Thứ Tư, 27 tháng 7, 2022

How Pleasure Works - chương 4 (4)

 

CON NGƯỜI LÀ ĐẶC BIỆT

Con người là những cá thể đặc biệt liên quan đến việc bản chất hóa. Chẳng ai cảm thấy một hòn đá thì thú vị hơn một hòn khác nhìn giống y hệt nó nằm cạnh. Nhưng người ta sẽ cảm thấy như vậy với từng cá thể người. Một em bé sẽ vô cùng quan tâm đến việc người phụ nữ nào đó có phải là mẹ của em hay không, hay là ai đó chỉ giống với mẹ mình; bất kỳ người mẹ nào cũng sẽ có mối quan tâm cấp thiết đối với việc bé nào là con mình. Và, như đã bàn luận chi tiết trong chương trước, tất cả chúng ta đều xem trọng cá thể mà chúng ta có mối liên hệ tình cảm hay tình dục.

Trẻ em có đặc biệt nhạy cảm với sự riêng biệt của các cá nhân xã hội không? Câu hỏi này đã phần nào được trả lời bằng kết quả của các nghiên cứu mà tôi và Bruce Hood đang theo đuổi với cái máy nhân bản. Trong những nghiên cứu này, với trẻ em bốn tới sáu tuổi, chúng tôi nhân bản hamster. Những con hamster thuộc cùng một lứa và không phân biệt được bằng mắt thường (À, thực ra thì, trong số các nghiên cứu của chúng tôi, có một con hamster ăn rất nhiệt tình và phình ra lớn hơn phiên bản “nhân bản” của nó. Chúng tôi phải thay nó bằng con khác.)

Các nghiên cứu này vẫn đang được thực hiện, nhưng chúng tôi đã phần nào biết được rằng bọn trẻ thường bác bỏ quan điểm cho rằng bản sao thực sự là bản sao. Có nghĩa là, mặc dù trẻ thường đồng ý rằng chúng tôi đã nhân bản thành công cơ thể vật lý của chuột hamster, nhưng trẻ không phải lúc nào cũng sẵn sàng chấp nhận rằng chúng tôi đã nhân bản trạng thái tinh thần của con vật, bao gồm những gì nó thích và những gì nó biết. Chúng coi máy nhân bản như một máy sao chép cơ thể, và không nhất thiết là một máy sao chép tâm trí; bản sao là một cá nhân khác biệt.

Tại sao chỉ giới hạn nghiên cứu ở việc nhân bản những thứ này? Nếu ai đó tạo ra một cái máy nhân bản lớn hơn, dùng hai cái tủ thay cho hai cái hộp, thì một người có thể vào trong một cái tủ và sau đó (trốn ra phía sau màn) để bước ra từ cái tủ kia? Nếu bạn làm điều này với mẹ của đứa trẻ, thiết kế sao cho người đi ra khỏi tủ trở thành một bản sao, một người mẹ giả? Liệu đứa trẻ có co rúm người lại, lùi lại vì lo lắng né tránh người lạ, hét lên để tìm người mẹ thực sự trở về?

Vì lý do đạo đức mà chúng tôi không làm điều này trong thí nghiệm. Nhưng tác giả Adam Gopnik đã làm một phiên bản nhẹ hơn với con gái năm tuổi của ông – Olivia. Khi cô bé ra khỏi nhà, con cá Bluie của cô đã chết. Gopnik và vợ quyết định thay thế con cá bằng một con cá khác nhìn y hệt con Bluie. Nhưng cuối cùng, họ quyết định không nói dối con bé, ít nhất là không hoàn toàn nói dối, nên họ tạo ra một câu chuyện hứa hẹn – họ nói rằng Bluie đang ở bệnh viện, còn đây là anh của Bluie – thay thế tạm thời. Khi nhìn thấy vẻ ngoài giống nhau (và hành vi cũng giống nhau) của con cá, Olivia không vui.

“Con ghét con này,” cô bé nói. “Con ghét nó. Con muốn Bluie.”
Chúng tôi cố gắng an ủi con bé, nhưng không có tác dụng gì.
“Nhưng nhìn này, trông nó y chang Bluie mà!”
“Nó giống Bluie,” con bé nói, “Nó trông giống Bluie. Nhưng nó không phải là Bluie. Nó là người lạ. Nó không quen con. Nó không phải bạn con, con không nói chuyện với nó được.”

ĐỘI QUÂN TRONG NHỮNG ĐÁM MÂY

Chúng ta đã nói về những ví dụ trong đó điều khiến cho một cá thể trở nên đặc biệt là sự tiếp xúc – cụ thể là tiếp xúc thể xác – với các cá thể xã hội, như những người nổi tiếng hay những người chúng ta yêu, và các ví dụ mà trong đó, một món đồ trở nên đặc biệt vì bản thân chúng là những cá thể xã hội, động vật hay con người. Trong chương tiếp theo, chúng tôi sẽ nói về phương thức thứ ba khiến cho một thứ trở nên đặc biệt: bằng cách liên quan theo cách nào đó với sự điêu luyện của con người, và điều này sẽ đưa chúng ta tới thế giới nghệ thuật.

Trong những trường hợp khác, việc đánh giá một món đồ có tính chất khá thú vị và bất thường – những cá thể này không phải sinh vật xã hội (social being), nhưng chúng ta có khuynh hướng nghĩ về chúng như thể chúng chính là sinh vật xã hội. Chúng ta đều biết rằng con người có xu hướng nhân hóa mọi thứ, khiến những món đồ thấm nhuần những đặc tính con người. Năm 1757, David Hume đã viết về điều này: “Chúng ta nhìn thấy những khuôn mặt người trên mặt trăng, những đội quân trong các đám mây; và với khuynh hướng tự nhiên, nếu điều này không được điều chỉnh bằng kinh nghiệm và sự tự suy ngẫm, thì ác tâm và thiện chí sẽ chen vào mọi thứ và khiến chúng ta vui vẻ hoặc tổn thương.” Như một nhà khoa học nhận thức về tôn giáo đã nói, chúng ta có một "sự phì đại của trí thông minh xã hội."

Lý giải này khiến chúng ta hiểu hơn về việc tại sao một đứa trẻ gắn kết với các món đồ yêu thích của chúng như gấu teddy, chăn, hay những món đồ chơi mềm mại, sự gắn kết này đôi khi xuất hiện ở cả người lớn. Bác sĩ nhi khoa và nhà phân tích tâm lý Donald Winnicott đề xuất rằng trẻ em dùng những thứ này để thay thế cho mẹ của chúng (hoặc bộ ngực của mẹ chúng). Ông gọi chúng là “những vật thể chuyển tiếp” để thể hiện quan điểm rằng chúng là một trạm trung chuyển giữa sự gắn bó và sự độc lập. Điều này giải thích nhiều thứ, như lý do tại sao trẻ em lại gắn bó sâu sắc với chúng và tại sao những thứ này thường mềm mại và dễ ôm ấp; vì chúng giống như mẹ vậy. Nó cũng giải thích cho những khác biệt về văn hóa: trẻ em Nhật Bản ít gắn bó với những thứ như vậy hơn trẻ em ở Mỹ: vì trẻ em Nhật Bản thường ngủ cạnh mẹ vì thế ít cần vật thay thế hơn.

Nếu những đồ vật như vậy được coi là người thay thế, thì trẻ em sẽ gắn bó với chúng như những cá thể riêng biệt. Không có thứ gì khác có thể thay thế chúng. Thật vậy, đôi khi phụ huynh nói rằng con của họ cư xử theo đúng kiểu như vậy, không cho phép người lớn sửa chữa các đồ vật gắn bó của chúng và chùn bước trước lời đề nghị thay thế.

Bruce Hood và tôi đã sử dụng máy nhân bản để khám phá vấn đề này. Chúng tôi làm thí nghiệm với trẻ trên một món đồ gắn bó của chúng. Để được tính là một món đồ gắn bó thì cần phải đạt được một số tiêu chuẩn, bao gồm việc đứa trẻ đó phải thường xuyên ngủ chung với món đồ đó và phải sở hữu món đó ít nhất trong một phần ba cuộc đời của chúng. Phụ huynh đưa trẻ đến phòng thí nghiệm cùng với món đồ gắn bó của chúng. Để so sánh, chúng tôi cũng làm thí nghiệm một nhóm trẻ khác không có món đồ gắn bó; các phụ huynh trong trường hợp này chỉ cần đem theo một món đồ mà đứa trẻ thích, như những món đồ chơi nhỏ.

Những đứa trẻ vào khoảng ba đến sáu tuổi. Thí nghiệm rất đơn giản. Khi trẻ vào phòng thí nghiệm, chúng tôi giới thiệu với chúng máy nhân bản và mô tả cách nó hoạt động. Sau đó người thí nghiệm đề nghị rằng họ sẽ nhân bản món đồ của đứa trẻ. Nếu đứa bé đồng ý, thì người thí nghiệm sẽ đặt món đồ vào trong hộp, nhân bản nó lên, và (hai cái hộp đóng lại), hỏi đứa trẻ rằng nó muốn giữ món nào.

Khi đứa trẻ không có đồ vật gắn bó đặt đồ chơi vào cái hộp, đa số chọn món đồ nhân bản. Lúc này món đồ được nhân bản có vẻ thú vị hơn vì chúng được tạo ra bởi máy móc. Chúng sẽ thất vọng khi chúng tôi giải thích rằng đây chỉ là một trò ảo thuật và thật ra món đồ không có được nhân bản ra.

Còn những bé với các món đồ gắn bó thì hành xử hoàn toàn khác biệt. Một số từ chối, không cho người thí nghiệm đặt món đồ của chúng vào máy nhân bản. Còn những bé đồng ý, thì chúng đa phần thích món đồ nguyên bản của mình hơn.

Khi nghiên cứu này được công bố rộng rãi, Bruce đã nhận được một bức thư như sau:

Xin chào tiến sĩ Hood,

Mẹ tôi năm nay đã 86 tuổi, và bà vẫn dùng chiếc gối nhỏ từ lúc bà còn bé để ngủ vào mỗi đêm. Từ đó đến giờ chỉ duy nhất có một lần bà ngủ mà thiếu nó, và lý do là vì bà quên đem theo nó khi xuống hầm tránh bom trong một cuộc không kích. Bà ấy đã nhấn mạnh rằng khi bà mất, cái gối phải được chôn theo bà. Thậm chí nó còn có tên là Billy.

Tôi chắc rằng bà sẽ không đổi nó để lấy một bản sao đâu.

Không phải món đồ nào cũng có tính chất giống với Billy, đa số chúng thì không như vậy. Chúng ta sẵn sàng rời xa chúng hoặc thay thế chúng bằng các bản sao. Nhưng mọi thứ đều là sinh vật xã hội hoặc đều đã từng liên hệ với một sinh vật xã hội, và vì thế, ngay cả thứ tầm thường nhất cũng có câu chuyện của riêng nó. Đây chính là bản chất của nó. Và một vài thứ có tính chất như vậy – như Billy hay Bluie, hay cuộn băng dính nhà Kennedy, áo len của George Clooney hay dương vật của Napoleon, hay đôi giầy khi còn bé của con tôi – bản chất trong chúng là nguồn gốc đem lại khoái cảm to lớn cho chúng ta.

>>> Chương 5 (1)

0 nhận xét:

Đăng nhận xét