Thứ Bảy, 6 tháng 8, 2022

How Pleasure Works - chương 5 (2)

 

ĐÔI MẮT DỄ DÀI

Cũng như với âm nhạc, một số khoái cảm thị giác khá nông cạn. Khi nói đến nghệ thuật thị giác, một số màu sắc và hoa văn chỉ bắt mắt theo một cách nhất định. Việc sơn phết phòng của con cái màu sáng sủa và những hoa văn cân đối của các phụ huynh hoàn toàn không phải là một việc lãng phí thời gian. Các em bé thích những thứ này, và chuyện này không liên quan gì đến chủ nghĩa bản chất.

Những sở thích như vậy được nghiên cứu như một phần của lĩnh vực được gọi là thẩm mỹ thực nghiệm. Các nhà tâm lý học tạo ra nhiều hình khối khác nhau, như hình đa giác, và bóp méo chúng trên các tham số như tính đối xứng hay sự điển hình, và hỏi đối tượng xem họ thích cái gì. Những nghiên cứu này đã củng cố thêm cho lý thuyết sơ đồ U ngược mà chúng ta đã bàn phía trên, cũng như việc giải thích cho đôi mắt dễ dãi khi ngắm nhìn các gương mặt xinh đẹp mà chúng ta đã bàn trong chương về tình dục – người ta thích những bức ảnh dễ ngấm.

Tuy nhiên, cuối cùng thì nghiên cứu này đã tạo ra một nền tảng yếu ớt cho việc nghiên cứu về khoái cảm thị giác. Khó mà nghiên cứu được khoái cảm thị giác bằng cách cho người ta xem những mẫu hình mà người ta không muốn xem. Nói điều này không phải là để chê bai nghiên cứu này, có lẽ với những mục đích khác như nghiên cứu tại sao người ta thích hình này hơn hình kia, thì nó khá thú vị. Nhưng chúng ta không chi tiền hay bỏ thời gian để nhìn vào những hình đa giác trắng đen trên màn hình máy tính. Chúng không mang lại cho chúng ta khoái cảm.

Vậy thì nhìn cái gì khiến chúng ta cảm nhận được khoái cảm? Có thể nhận thấy ngay tức thì là người ta thích nhìn những bức ảnh nhà cửa yên bình, hoa và thức ăn, những địa điểm hấp dẫn, và trên hết, con người – bao gồm những người mà chúng ta yêu thích và ngưỡng mộ. Nếu bạn ở nhà hay văn phòng, tôi cá là khi bạn nhìn vào các bức hình xung quanh bạn, bạn sẽ  tìm thấy chính xác những đại diện cho điều tôi đã kể trên. Màn hình chờ của bạn có thể là một khu rừng hay bãi biển, có nhiều hình của những người thân yêu của bạn trên bàn làm việc, v.v. Có rất nhiều tác phẩm nghệ thuật không phù hợp với khuôn mẫu này, và tôi sẽ chuyển sang Pollocks và những thứ tương tự sau, nhưng điều đáng chú ý là có nhiều bức ảnh xung quanh chúng ta đại diện cho những thứ mà chúng ta thích ngắm nhìn trong thực tế.

Một ví dụ đơn giản khác là phim khiêu dâm. Nhiều người thích ngắm nhìn những người hấp dẫn khỏa thân, với các lý do tầm thường liên quan đến thuyết tiến hóa Darwin. Nhưng bạn không có nhiều người hấp dẫn khỏa thân xung quanh bạn khi bạn cần họ. Vì thế chúng ta đã tạo ra các đại diện hai chiều mô phỏng trải nghiệm này, và từ đó tạo ra các phản ứng ham muốn giống như phản ứng ham muốn đến từ những người thật. Bạn không phản ứng với hình ảnh đại diện đó như thể nó là một tác phẩm, bạn phản ứng với nó như thể nó là người thật việc thật (đàn ông, đàn bà khỏa thân, hay cặp đôi, hay cặp ba…)

Khoái cảm đến ảnh khỏa thân không chỉ giới hạn ở con người. Trong một nghiên cứu gần đây, những con khỉ vàng đực đã được thí nghiệm, chúng có thể chọn bằng cách di chuyển đầu, để nhận một ít nước trái cây ngọt ngào hoặc để xem một bức tranh. Có hai loại hình ảnh khiến những con khỉ từ bỏ nước trái cây - chân sau của con khỉ cái và khuôn mặt của những con khỉ đực có địa vị cao. Đấy cũng là hai tệ nạn chính của con người — khiêu dâm và tôn sùng người nổi tiếng.

NGƯỜI TA thường hay nghĩ rằng cần phải thông qua quá trình học hỏi để tạo nên sở thích ngắm nhìn một bức ảnh chụp thực tế, và các nhà nhân chủng học đã phát hiện ra rằng, những người trong các bộ lạc nguyên thủy không thể hiểu được những bức tranh vì họ chưa từng nhìn thấy bất kỳ bức tranh nào trước đây.

Điều này đã được chứng minh là sai bằng một thí nghiệm khéo léo được báo cáo vào năm 1962. Nhà tâm lý học Julian Hochberg và Birginia Brooks nuôi nấng một đứa trẻ mà không cho nó xem bất kỳ một bức ảnh nào cho đến khi nó được 19 tháng tuổi. (Họ không nói ra, nhưng đứa trẻ là con của họ.) Sau đó họ cho thằng bé xem hình chụp và những bức tranh mô tả những đồ vật quen thuộc và yêu cầu nó gọi tên những đồ vật này. Thằng bé có thể làm điều đó một cách dễ dàng. Nhiều nghiên cứu gần đây phát hiện ra rằng ngay cả các em bé cũng có thể hiểu ngầm về sự liên quan giữa bức ảnh tả thực và đồ vật mà nó mô tả. Nếu bạn cho một đứa trẻ năm tháng tuổi chơi với một con búp bê, sau đó đem con búp bê đi và đưa đứa trẻ hai bức ảnh, một của con búp bê đó và một của một con búp bê khác, đứa bé sẽ nhìn lâu hơn vào bức ảnh của con búp bê lạ, cho thấy vài dấu hiệu trực giác về sự liên quan giữa con búp bê quen thuộc và bức ảnh của nó.

Trẻ em có thể bị thu hút bởi những bức tranh đến mức chúng coi những thứ trong bức tranh là những thứ thực tế. Các phụ huynh đã quan sát thấy nhiều hành vi kỳ lạ như con của họ cố thử bước chân vào bức ảnh của một chiếc giầy hay cào bức ảnh để cố gắng lấy được đồ trong bức ảnh đó, và những nghiên cứu thực nghiệm tinh tế cũng phát hiện ra hành vi này không chỉ ở Mỹ, nơi mà trẻ em có rất nhiều trải nghiệm với hình ảnh, mà còn trong số các gia đình nghèo và mù chữ ở Bờ Biển Ngà, nơi hiếm có tranh ảnh. Trẻ em có thể phân biệt các hình ảnh và những thứ thật (chúng ít khi chạm vào các bức ảnh hơn), nhưng sức hấp dẫn của sự giống nhau đôi khi rất khó cưỡng lại.

Điều này cũng đúng với người lớn. Đôi khi chúng ta cảm thấy khó mà không nghĩ về một hình ảnh như nghĩ về người thật vật thật mà nó đại diện. Nhà tâm lý học Paul Rozin và đồng nghiệp đã thực hiện một loạt các nghiên cứu trong đó họ yêu cầu người ta ngậm bãi nôn làm bằng cao su trong miệng hoặc ăn bánh rán được nướng thành hình phân chó. Đa số chúng ta cảm thấy điều này thật khó chịu – nó là bãi nôn, nó là phân chó. Tôi và đồng nghiệp gần đây có làm một loạt các nghiên cứu trong đó chúng tôi chụp hình những thứ quý giá nhất của người ta – ví dụ như nhẫn cưới của họ, và yêu cầu họ cắt nát bức ảnh. Họ đồng ý làm điều đó, nhưng các phép đo độ dẫn đã cho thấy họ đang ở trong trạng thái lo lắng nhẹ, như thể họ đang hủy hoại chính thứ quý giá đó. Và nếu bạn kêu người ta ném phi tiêu vào ảnh của trẻ con, thì họ thường ném trượt.

SỰ PHÔ BÀY VÀ TÍNH PHÙ HỢP

Dưới đây là một vài lý do để một người đánh giá cao một bức ảnh:

1.      Trông nó hấp dẫn ở mức độ thấp; các hoa văn làm đôi mắt dễ chịu.

2.      Nó mô tả một thứ hấp dẫn, như các bông hoa nhiều màu sắc hoặc một gương mặt đẹp.

3.      Trông nó quen thuộc. Đây là hiệu ứng tiếp xúc thường xuyên: ở một mức độ nào đó, sự quen thuộc tạo ra niềm vui.

Liệu sự hiệu ứng tiếp xúc thường xuyên có áp dụng với tranh vẽ hay không? Nhà tâm lý học James Cutting đã hỏi lý do tại sao các họa sĩ trường phái ấn tượng của Pháp được ưa thích hơn. Trong một nghiên cứu, ông ta phát hiện ra rằng người lớn, chứ không phải trẻ nhỏ, đặc biệt thích những bức tranh đã được triển lãm thường xuyên trong thế kỷ trước hơn là những bức tranh ít người biết đến hơn.

Tất nhiên, điều này có thể không phải là hiệu ứng sự quen thuộc. Có thể có một lý giải khác: có lẽ các bức tranh thường được triển lãm thì đẹp hơn những bức khác, và người lớn phản ứng dựa trên tính chất siêu việt này, chứ không phải sự quen thuộc. Cutting đã kiểm tra điều này trong nghiên cứu thứ hai trong đó ông giới thiệu các bức tranh trường phái ấn tượng hiếm thấy hơn cho sinh viên trong lớp ông trong nhận thức thị giác, trưng bày mỗi bức vài giây, không bình luận gì, như thể đó chỉ là một phần trong trình chiếu PowerPoint về các chủ đều khác. Sau đó, vào cuối kỳ, ông kiểm tra các sinh viên của mình, hỏi xem họ thích bức tranh nào nhất. Hóa ra sự tiếp xúc ngắn ngủi này đã làm đảo lộn mô hình ưa thích thông thường. Giờ đây, các sinh viên thích những bức tranh ít người biết đến này hơn những bức nổi tiếng, chỉ vì những sự tiếp xúc ngắn ngủi đó. Vì vậy, bằng cách đơn giản là nhìn thấy một bức tranh, bạn sẽ thích nó hơn.

4.      Có thể bức ảnh liên quan đến một ký ức tích cực. Điều này quan trọng hơn khi nói về ảnh chụp, nơi ghi lại những trải nghiệm như đám cưới, lễ tốt nghiệp, và khi chạm đến đỉnh Everest.

5.      Bức tranh phù hợp và làm căn phòng đẹp hơn. (Dù sao thì, hình dạng của một bức tranh rõ ràng ảnh hưởng đến giá cả của chính nó.)

6.      Nó nâng cao địa vị của bạn, làm người ta ấn tượng về việc bạn sở hữu nó. Một bức vẽ chúa Jesu trên thánh giá hay lễ Sabbath giúp quảng cáo cho đức tin của bạn. Một bức tranh hiện đại cho thấy bạn có hiểu biết và quan tâm đến nghệ thuật. Một bức vẽ khiêu khích có thể là dấu hiệu về sự tinh tế tôn giáo hay tình dục của bạn. Và một bức tranh gốc của một họa sĩ nổi tiếng là một cách dễ dàng và quý phái để nói cho mọi người biết bạn giàu có và thành công như thế nào. Rõ ràng là có rất nhiều khoái cảm ở đây.

7.      Giá trị của nó có thể đến tự sự lây lan tích cực. Như đã đề cập ở chương trước, việc một thứ được chạm vào và được yêu thích bởi người nổi tiếng có thể làm tăng giá trị của nó.

Tuy nhiên danh sách này đã bỏ qua một yếu tố quan trọng. Chúng ta cũng thích thú việc một bức tranh được tạo ra như thế nào, và chúng ta nhận được khoái cảm từ những gì chúng ta suy luận là bản chất của quá trình sáng tạo đó.

Đây là lập luận của triết gia Denis Dutton trong cuốn sách quan trọng của ông, Nghệ Thuật Bản Năng. Theo Dutton, phần hấp dẫn nhất của một tác phẩm nghệ thuật là nó phục vụ cho “bài kiểm tra tính phù hợp chủ nghĩa Darwin”. Ông xây dựng phát biểu này trong bối cảnh của thuyết chọn lọc tình dục về nguồn gốc của nghệ thuật – bắt nguồn từ Darwin và sau đó được mở rộng ra bởi nhà tâm lý học Geoffrey Miller, chúng ta đã bàn luận về công trình của ông trước đây ở chương tình dục. Theo thuyết này, nghệ thuật giống như cái đuôi công đực. Nó đã tiến hóa như một dấu hiệu của sự phù hợp theo chủ nghĩa Darwin, để thu hút bạn tình.

Theo Miller, tương đồng nhất với nghệ thuật của loài người là chim xanh, một loài chim được tìm thấy ở New Guinea và Úc. Các con đực là các nghệ sĩ. Chúng bay xung quanh và tìm những thứ màu sắc như các quả mọng, vỏ sò, và hoa, và mang chúng về để sắp xếp thành các hoa văn cân đối và phức tạp – các túp lều. Những con cái là các nhà phê bình sáng suốt và nghiêm khắc. Chúng xem xét các túp lều, tìm kiếm cái sáng tạo nhất, và kết đôi với con đực tạo ra nó. Một con đực thành công sẽ có thể kết đôi với 10 con cái; con nào không thành công thì sẽ độc thân. Sau khi kết đôi, con cái sẽ bay đi để đẻ trứng và con đực chẳng bao giờ nhìn thấy nó nữa. Cuộc đời của một con chim xanh đực thành công khá giống với Pable Picasso.

Điều này chứng minh rằng chọn lọc tình dục làm nên sự sáng tạo của chim xanh – việc con cái rất nhạy cảm với các túp lều như một dấu hiệu của sự phù hợp, ví dụ như độ thông minh, kỹ năng, kỷ luật, v.v, những đặc điểm có ích cho con non. Miller và Dutton cho rằng sự phát triển nghệ thuật của loài người cũng giống như thế. Những bức tranh đẹp thì khó vẽ. Một nghệ sĩ giỏi là một người biết cách học hỏi và lên kế hoạch giỏi, cho thấy sự thông minh và tính sáng tạo, và đủ thành công trong việc vượt qua những trở ngại trước mắt của cuộc sống (thức ăn, nơi ở, v.v.) để tìm thời gian và nguồn lực cho những sáng tạo không vị lợi này. Con cái thích những điều này: chim xanh mái bị thu hút khi nhìn thấy những tính chất này trong chim xanh đực và phụ nữ thì bị hấp dẫn bởi những tính chất này ở đàn ông. Phương châm ở đây đến từ Renoir: Tôi vẽ bằng dương vật của mình.

Darwin có cái nhìn tương tự khi ông đề cập đến âm nhạc, cho rằng sự phát triển của nó là để “hấp dẫn giới tính kia”. Không khó để hiểu về cách mà những bài hát và điệu nhảy gây ấn tượng người khác như thế nào – xây dựng và duy trì tính nhịp nhàng trong một quãng thời gian dài là một cách hiệu quả để phô bày bày sự thông minh, sáng tạo, năng lượng, khả năng di chuyển, và tất cả những điều này là đặc điểm tích cực có thể tìm thấy ở bạn tình. Và người ta cũng không cần một nghiên cứu hoa mỹ để biết rằng, trong thời hiện đại, những người nghệ sĩ thành công từ Mick Jagger đến, à, Joshua Bell, ít gặp khó khăn trong việc tìm bạn. Kỹ năng âm nhạc vô cùng hấp dẫn, và thuyết chọn lọc tình dục là một ứng viên hợp lý để giải thích nguồn gốc của nó.

Những dù tôi đồng ý với Dutton và Miller rằng nghệ thật có thể là một sự trưng bày tính phù hợp, và rằng cả ham muốn sáng tạo và khoái cảm mà chúng ta nhận được từ những sáng tạo như vậy có thể đã được hình thành ở một mức độ nào đó bởi sự lựa chọn giới tính, vẫn còn ở đó những vấn đề với lý thuyết này, như là lời giải thích cho lý do tại sao chúng ta thích nghệ thuật.

Sự thật rõ ràng về cái đuôi công đực là chỉ có công đực mới có bộ đuôi, công cái thì không. Chim xanh đực mới tạo ra các túp lều còn con cái thì đánh giá chúng. Đây mới là cách mà chọn lọc tình dục vận hành. Vì con cái thường chịu phần chi phí tình dục nhiều hơn con đực (trong hầu hết các loài, con cái phải nuôi con, trong khi con đực chẳng đóng góp gì ngoài tinh trùng trong thời gian ngắn), chọn lọc đi theo đường một chiều – rằng con đực thì cạnh tranh để thu hút con cái, con cái thì đánh giá các con đực.

Mô hình này không đúng với loài người. Miller tranh luận rằng đàn ông thì thích tạo ra nghệ thuật hơn phụ nữ và phụ nữ thì thích đánh giá nghệ thuật hơn đàn ông. Điều này đúng ở một mức độ nào đó, tuy nhiên, trong xã hội mà mọi người đều có cơ hội sáng tạo nghệ thuật, thì số lượng nhà thơ nữ, nhà văn, họa sĩ, ca sĩ nữ không hề ít ỏi.

Một câu trả lời công bằng cho điều này là con người không phải là chim công; chúng ta là một loài tương đối chung thủy, và đối với chúng ta, chọn lọc tình dục có thể đi theo cả hai chiều, mọi người đều có thể thể hiện các đặc điểm phù hợp và đánh giá các đặc điểm phù hợp của bạn tình tiềm năng. Tuy nhiên, vấn đề còn sót lại là sự đánh giá cao nghệ thuật chẳng liên quan gì tới ham muốn tình dục. Một người đàn ông ngưỡng mộ Picasso không cần phải là người đồng tính. Trẻ em, đối tượng chưa có bất kỳ liên quan gì đến việc thu hút bạn tình, lại là những nghệ thuật nhiệt tình nhất, còn người già, bao gồm phụ nữ đã qua giai đoạn sinh sản, có được niềm vui từ việc sáng tạo và ngưỡng mộ nghệ thuật.

Cũng có một vấn đề tổng quát hơn. Chọn lọc tự nhiên có thể giải thích tại sao Picasso dễ dàng tìm bạn tình – những tác phẩm của ông là minh chứng cho các đặc tính chủ nghĩa Darwin. Nhưng điều này giải thích cho sự hấp dẫn của người nghệ sĩ, chứ không giải thích cho khoái cảm người ta có được từ tác phẩm. Tại sao người ta lại thích tác phẩm của Picasso nhiều như vậy, mặc dù ông ấy đã mất từ rất lâu rồi?

 

Giờ hãy xem xét đế một thuyết bổ sung, với hai phần.

Đầu tiên, việc phô bày sự khéo léo, kỷ luật, sức mạnh, tốc độ, v.v thu hút sự quan tâm của chúng ta vì nó cho thấy các đặc tính liên quan của từng cá nhân.

Đây không phải là phát biểu của Miller và Dutton sao? Đúng, phần nào đó. Đàn ông thường phô bày với mong muốn rằng phụ nữ sẽ kết bạn với anh ta, và đúng là các phụ nữ đánh giá sự phô bày của đàn ông để tìm kiếm nguồn DNA cao cấp nhất. Nhưng không hoàn toàn là về tình dục. Chúng ta cũng đánh giá các cá nhân dựa trên các tính cách của họ khi họ là  bạn bè, đồng nghiệp, hay lãnh đạo. Thật ra, mặc dù điều này nghe hơi có vẻ máu lạnh, chúng ta thường phải đánh giá tính cách của con cái để xem đứa nào có nhiều khả năng để sống sót và tái sinh sản trong tương lai nhiều hơn. Trong tiểu thuyết Sự lựa chọn của Sophie, nhân vật của William Styron bị bắt buộc chọn giữa con gái nhỏ Eva và đứa con trai tóc vàng mắt xanh Jan để chọn ra một đứa sẽ bị ngạt khí ở Auschwitz, và bà đã chọn hy sinh Eva, một quyết định tàn nhẫn như hợp lý vì Jan có nhiều khả năng để sống sót trong trại hơn. Trong thế giới còn nhiều khó khăn, phiên bản nhẹ nhàng hơn của câu chuyện này vẫn tồn tại: cha mẹ thường phải phân bổ nguồn lực cho con cái và sự phân bổ này thường không đồng đều. Vì vậy, để có được lợi ích tốt nhất, trẻ em phải gây ấn tượng với bố mẹ bằng những phẩm chất tốt đẹp của chúng.

Đây là một minh chứng cho việc tạo sao có thể dùng đánh giá mức độ phù hợp để giải thích cho lý do phát triển của nghệ thuật, và tại sao chúng ta buộc phải tạo ra nghệ thuật và thưởng thức nó. Đây không phải tuyên bố về động lực tâm lý – dù là ý thức hay vô thức. Khi một đứa trẻ tự hào đưa cho bố mình xem bức tranh mình vẽ, cô bé không tự nói với mình – vô thức hay có ý thức – rằng “Cái này sẽ gây ấn tượng với bố, và bố sẽ cho mình nhiều đồ ăn hơn em trai.” Khi bạn thích một bức tranh, bạn không thường nghĩ rằng, “Kỹ thuật và kỹ năng điêu luyện của tác phẩm đó cho thấy một nghệ sĩ có phẩm chất xuất sắc; Tôi sẽ cố gắng giao phối hoặc kết bạn với anh ấy.” Chức năng tiến hóa không liên quan gì tới động lực tâm lý. William James chỉ ra điều này từ rất lâu trước đây thông qua ví dụ về thức ăn, khi ông lưu ý rằng không ai trong hàng tỷ người nghĩ về những lợi ích khi ăn uống: “Anh ta ăn vì thức ăn ngon miệng và làm anh ta muốn ăn nhiều hơn. Nếu bạn hỏi người ta tại sao anh muốn ăn nhiều hơn những thứ như thế, thay vì tôn kính bạn như một triết gia thì người ta thông thường sẽ cười và cho là bạn là đồ ngớ ngẩn.”

Phần thứ hai của thuyết này là chúng ta tiến hóa để đạt được khoái cảm từ sự phô bày mức độ điêu luyện. Điều này đã thúc đẩy chúng ta tìm kiếm những sự phô bày này, nó thúc đẩy chúng ta tự mình phô bày, và nó cung cấp một cơ chế tâm lý làm nền tảng cho việc chúng ta bị thu hút bởi các nghệ sĩ – họ có khả năng tạo ra những thứ mang cho chúng ta rất nhiều khoái cảm, và chúng ta thường thích những người mang lại cho chúng ta khoái cảm.

Nếu sự phô bày ở đây là thông qua các bức tranh và những tác phẩm nghệ thuật tĩnh khác, thì một phần nào đó, chúng được đánh giá dựa trên việc chúng ta cho rằng chúng được tạo ra như thế nào. Bản chất lịch sử (historical nature) của tác phẩm nghệ thuật đã được nhiều học giả nhấn mạnh, và đã được Dutton lập luận gay gắt nhất hơn 25 năm trước:

Như một màn trình diễn, tác phẩm nghệ thuật đại diện cho cách mà những người nghệ sĩ giải quyết vấn đề, vượt qua khó khăn, và tạo ra bằng những nguyên liệu sẵn có. Tác phẩm cuối cùng được tạo ra để chúng ta chiêm ngưỡng, là một thứ mang ý nghĩa từ  chính nó, có thể tách biệt khỏi các tác phẩm khác hoặc tách khỏi hoạt động của người nghệ sĩ. Nhưng sự tách biệt này – vốn thường được xem như cách mà chúng ta chú ý đến tác phẩm – không nên làm chúng ta lu mờ trước sự thật mà chúng ta coi như là đương nhiên: rằng tác phẩm này có nguồn gốc từ con người, và phải hiểu như thế.

Vì thế, ý tưởng ở đây là một số sự phô bày nhất định – bao gồm các tác phẩm nghệ thuật – cung cấp cho chúng ta các thông tin có giá trị cao và tính tích cực về một người khác. Chúng ta đã tiến hóa để đạt được khoái cảm từ những sự phô bày này. Đây là một ví dụ khác của chủ nghĩa bản chất, một trường hợp khác trong đó các đối tượng được cho là được tạo nên bởi những bản chất vô hình bên trong chúng. Đối với một thứ ví như một khối thịt, bản chất là vật chất; đối với một tạo tác của con người ví như một bức tranh, bản chất của nó nằm ở việc người ta suy đoán về màn trình diễn đã tạo ra nó.

Người ta có thực sự nghĩ rằng các tác phẩm nghệ thuật có một bản chất vô hình cắm rễ sâu trong câu chuyện của chính nó? Tôi cho là ngay cả trẻ con cũng nghĩ thế. Lần đầu tiên tôi cảm thấy hứng thú với tâm lý về nghệ thuật là hơn một thế kỷ trước, khi đứa con trai hai tuổi của tôi vẽ tranh trên tấm các tông, và tự hào khoe với tôi rằng đó là “một cái máy bay”. Đối với một nhà tâm lý học phát triển như tôi thì chuyện này khá ngạc nhiên vì trong ngành của tôi, chúng tôi đồng thuận rằng một đứa trẻ thường đặt tên dựa trên hình dáng: đối với một đứa trẻ, từ “máy bay” nên liên quan tới cái gì đó giống với cái máy bay. Nhưng hình vẽ của Max thì chẳng giống cái máy bay chút nào; nó là một bãi màu sắc rực rỡ. Và hành vi này của thằng bé cũng không khác lạ. Kiểm tra nhanh tài liệu cho thấy rằng việc trẻ em tạo ra các bức tranh và đặt tên cho chúng là hoàn toàn bình thường - một con chó con, một bữa tiệc sinh nhật, Mẹ - mặc dù các bức tranh của chúng không giống những thứ này.

Cùng với sinh viên đã tốt nghiệp Lori Markson (hiện tại đang ở Đại học Washington ở St.Louis), tôi khám phá ra ý tưởng rằng những cái tên này không dựa trên việc bức tranh trông giống cái gì; chúng thường được đặt dựa trên câu chuyện của bức tranh đó. Nó là một cái máy bay vì Max muốn nó là một cái máy bay. Một loạt cái nghiên cứu đã củng cố ý tưởng này, phát hiện ra rằng ngay cả những đứa trẻ 3 tuổi cũng sẽ đặt tên cho các bức tranh dựa trên việc chúng định vẽ cái gì. Chúng tôi cũng thấy rằng đối với những bức tranh mà người khác vẽ cũng vậy. Nếu một đứa trẻ ba tuổi nhìn ai đó nhìn chằm chằm vào một cái nĩa và vẽ một nét vẽ nguệch ngoạc, thì sau này trẻ sẽ đặt tên cho nét vẽ nguệch ngoạc đó là “cái nĩa” nếu nét vẽ nguệch ngoạc đó được tạo ra trong khi người đó nhìn vào cái thìa, trẻ sẽ gọi nó là “cái thìa”. Trong các nghiên cứu gần đây hơn với một nghiên cứu sinh sau tiến sĩ, Melissa Allen (hiện đang làm việc tại Đại học Lancaster), tôi nhận thấy rằng ngay cả những đứa trẻ 24 tháng tuổi cũng nhạy cảm với câu chuyện của một bức vẽ khi quyết định gọi nó là gì.

>>>> (3)

0 nhận xét:

Đăng nhận xét