa trẻ ba tuổi nhìn ai đó nhìn chằm chằm vào một cái
nĩa và vẽ một nét vẽ nguệch ngoạc, thì sau này trẻ sẽ đặt tên cho nét vẽ nguệch
ngoạc đó là “cái nĩa” nếu nét vẽ nguệch ngoạc đó được tạo ra trong khi người đó
nhìn vào cái thìa, trẻ sẽ gọi nó là “cái thìa”. Trong các nghiên cứu gần đây
hơn với một nghiên cứu sinh sau tiến sĩ, Melissa Allen (hiện đang làm việc tại
Đại học Lancaster), tôi nhận thấy rằng ngay cả những đứa trẻ 24 tháng tuổi cũng
nhạy cảm với câu chuyện của một bức vẽ khi quyết định gọi nó là gì.
0 nhận xét:
Đăng nhận xét