Thứ Bảy, 6 tháng 8, 2022

How Pleasure Works - chương 5 (1)

 

5

MÀN TRÌNH DIỄN

VÀO SÁNG NGÀY 12 THÁNG 1 NĂM 2007, MỘT NGƯỜI ĐÀN ÔNG TRẺ mặc quần jean, áo phông dài tay và đội mũ lưỡi trai bước vào ga tàu điện ngầm Washington và lấy ra một cây đàn vĩ cầm. Anh ta đặt hộp đàn vĩ cầm của mình trước mặt, gieo vào đó một vài đô la và một ít tiền lẻ, rồi chơi sáu bản nhạc cổ điển trong 43 phút tiếp theo, với hơn một nghìn người đi ngang qua.

Đây không phải là một người trình diễn đường phố bình thường. Anh là Joshua Bell, một trong những nghệ sĩ vĩ cầm vĩ đại của thế giới, và anh chơi bằng cây violin trị giá $3,5 triệu đô la, được làm bằng chính đôi tay của Antonio Stradivari vào năm 1713. Vài đêm trước, Bell đã biểu diễn ở Nhà Hòa Nhạc Boston. Bây giờ anh ấy đứng trước mặt những người đang di chuyển trên đường phố và chơi đàn để kiếm tiền. Đây là một thí nghiệm của Gene Weingarten, một phóng viên của Washington Post. Thí nghiệm này được coi như một “đánh giá trực quan về thị hiếu của công chúng”: mọi người sẽ phản ứng như thế nào với tác phẩm nghệ thuật tuyệt vời trong bối cảnh ngày thường, khi không ai nói với họ rằng nó tuyệt vời như thế nào?

Người ta đã thất bại. Hơn một nghìn người đi ngang qua, và Bell chỉ kiếm được hơn $32. Không tệ, nhưng chẳng có gì đặc biệt. Những người đang di chuyển trên đường thờ ơ với những gì họ nghe thấy. Weingarten đã nói với Mark Leithauser, một người phụ trách cao cấp tại Phòng trưng bày Quốc gia, người đã đặt sự thờ ơ này trong một bối cảnh rộng lớn hơn:

Giả sử tôi đã lấy một trong những kiệt tác tranh trừu tượng của chúng tôi, ví như của tranh của Ellsworth Kelly, gỡ nó ra khỏi khung, đem nó xuống 52 bậc thang mà mọi người đi bộ lên để đến Phòng trưng bày Quốc gia, băng qua những chiếc cột khổng lồ và đưa nó vào một quán ăn. Đó là một bức tranh trị giá 5 triệu đô la. Và đặt nó vào một trong những nhà hàng có bán các tác phẩm nghệ thuật, vài bức trong số chúng được vẽ bởi một số đứa trẻ giỏi giang từ Trường Corcoran, và tôi treo bức tranh của Kelly đó trên tường với giá 150 đô la. Sẽ không ai nhận ra nó. Một người phụ trách nghệ thuật có thể nhìn lên và nói: “Này, trông hơi giống tranh Ellsworth Kelly. Chuyển cho tôi hũ muối với”.

Như Weingarten nói, Joshua Bell ở ga tàu điện ngầm chính là tác phẩm nghệ thuật mà không có khung.

Vào cuối buổi diễn, Stacy Furukawa bước ngang qua. Cô ấy đã tham dự một buổi hòa nhạc của Bell vài tuần trước, và dừng lại trước mặt người nghệ sĩ mười bước, mỉm cười bối rối. Khi anh đàn xong, cô ấy tự giới thiệu bản thân và đặt vào hộp $20. Weingarten không tính phần này vào tổng số tiền – “Tiền này đến do cô ấy đã nhận ra người này là ai.” Món tiền của Furukawa là cho người nghệ sĩ, chứ không (hoặc không hoàn toàn) là cho âm nhạc.

Thí nghiệm này cung cấp một minh họa ấn tượng về tầm quan trọng của ngữ cảnh khi mọi người thưởng thức màn biểu diễn. Âm nhạc trong phòng hòa nhạc với Joshua Bell là một chuyện, trong ga tàu điện ngầm từ một anh chàng lôi thôi đội mũ lưỡi trai là một chuyện khác.

Đây là một minh họa thông minh, nhưng cũng không bất ngờ lắm. Mọi người đều biết rằng giá trị của một bức tranh sẽ tăng lên nếu người ta biết rằng nó được vẽ bởi nghệ sĩ nổi tiếng, và giảm đi nếu nó là hàng giả. The Night Watch là tác phẩm nổi tiếng nhất của bảo tàng Rijks, nhưng nếu người ta khám phá ra rằng nó là đồ giả, thì giá trị của nó sẽ đi từ vô giá đến vô giá trị. Điều quan trọng ở đây là sự nguyên bản.

Điều này nghe có vẻ phi lý. Nếu bạn thích bức The Night Watch khi bạn nghĩ nó là của Rembrandt, thì tại sao bạn lại ít thích nó hơn nếu hóa ra nó là của Joe Shmoe? Nếu bạn trả tiền để nghe Joshua Bell biểu diễn, thì bạn cũng sẽ thích thú với buổi biểu diễn tương tự từ người lạ chứ? Nó vẫn là cùng một bức vẽ trên giấy canvas, và một chuỗi âm thanh tương tự. Nếu hành xử khác thì hóa ra con người vừa yếu đuối, hơi hướm hợm hĩnh, nghĩ theo bầy đàn và lười biếng trí tuệ hay sao.

Đây chính là góc nhìn của Arthur Koestler, trong cuốn sách Hành Vi Sáng Tạo xuất bản năm 1964 của ông về sự sáng tạo, ông đã kể một câu chuyện về một người bạn tên là Catherine. Cô ấy nhận được quà tặng là một bức tranh mà cô ấy coi là bức tranh nhái theo phong cách của Picasso trong thời kỳ cổ điển của ông. Cô ấy rất thích nó, và treo trên cầu thang của cô ấy. Nhưng khi Catherine đem nó đi thẩm định và hóa ra là của chính Picasso, cô ấy đã rất vui và chuyển nó đến một phần nổi bật hơn của ngôi nhà. Catherine khẳng định với Koestler rằng bây giờ cách cô ấy nhìn tác phẩm nghệ thuật này đã thay đổi. Với cô ấy, bức tranh trông có vẻ đẹp hơn.

Koestler khá phiền lòng: “Điều này chứng minh rằng hoàn toàn vô dụng khi nói đi nói lại với cô ấy rằng, nguồn gốc và giá trị quý hiếm của vật thể không làm thay đổi phẩm chất của nó — và do đó, không nên để nó làm thay đổi sự đánh giá của cô ấy về nó, nếu sự đánh giá đó thuần túy dựa trên tiêu chuẩn thẩm mỹ mà cô ấy tin tưởng.” Ông tiếp tục nói rằng việc cô ấy kích động khi biết mình sở hữu một bức tranh của Picasso cũng ổn thôi. Điều thực sự làm ông bực mình là cô ấy nhấn mạnh rằng bức tranh bây giờ trở nên đẹp hơn so với khi cô ấy nghĩ rằng đây là một bức tranh nhái.

Đối với Koestler, Catherine là một kẻ hợm hĩnh. Kẻ hợm hĩnh là những người dùng những tiêu chuẩn không phù hợp để đánh giá mọi thứ. Một kẻ hợm hĩnh là người sẽ chọn bạn bè dựa trên địa vị xã hội của họ, chứ không phải những phẩm chất sâu sắc hơn. Koestler kể về một kẻ hợm hĩnh về mặt tình dục, một phụ nữ trẻ đến từ Berlin, những ngày trước thời Hitler, cô ta sẽ làm tình với nhiều tác giả, cả đàn ông và phụ nữ, miễn là sách của người đó bán được trên 20,000 cuốn. Koestler cảm thấy điều này thật nực cười: “đầu óc cô ấy là hỗn hợp tuyệt vọng của cuốn Kama Sutra và những cuốn best-seller khác.” Đối với ông, Catherine là kẻ hợm hĩnh nghệ thuật. Cô ấy có được niềm vui không phải từ bản thân tác phẩm, mà là từ việc biết tác giả là ai.

Trước Koestler, nhà mô phỏng tranh người Hà Lan Han van Meegeren sẽ đồng ý với ý kiến này. Ông ấy ghét nghệ thuật hiện đại và bắt đầu sự nghiệp sản xuất tranh theo phong cách Rembrandt. Ông đã không thành công và gặp xui xẻo với các nhà phê bình, một người đã nói, với sự tiên đoán xuất sắc, rằng “anh ta có mọi đức tính ngoại trừ tính nguyên bản.”

Một phần để trả đũa – và một phần để làm giàu – ông bắt đầu vẽ tranh Vermeers. Các nhà phê bình phấn khích. Bữa tối tại Emmaus có lẽ là bức tranh nổi tiếng nhất ở Hà Lan. Nhà phê bình hàng đầu về nghệ thuật baroque của Hà Lan đã ngất ngây: “Chúng tôi có ở đây — tôi hân hạnh được nói rằng — một kiệt tác của Jan Vermeer of Delft”. Van Meegeren, một người khá tự cao tự đại, đến thăm bức tranh này trong Phòng trưng bày Boijmans và lớn tiếng nói với những du khách khác đến bảo tàng rằng nó là đồ giả, chỉ để nghe họ nói với ông ta rằng nói như vậy thật vớ vẩn, chỉ có một thiên tài như Vermeer mới có thể vẽ được như vậy.

Có lẽ người ta sẽ chẳng bao giờ phát hiện ra ông, nhưng ông đã bị bắt giữ với vì đã bán tranh Vermeer cho tên Nazi Hermann Goering và kiếm được bộn tiền. Sau đó ông mới tự thú rằng ông không bán cho hắn tranh của Vermeer, mà bán tranh của van Meegeren, và nhiều tác phẩm khác mang tiếng của Vermeers thực chất cũng là của Meegerens.

Tôi đã bắt đầu cuốn sách bằng cách miêu tả câu chuyện này dưới góc nhìn của Goering, nhưng giờ hãy nghĩ về sự muối mặt của các nhà phê bình tranh. Phải thừa nhận rằng, vào thời điểm đó có một số người đã nghi ngờ, và một số nhà phê bình đương thời cho rằng khó có thể tin rằng có ai đó đã từng bị lừa một cách như vậy. (Có một lời phê bình khác cho rằng, một gương mặt trong số những gương mặt trong bức tranh Bữa tối ở Emmaus trông giống nữ diễn viên Greta Garbo một cách đáng ngờ.) Nhưng nhiều nhà phê bình lúc đó đã ca ngợi vẻ đẹp của những bức tranh này. Tuy nhiên, họ đã rút lui khi họ phát hiện ra ai là tác giả. Như một chuyên gia đã viết, “Sau khi biết về vụ Van Meegeren, rõ ràng là, những tác phẩm giả mạo của ông ta trở thành những bức tranh xấu xí và khó chịu một cách kỳ cục, hoàn toàn không giống với của Vermeer”.

Chúng ta đã trải qua nhiều vụ việc tương tự. Vài năm trước, bức tranh Thiếu nữ bên cây đàn Virginal của Sotheby được bán với giá $32 triệu đô la sau cuộc tranh cãi dài về việc ai đã vẽ nó. Các chuyên gia khẳng định đó là Vermeer, vì thế nó mới có giá đó, nhưng nếu hóa ra họ sai, thì giá trị của bức tranh sẽ rớt xuống, và các chuyên gia sẽ bị muối mặt một lần nữa. Có lẽ một số người sẽ kết luận rằng bức tranh không đáng yêu như họ nghĩ.

Và bức tranh hóa ra là đồ giả, Thiếu nữ bên cây đàn Virginal cuối cùng được trưng bày ở bảo tàng Bruce, ở Greenwich, Connecticut, cách nhà tôi một giờ lái xe. Khi tôi viết những dòng này, đây cũng là nơi mà bạn sẽ tìm thấy bức tranh Bữa tối ở Emmaus, như một bộ triển lãm những bức tranh nhái và giả. Vì thế đây là một bảo tàng nhỏ và ấm cúng, và khi tôi đứng trước bức tranh, đột nhiên tôi nghĩ đến việc lấy nó xuống từ bức tường, đặt nó cẩn thận ở sau chiếc minivan của mình, rồi đem về nhà. Nếu tôi làm những điều này vào đầu những năm 1945, thì tôi đã trở thành tên tội phạm ăn cắp tranh nổi tiếng nhất mọi thời đại. Còn bây giờ thì đây chỉ là một câu chuyện tếu lâm; các bản tin sẽ có tiêu đề là: "Giáo sư loạn trí ăn cắp bức tranh vô giá trị."

Điều gì đã thay đổi? Tại sao những bức tranh giả ít khi mang lại cho chúng ta khoái cảm? Chương này sẽ cố gắng trả lời câu hỏi đó. Chúng ta bắt đầu với tranh vẽ và âm nhạc, đi đến nghệ thuật nói chung, và sau đó sẽ liên hệ khoái cảm với những thứ như thể thao. Tôi đề xuất rằng chúng ta không xem sự ám ảnh của mình với bối cảnh và nguồn gốc như một sự hợm hĩnh hay ngu ngốc – như trong thí nghiệm của Bell, hay câu chuyện của Catherine, hay bức tranh Bữa tối ở Emmaus. Chúng ta có được nhiều khoái cảm đến từ việc trân trọng lịch sử loài người ẩn trong sự sáng tạo đã tạo nên các bức tranh. Đây chính là bản chất của chúng.

KẸO NGỌT BÊN TAI

(ear candy: âm nhạc bắt tai nhưng không có ý nghĩa)

Cũng như những loại khoái cảm mà chúng ta đã bàn luận cho tới nay - tình dục, thức ăn, và các sản phẩm tiêu dùng – tôi thừa nhận rằng, một số phản ứng của chúng ta với âm nhạc hay tranh vẽ thường không sâu sắc lắm. Chúng ta thích lắng nghe hay ngắm nhìn nhiều thứ với nhiều lý do không liên quan gì tới bản chất hay lịch sử hay bối cảnh.

Điều này không có nghĩa rằng chúng ta biết lý do là gì. Năm 1896, Darwin bình luận rằng tình yêu dành cho ca hát và âm nhạc là một trong những đặc tính bí ẩn nhất của loài người. Cho đến hiện nay chuyện này cũng vẫn là một bí ẩn. Việc chúng ta thích thức ăn, nước uống, tình dục, sự ấm áp, nghỉ ngơi, sự an toàn, tình bạn và tình yêu thì không có gì bí ẩn cả, sở hữu được những thứ này rất tốt cho chúng ta, vì chúng có lợi cho việc sống còn và tái sinh sản. Nhưng vì sao chúng ta thích giai điệu âm thanh nhiều như vậy? Tại sao con người ở khắp nơi trên thế giới này đều cống hiến nhiều thời gian và công sức để ca hát và nhảy múa? Ở bộ lạc Mekranoti ở Amazon, phụ nữ hát từ một đến hai tiếng đồng hồ mỗi ngày và đàn ông thì hát hơn hai tiếng đồng hồ vào mỗi tối. Họ sống một lối sống tự cung tự cấp, nhưng họ dành hàng giờ để ca hát! Điều này thật sự phí phạm thời gian, và phí phạm đến mức nó khiến bạn thoát khỏi sinh học tiến hóa và hướng tới sự can thiệp của thần thánh. Kurt Vonnegut đã khắc trên bia mộ của mình: “Bằng chứng duy nhất anh cần khi chứng minh sự tồn tại của Chúa là âm nhạc.”

Âm nhạc là niềm vui độc quyền của con người. Âm nhạc có thể làm dịu lòng, nhưng chỉ là lòng người thôi, chứ không phải lòng chuột hay chó hay tinh tinh. Có lẽ sẽ có nhiều người phản bác điều này – nếu bạn nói với tôi rằng con mèo của bạn bị sững sờ khi bạn chơi guitar, thì làm sao tôi phản bác được? – nhưng không có bất kỳ bằng chứng thực nghiệm nào cho thấy những sinh vật phi con người thích thú với âm nhạc. Một cách để kiểm tra điều này là đặt các con vật vào một mê cung trong đó các vị trí khác nhau tương ứng với các âm thanh khác nhau; người ta có thể xác định những con vật thích gì bằng cách xem chúng đi đến địa điểm nào. Sử dụng phương pháp này, các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng các loài linh trưởng như khỉ sư tử mặt đen và khỉ đuôi sóc thích im lặng hơn các bài hát ru, và chúng không tỏ ra rằng chúng thích nhạc êm tai hơn là nhạc chói tai. Khỉ không quan tâm liệu bạn cho chúng nghe nhạc rock hay nghe tiếng móng tay cào trên bảng đen.

Ngược lại, hầu như con người ai cũng thích nhạc. Trẻ em thì khó kiểm tra hơn khỉ, vì bạn không thể bắt các em bé bò ra khỏi mê cung, nhưng cũng có nhiều phương pháp khác để tìm hiểu. Một thí nghiệm là để trẻ quay đầu để nghe âm thanh, theo dõi âm thanh nào trẻ thích nghe. Thử nghiệm theo cách này, trẻ sơ sinh thích nhạc êm ái hơn âm thanh chói tai và chúng thích âm thanh của những bài hát ru. Khoái cảm âm nhạc này kéo dài suốt cuộc đời; tuy rằng mức độ của khoái cảm này rất khác nhau, nhưng duy chỉ có những người bị tổn thương não là tỏ ra thờ ơ với âm nhạc.

 

NHÀ TÂM LÝ HỌC Steven Pinker cho rằng, việc âm nhạc trở thành một thứ phổ biến của con người cho thấy dấu hiệu rõ ràng nhất của những tai nạn tình cờ trong tiến hóa. Đối với ông, âm nhạc giống như “bánh phô mai của thính giác”, một phát minh gây kích thích não bộ giống như bánh phô mai kích thích vòm miệng: “Bánh phô mai là một cú đá mạnh vào cảm xúc không giống với bất kỳ thứ gì trong thế giới tự nhiên vì nó là sự pha trộn của hàng loạt các kích thích dễ chịu mà chúng ta tạo ra để nhấn vào các nút cảm xúc bên trong chúng ta.” Pinker tin rằng điều này cũng đúng với nghệ thuật nói chung, ngoại trừ ngoại lệ khả dĩ: tiểu thuyết.

Cái gì đã tiến hóa thành các nút ấn khoái cảm khi nghe nhạc? Theo Pinker có một vài khả năng, bao gồm ngôn ngữ, âm nhạc và ngôn ngữ cùng chia sẻ với nhau điểm chung về tính chất bất thường về quy luật và hồi quy: khả năng dùng một số lượng giới hạn các nhân tố (với ngôn ngữ: từ vựng và hình thái; với âm nhạc: nốt nhạc) để phối hợp với nhau thành một số lượng vô hạn các chuỗi có cấu trúc phân cấp. Nhưng chúng cũng có nhiều điểm khác biệt. Ngôn ngữ là một hệ thống dùng để thể hiện những mệnh đề có ý nghĩa, điều đang xảy ra khi bạn đọc những dòng này. Âm nhạc truyền tải cảm xúc (hãy nghĩ đến cảm giác căng thẳng khi bạn nghe bài Jaws) nhưng nó vô dụng trong việc giao tiếp, không thể truyền tải ngay cả mệnh đề đơn giản nhất. Âm nhạc tạo ra khoái cảm thông qua âm thanh, ngôn ngữ thì không làm được điều này – chúng ta thường thích ngôn ngữ vì nội dung được nói ra, hoặc cách mà nội dung được nói ra. Mặt khác, ca hát – bao gồm vừa ngôn ngữ vừa âm nhạc – cũng mang lại khoái cảm, và các em bé đều ưa thích giọng nói của mẹ mình.

Những học giả khác cho rằng âm nhạc là một phương thức để thích nghi. Điều này không phủ nhận việc khoái cảm đến từ âm nhạc trong một hạn mức nào đó được tạo nên từ một số phần của bộ não trong quá trình tiến hóa. Trong sinh học, những thứ mới mẻ luôn được xây dựng từ những thứ cũ kỹ. Nhưng nói rằng âm nhạc là một sự thích nghi đồng nghĩa với việc tuyên bố rằng nó xuất hiện vì nó liên quan đến lợi thế sinh sản của tổ tiên chúng ta. Bộ gien của những người thích âm nhạc và tạo ra âm nhạc đã tái sinh sản vượt trội hơn so với những người không thích.

Người hiện đại bảo vệ quan điểm này mạnh mẽ nhất là nhà tâm lý học Daniel Levitin. Anh cho rằng những bài hát và điệu nhảy nhịp nhàng đã tiến hóa như một loại thích nghi có tính xã hội. Âm nhạc có thể giúp quân đội phối hợp trong chiến tranh, khiến các nhiệm vụ nhóm trở nên dễ dàng hơn, và hơn cả là nó có thể tạo ra kết nối cảm xúc với người khác. Nếu anh ấy đúng, thì câu chuyện về sự tiến hóa của âm nhạc sẽ khá giống với câu chuyện về sự tiến hóa của những đặc tính khác giúp kết nối cá nhân với nhóm của họ, như cảm giác về đoàn kết và cộng đồng.

Ngay cả khi âm nhạc có nhiều lợi ích xã hội, thì vẫn cần nhiều bằng chứng để chứng tỏ rằng nó tồn tại là vì những lợi ích xã hội này. Những người theo thuyết thích nghi phải đưa ra các quan điểm hợp lý về việc những tổ tiên của chúng ta nếu không thích âm nhạc thì sẽ ít được cộng đồng chấp nhận và khó khăn hơn trong chuyện tìm bạn tình so với những người yêu thích âm nhạc. Hơn nữa, người ta cũng cần phải giải thích phương thức mà một số đặc tính cụ thể của âm nhạc đã tiến hóa. Ví dụ như, nếu tính đồng điệu quan trọng, thì tạo chúng ta  không đơn giản tạo ra các tiếng gầm gừ, la hét hay hú cùng một lúc? Tại sao chúng ta lại xúc động trước những đặc tính phức tạp của âm nhạc, nhưng âm sắc, hợp âm, v.v?

Dù sao thì Levitin đã ghi nhận được những điều sâu sắc về niềm khoái cảm đến từ âm nhạc mà các học giả khác đã bỏ qua. Đây là một bước tiến quan trọng. Nhiều ngôn ngữ dùng cùng một từ đơn cho hoạt động ca hát và nhảy múa, và khi người ta nghe nhạc mà đứng im hoàn toàn thì các bộ phận của vỏ não vận động và tiểu não — những phần của não liên quan đến việc di chuyển — vẫn hoạt động. Đây là lý do chúng ta hay lắc lư theo nhạc, một hoạt động mà trẻ con không chống lại được. Do đó, sẽ là một sai lầm mang tính khoa học khi phát triển một lý thuyết âm nhạc mà lại lấy những mẫu âm sắc đơn độc và tĩnh lặng làm hiện tượng trung tâm cần được giải thích. Điều này sẽ giống như thuyết về tình dục chỉ nghiên cứu tình dục qua điện thoại hay thuyết về sở thích ăn uống được xây dựng trên những người mất khứu giác.

Thật ra, có nhiều bằng chứng cho rằng khi bạn di chuyển nhịp nhàng với người khác, thì bạn sẽ thích họ hơn, bạn cảm thấy kết nối với họ nhiều hơn, và bạn sẽ hào phóng với họ hơn. Hát hò và nhảy nhót luôn là những hoạt động giúp xây dựng đội nhóm. Nhiều người trong chúng ta đã từng trải qua và quen thuộc với những cảm xúc khi đan tay vào nhau và nhảy trong một đám cưới người Do Thái, hoặc cảm xúc khi say sưa nói chuyện, hoặc uống rượu trong pub với những người bạn say xỉn. Người ta cũng có thể tạo ra cảm xúc này chỉ bằng cách ngồi nhìn người khác ca hát nhảy múa, như trong video Youtube nổi tiếng “Matt đâu rồi?” – trong video, một người Mỹ vui vẻ khiêu vũ với mọi người trên khắp thế giới. Hiệu ứng âm nhạc này có thể giải thích tại sao tôn giáo lại bao gồm nhiều hoạt động ca hát, nhảy múa như vậy: chúng làm tăng tình gắn bó với niềm tin của bạn hơn.

Tuyên bố rằng ca hát nhảy múa là đặc điểm thích nghi vì chúng giúp bạn kết nối với cộng đồng kéo theo một câu hỏi – rằng tại sao chúng ta lại cảm thấy gần gũi với những người cùng ca hát nhảy múa với chúng ta? Không ai biết câu trả lời. Có nhiều tài liệu về sự thích nghi, nhưng tôi tự hỏi rằng liệu đây có phải là một trục trặc của hệ thống không. Nếu tôi nhảy với người khác, họ di chuyển cùng với tôi, cơ thể họ di chuyển như các cách mà tôi cũng di chuyển cơ thể mình, điều này sẽ khiến tôi bối rối về việc phân biệt bản thân mình với họ.

CHO ĐẾN NAY, chúng ta đã nhìn nhận âm nhạc một cách chung chung. Chung chung và vô vọng. Loại nhạc ưa thích của một người thường được xác định bằng loại nhạc đang tồn tại xung quanh người đó – Bảng xếp hạng 40 bài hát hàng đầu Ấn Độ sẽ khác với bảng xếp hạng ở Mỹ. Ngay cả trong một quốc gia, mỗi cá nhân sẽ khác nhau. Trong chính gia đình của tôi, có những quan điểm trái ngược rõ rệt về nhạc thrasher, bluegrass, rock cổ điển và opera, và những chuyến đi xe dài đòi hỏi sự thương lượng cẩn thận về việc ai có quyền kiểm soát radio.

Chúng ta biết rằng có vài sở thích được hình thành rất sớm. Trong một thí nghiệm, người mẹ chơi vài đoạn nhạc (từ Vivaldi, hay các bài hát của Backstreet Boys, v.v) cho đứa trẻ trong bụng, và sau đó không chơi những đoạn nhạc này cho đến sinh nhật đầu tiên của đứa trẻ. Thí nghiệm cho thấy rằng những đứa trẻ một tuổi thích loại nhạc mà chúng được nghe trước khi chúng được sinh ra.

Người ta thường trải qua phần đời khi thức giấc của mình để nghe nhạc một cách thụ động. Như một giả thuyết rất đơn giản, bạn có thể cho rằng chúng ta có xu hướng thích loại âm nhạc mà chúng ta nghe nhiều nhất — một phiên bản của hiệu ứng “tiếp xúc thường xuyên” mà chúng ta đã nói trước đó về tình dục. Sự quen thuộc luôn tốt hơn. Tuy nhiên vấn đều là quá quen thì bất kỳ thứ gì cũng sẽ trở nên ngấy và hết vui. Khoái cảm đi theo sơ đồ của chữ U ngược ( ) – khi bạn trải nghiệm thứ gì đó lần đầu tiên, nó sẽ khó ngấm và không thích thú gì; trải qua việc đó thêm vài lần, thì nó dần trở nên dễ ngấm và tạo ra khoái cảm; sau đó nó sẽ trở nên quá dễ dàng, và do đó khiến bạn cảm thấy nhàm chán và thậm chí là bực mình. Khi thưởng thức đồ ăn, chúng ta thường cẩn trọng vào lúc đầu, sau đó thì ăn thường xuyên và thích nó, nhưng có rất ít người sẽ thích ăn một món nhất định cho bữa chính lặp đi lặp hàng hàng ngàn lần liên tục. Đối với âm nhạc, điểm cao nhất của sơ đồ chữ U ngược có thể kéo dài hơi lâu một chút, nhưng bất kỳ bài hát nào cũng sẽ khiến bạn hết chịu nổi khi phải nghe thường xuyên. Hình dạng sơ đồ sẽ kéo dãn hay thu hẹp lại tùy vào độ phức tạp của bài nhạc. Một bài nhạc phức tạp có thể mất nhiều thời gian để thích và sau đó nhiều thời gian hơn để chán, thường mấy bài như “Mary Had a Little Lamb” sẽ có sơ đồ ngắn và hẹp hơn nhiều.

 

MỘT YẾU TỐ khác quyết định việc bạn sẽ thích một bài hát hay một loại nhạc nào đó là độ tuổi của bạn khi nghe bài hát đó lần đầu tiên. Năm 1998, nhà khoa học thần kinh Robert Sapolsky đã làm một thí nghiệm không chính thức về điều này, ông liên hệ với đài truyền thanh để hỏi xem họ đã chơi bài hát nào vào thời nào và những thính giả của họ thường ở độ tuổi nào. Ông đã phát hiện ra rằng người ta thường muốn nghe đi nghe lại những bài hát mà họ đã nghe lần đầu khi họ 20 tuổi hoặc trẻ hơn. Nếu có bài hát nào đó phát hành sau khi bạn 25 tuổi, thì bạn sẽ ít thích nó hơn. Sapolsky đã kết luận “Không có nhiều thanh niên mười bảy tuổi thích nghe Andrew Sisters, trong cộng đồng người đã về hưu thì không hay mở bài hát Rage Against the Machine, và những fan cuồng nhiệt nhất của Sáu mươi phút không ngừng nghỉ của James Taylor đang bắt đầu mặc những cái quần jean rộng rãi thoải mái.”

Tại sao? Chúng ta có thể giải thích một cách đơn giản liên quan đến thần kinh cho điều này. Não của chúng ta thường lỏng lẻo và linh hoạt khi còn trẻ, sau đó bắt đầu cứng dần lên. Nhưng như Sapolsky đã chỉ ra, không phải là ở giai đoạn này, chúng ta mất đi là độ cởi mở với những trải nghiệm mới, mà là so những loại sở thích khác – như sở thích ăn uống, cái cửa sổ đón nhận những sở thích âm nhạc mới mẻ của chúng ta lại mở ra ở những giai đoạn cuộc đời khác.

Levitin có một ý tưởng hay hơn. Âm nhạc là xã hội, và sở thích âm nhạc khóa chặt với thời gian trong đời khi bạn kết nối bản thân với một nhóm xã hội nhất định – khi bạn quyết đi xem mình là người như thế nào. Điều này xảy ra muộn hơn ở xã hội Phương Tây hiện đại: vào độ tuổi hai mươi, khớp với phát hiện của Sapolsky. Thuyết xã hội này có thể giải thích nhiều điều khác, như là việc giới trẻ thường thích những bài hát mới nhất thay vì những bài đã tồn tại lâu. Điều này là bởi vì họ muốn kết nối với những người cùng thời, và, như nhà kinh tế học Tyler Cowen đã nói, “Vấn đề của nhạc cũ rất đơn giản. Ai đó đã thích nó rồi, và thường ai đó ở đây thường đã trở thành cha mẹ.”

>>>> (2)

0 nhận xét:

Đăng nhận xét