MA
THUẬT
Một cách giải thích khác là: người ta đánh giá cao những
món đồ bởi vì người ta có trực giác rằng những người khác cũng đánh giá cao món
đồ đó. Chẳng hạn như, chúng ta có thể trả hàng đống tiền để mua một cuộn thước
dây gia dụng của Kennedy, vì chúng ta mong chờ sau này sẽ có người khác mua nó
từ chúng ta với cái giá cao hơn, hoặc là người khác sẽ bị ấn tượng bởi vì chúng
ta sở hữu nó. Một lý giải khác là giá trị của những thứ này đến từ năng lực
khơi gợi ký ức của chúng. Chúng nhắc chúng ta nhớ về người mà chúng ta thích nhớ
về, và chúng ta vui vẻ bởi điều này.
Mặc dù cả hai yếu tố này đều có thể đóng một vai trò
nào đó, nhưng cả hai yếu tố này đều không đầy đủ. Người ta thường thích thú với
món đồ với ý riêng của họ, chứ không hẳn là để khoe khoang hay kiếm tiền từ nó.
Điều này đương nhiên đúng với những món đồ cá nhân mà chúng ta yêu quý, như đôi
giầy của bé con nhà bạn, thứ mà ngoài bạn ra không có ai khác yêu thích hay muốn
có. Và mặc dù điều này đúng với một số đồ vật nhất định tạo ra những liên tưởng
tích cực, nhưng nó không giải thích đầy đủ về khoái cảm mà chúng mang lại cho
chúng ta. Nếu tất cả những gì tôi muốn là một sự gợi nhớ về con trai tôi khi
còn nhỏ, thì những đôi giày tương tự cũng làm được và một video thú vị về thằng
bé sẽ còn tốt hơn nữa. Nếu ai đó muốn được nhắc về JFK, một tấm áp phích khổng
lồ sẽ thích hợp hơn. Hẳn là có điều gì đó khác đang diễn ra ở đây, một điều gì
đó liên quan đến mối liên hệ mà những đồ vật này đã có với những cá nhân đặc biệt.
Có lẽ điều gì đó ở đây chính là ma thuật. Nhà nhân chủng
học James Frazer, trong The Golden Bough, nói về một số niềm tin phổ quát nhất
định, một trong số đó là Phép thuật Truyền nhiễm, "dựa trên quan điểm rằng
những thứ đã từng dính liền với thì sẽ phải tồn tại cùng nhau mãi mãi về sau,
ngay cả khi hoàn toàn tách rời nhau." Frazer coi “tà thuật” như một ví dụ
về điều này: “người ta cho rằng có một sự tương đồng kỳ diệu giữa một người và
bất kỳ phần nào bị cắt đứt của người đó, như tóc hoặc móng tay; và bất cứ ai sở
hữu tóc hoặc móng tay của người đó, dù ở xa tới mức nào cũng có thể khiến cho
người đó chịu ảnh hưởng theo ý mình."
Lý thuyết này có thể lý giải sự yêu thích đối với một
số vật phẩm nhất định – thông qua sự tiếp xúc thân thể, chúng thấm nhuần bản chất
của một người. Vật phẩm trong trường hợp này không chỉ gợi nhớ đến người sở hữu
nó, mà còn chứa một vài khía cạnh nhất định của người đó.
Trường hợp rõ ràng nhất là các bộ phận cơ thể. Học giả
văn học Judith Pascoe ghi nhận khoái cảm mà nhiều nhà sưu tập có được khi sở hữu
những mẩu cơ thể của những người nổi tiếng. Ví dụ của cô ấy bao gồm dương vật
và ruột của Napoléon, tóc của Keat, và trái tim của Shelley – thứ được vợ của
ông giữ gìn và cuối cùng trở thành đối tượng của cuộc chiến giành quyền thừa hưởng
vô cùng lớn. Pascoe cho rằng trong thời kỳ Lãng mạn, mọi người tin rằng các đồ
vật, bao gồm cả các bộ phận cơ thể, “thấm nhuần tình cảm lâu dài của chủ nhân”.
Tôi đồng ý, nhưng tôi nghĩ rằng điều này không chỉ đúng ở thời kỳ Lãng mạn mà
còn luôn đúng ở mọi thời đại.
Cũng không nhất thiết phải là một mẩu cơ thể thực sự đến
từ người nào đó. Thứ gì đó có mối liên hệ mật thiết với người đó cũng vậy. Điều
này lý giải tại sao người ta có thể kiếm tiền từ việc đấu giá những món quần áo
mà những người nổi tiếng đã mặc. Nó cũng lý giải tại sao người ta mua những món
quần áo đó mà không quan tâm đến chất lượng của chúng. Một tổ chức từ thiện
chuyên bán loại quần áo cũ của người nổi tiếng này trước đây có tặng kèm dịch vụ
giặt sấy trước khi gửi đi – nhưng họ nhanh chóng bỏ dịch vụ này đi, vì người
mua không ai cần nó. Người ta muốn quần áo y hệt như lúc mà người nổi tiếng mặc
nó, bao gồm mồ hôi và v.v Họ không muốn những bản chất đó bị giặt sạch.
Trong một lchuỗi các thí nghiệm với đồng nghiệp của
tôi tại Yale, George Newman và nhà tâm lý học Gil Diesendruck, chúng tôi đã thử
nghiệm lý thuyết lây lan tích cực này theo cách có kiểm soát hơn. Trước tiên,
chúng tôi yêu cầu đối tượng nghĩ về một người còn sống nổi tiếng mà họ ngưỡng mộ.
(Các câu trả lời bao gồm Barack Obama và George Clooney.) Sau đó, chúng tôi hỏi
họ sẽ trả bao nhiêu cho một đồ vật cụ thể do người này sở hữu và sử dụng, chẳng
hạn như áo len. Trọng tâm chính của nghiên cứu này là phản ứng của mọi người đối
với các quy định và biến đổi nhất định. Một số đối tượng được thông báo rằng họ
bị cấm bán lại chiếc áo len hoặc nói với bất kỳ ai rằng họ sở hữu nó. Điều này
khiến giá giảm nhẹ, cho thấy lý do họ muốn chiếc áo len thực sự có liên quan đến
giá trị bán lại hoặc quyền khoe khoang. Các đối tượng khác được cho biết rằng
chiếc áo len đã được khử trùng kỹ lưỡng trước khi đến tay họ. Chúng tôi đã dự
đoán một hiệu ứng lớn hơn nhiều ở đây và chúng tôi đã nhận được kết quả như dự
đoán: giá đã giảm gần một phần ba so với số tiền họ sẵn sàng trả. Trong một
nghiên cứu khác, các đối tượng được cho biết rằng người nổi tiếng được tặng món
đồ này nhưng chưa bao giờ thực sự mặc nó — một lần nữa, điều này khiến chiếc áo
len kém hấp dẫn hơn; mọi người sẽ trả ít tiền hơn cho nó. Do đó, một phần giá
trị của đồ vật được người nổi tiếng chạm vào là ý niệm ngầm rằng nó có dấu tích
của người nổi tiếng trên đó. Phát hiện này phù hợp với các nghiên cứu khác cho
thấy rằng mọi người có nhiều khả năng mua một sản phẩm hơn nếu nó vừa được chạm
vào bởi một người có sức hấp dẫn cao.
Chúng tôi cũng hỏi họ rằng họ vui thích như thế nào nếu
được mặc chiếc áo len này. Kết quả là: những người được yêu cầu không được phép
bán lại và khoe khoang về nó thì không ảnh hưởng gì. Nhưng – như đã dự đoán –
biết rằng chiếc áo đã được khử trùng hay chưa từng được mặc bởi người nổi tiếng
đã làm giảm đáng kể khoái cảm mà một người có được khi được mặc nó.
Các cuộc thảo luận cho đến nay chỉ tập trung vào mối
liên hệ tích cực. Nhưng có một hiện tượng tương ứng là việc tiếp xúc với một
người bị chán ghét có thể khiến giá trị của một vật giảm xuống. Nhà tâm lý học
Bruce Hood bắt đầu cuốn sách hấp dẫn SuperSense của mình bằng cách mô tả cách hội
đồng thành phố Gloucester, Anh, ra lệnh phá hủy ngôi nhà của Fred và Rosemary
West. Đây là ngôi nhà nơi chúng hãm hiếp, tra tấn và giết nhiều cô gái trẻ,
chôn họ dưới tầng hầm và trong vườn. Hội đồng thành phố đã quyết định là gỡ bỏ
những viên gạch, nghiền chúng thành bụi và rải chúng ở một bãi rác bí mật. Tình
huống tương tự cũng xảy ra với căn hộ nơi Jeffrey Dahmer sống; nó bây giờ là một
bãi đậu xe. Ở một số vùng của Hoa Kỳ, luật tiết lộ buộc các nhà môi giới phải
nêu rõ liệu họ có đang bán một “ngôi nhà bị kỳ thị” hay không. Hiệu ứng này
cũng xuất hiện ở các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm của nhà tâm lý học Paul
Rozin và các đồng nghiệp của ông, phát hiện ra rằng mọi người đều cảm thấy miễn
cưỡng khi phải mặc áo len của Adolf Hitler.
Tuy nhiên, điều thú vị là cũng có một số người đam mê
những đồ vật tiêu cực. Có một số người sẽ bị phấn khích trước việc được sống
trong căn hộ mà Jeffrey Dahmer từng ở, mặc áo len của Hitler hoặc sở hữu một
viên gạch từ căn nhà của West. (Đây có lẽ là lý do tại sao hội đồng Gloucester
cố gắng che giấu tàn tích của những viên gạch này.) Những món đồ như tóc của
Charles Manson, tranh của John Wayne Gacy và các tác phẩm cá nhân của Saddam
Hussein thường được bán tại các cuộc đấu giá “đặc biệt”, đôi khi thu về hàng chục
nghìn đô la mỗi món.
Tuy nhiên, đây là sở thích của thiểu số. Chúng tôi đã
thực hiện một biến thể của nghiên cứu Clooney / Obama, lần này hỏi mọi người rằng
họ sẽ trả bao nhiêu cho một chiếc áo len từ một người bị căm ghét. Nhiều người
không muốn trả tiền và nói rằng họ sẽ không thấy vui khi mặc nó. Những người muốn
món đồ đó không quan tâm đến việc khử trùng, nhưng nếu họ được thông báo rằng họ
không thể bán lại, thì số tiền họ sẽ trả sẽ giảm mạnh. Điều này cho thấy rằng đối
tượng thí nghiệm của chúng tôi coi trọng những đồ vật bị căm ghét này phần lớn
bởi vì họ nghĩ rằng người khác sẽ muốn chúng.
SỰ
HAM THÍCH ĐỐI VỚI LỊCH SỬ
Liệu trẻ con có đánh giá đồ vật dựa trên lịch sử của
chúng hay không? Để làm được điều đó, chúng cần phải có khả năng nghĩ về các đồ
vật như những cá thể riêng biệt. Đây không phải là chuyện đơn giản. So với việc
phản ứng với các thuộc tính sẵn có của đồ vật, thì khái niệm về lịch sử của một
món đồ phức tạp hơn nhiều. Chọn lọc tự nhiên có thể dễ dàng khiến não của loài
bướm đêm bị thu hút bởi ánh sáng, hay là não của loài chó phản ứng với một số
mùi nhất định, hoặc thậm chí não của một em bé thích một khuôn mặt xinh đẹp hơn
là khuôn mặt xấu xí. Bất kỳ mạng lưới nơ-ron đơn giản nào cũng có thể tổng quát
hóa, phản hồi theo những cách tương quan với các kích thích khác nhau. Loại cảm
quan này đơn giản đến mức nó thậm chí không cần đến bộ não; thậm chí các kháng
thể còn có thể phát hiện ra các chủng loại và nhạy cảm với bất kỳ kháng nguyên
nào sở hữu một số đặc tính cụ thể nào đó.
Một số học giả cho rằng não chỉ là một cỗ máy tổng hợp
thông tin. Chúng ta lý giải các đồ vật trong thế giới này bằng cách cộng hưởng
với các thuộc tính mà các đối tượng này sở hữu. Nhà triết học George Berkeley đã
tổng kết một cách độc đáo quan điểm này vào năm 1713: “Hãy lấy đi cảm giác mềm
mại, ẩm ướt, màu đỏ, vị chua và thế là bạn đã lấy đi quả anh đào. Vì nó không
phải là một thực thể tách biệt khỏi các cảm giác; tôi cho là, quả anh đào không
là gì khác ngoài sự kết tụ của những ấn tượng hay ý tưởng cảm quan được cảm nhận
bằng nhiều giác quan khác nhau ”.
Nhưng Berkeley đã sai. Chúng ta không bị giới hạn
trong việc phản ứng với các tính chất của quả anh đào; chúng ta còn có thể nghĩ
về quả anh đào như một cá thể riêng biệt. Bạn có thể dễ dàng tưởng tượng ra một
cặp quả anh đào nằm trong hộp, mỗi trái đều mềm mại, ẩm ướt, đỏ tươi và chua ngọt,
nhưng bạn biết rằng có 2 trái, chứ không phải một trái. Và điều này là vì chúng
ta đơn giản là nhạy cảm với sự khác biệt của các tính chất – bất kỳ ai cũng có
thể phân biệt một trái anh đào nhỏ với những trái lớn hơn. Bạn có thể dễ dàng
theo dấu một cá thể ngay cả khi tính chất của chúng không ổn định, như khi một
con sâu róm trở thành con bướm, hay một con cóc trở thành hoàng tử, khi những
người tốt ở Metropolis nhìn lên bầu trời và thấy một hình dạng mơ hồ nào đó và
nói: "Đó là một con chim, đó là một chiếc máy bay ... đó là Siêu
nhân!" Và nếu ai đó cầm lấy trái anh đào, sơn nó thành màu xanh lá cây,
bơm muối vào, rồi đông lạnh nó, thì nó sẽ không còn một tính chất nào mà
Berkeley đã liệt kê, nhưng nó không biến
mất, cá thể tồn tại ngay cả khi những tính chất của nó thay đổi.
Ngay cả trẻ con cũng nghĩ trên phương diện các cá thể.
Nhà tâm lý học Karen Wynn đã mô tả điều này trong một nghiên cứu tinh tế về trẻ
sáu tháng tuổi. Người thực hiện thí nghiệm cho một đứa bé một con búp bê chuột
Mickey và để nó phía sau màn hình, không nhìn thấy được. Sau đó cô ấy lấy ra một
con chuột Mickey khác, y hệt con cũ, rồi cũng đặt phía sau màn hình. Sau nó kéo
màn hình xuống. Các em bé đã nghĩ là chúng sẽ nhìn thấy hai con; chúng nhìn lâu
hơn, thể hiện sự ngạc nhiên, nếu chỉ một hay ba con xuất hiện. Điều này là ví dụ
điển hình cho bằng chứng về việc các em bé biết tính toán (chúng biết 1+1=2),
nhưng nó cũng cho chúng ta biết về một thứ khác: rằng các em bé biết theo dấu
các cá thể riêng biệt.
Khả năng lý giải dựa trên từng cá thể được thể hiện
trong ngôn ngữ của trẻ em ở sinh nhật đầu tiên của chúng. Những từ đầu tiên thường
bao gồm các đại từ như “cái này” và “cái kia” – dùng để chọn ra những cá thể
riêng biệt trong môi trường. Điều này đúng với mọi loại ngôn ngữ mà trẻ em học
trên khắp thế giới, bao gồm tiếng Trung, tiếng Đan Mạch, tiếng Phần Lan, tiếng
Pháp, tiếng Do Thái, tiếng Ý, tiếng Nhật, tiếng Hàn, tiếng Quechua, tiếng
Samoan và tiếng Thụy Điển. Một số trẻ tạo ra đại từ của riêng mình để chỉ các đồ
vật xung quanh chúng. Vào khoảng 12 tháng tuổi, con trai tôi, Max sẽ chỉ tay và
nói, với ngữ điệu tăng lên, "Doh?" Thằng bé không nhất thiết là muốn
chúng tôi làm cái gì với những thứ mà nó đang chỉ điểm; nó chỉ muốn cho chúng
tôi xem.
SUY NGHĨ VỀ đồ vật dưới góc độ cá thể chính là thuyết
bản chất, nhưng như vậy cũng không đủ. Trẻ con thường có thể phân biệt giữa thứ
này với thứ khác, nhận ra rằng hai vật thể dù có sở hữu những tính chất giống
nhau thì vẫn là hai thứ khác nhau, nhưng điều này không có nghĩa là chúng tin rằng
các đồ vật có tính chất bản chất hoặc chúng nghĩ rằng giá trị của một món đồ có
thể bị ảnh hưởng bởi lịch sử của nó.
Để khám phá vấn đề này, tôi đã thực hiện một loạt các
nghiên cứu hợp tác với Bruce Hood. Những nghiên cứu này, chúng tôi cần một cái
máy nhân bản – một thứ có thể tạo ra bản sao y hệt những thứ trong thế giới thật.
Hãy tưởng tượng những điều mà người ta có thể làm với
một cái máy như vậy. Người ta sẽ trở nên giàu có, khi nhân bản vàng, kim cương,
đá quý và những vật có giá trị cao như đồng hồ hay laptop. Nhưng những thứ nhân
bản sẽ không có giá trị nhiều như bản gốc. Nếu bạn sao chép các tờ tiền giấy,
thì bạn sẽ bị cám dỗ sử dụng mớ tiền giả đó, và vì lịch sử rất quan trọng trong
hệ thống pháp luật: hàng giả được định nghĩa là những món đồ không rõ nguồn gốc
xuất xứ - bạn có thể sẽ phải đi tù một thời gian dài. Bạn có thể đưa một bức
tranh của Picasso vào cái máy nhân bản này, hay nhẫn cưới củ bạn, hay chữ ký của
Tupac, nhưng bạn phải giữ riêng các vật phẩm này, vì chúng có giá trị thấp hơn
những món đồ thật rất nhiều. Nhân bản con hamster, chó, hay con của bạn, sẽ kéo
theo hệ lụy đặc biệt về đạo đức và tình cảm.
Chúng tôi bắt đầu với những thí nghiệm nhỏ, để xem liệu
trẻ con có đánh giá cao như người lớn đối với những thứ đã từng thuộc về người
nổi tiếng hay không. Vì nhiệm vụ này khá phức tạp, chúng tôi đã kiểm tra trên
những đứa trẻ lớn hơn – tầm sáu tuổi. Ngay cả với nhóm tuổi này, chúng tôi đã lập
tức gặp vấn đề - chúng không biết người nổi tiếng nào cả. (Trừ Harry Potter –
nhưng chúng tôi muốn dùng người thật.) Vấn đều này được giải quyết khi Nữ Hoàng
Elizabeth II đến thăm Bristol, Anh, nơi mà chúng tôi đang chạy thử thí nghiệm
này. Chúng tôi bắt đầu các thí nghiệm cho trẻ ngay sau chuyến viếng thăm đó.
Việc không có máy nhân bản ba chiều cũng không phải là
một vấn đề nghiêm trọng. Bruce Hood là một ảo thuật gia nghiệp dư, và anh ấy dễ
dàng tạo ra một thiết lập với hai chiếc hộp phía trước tấm màn, như được hiển
thị ở trang đối diện.
[Hình ảnh] 46%
Để chứng minh rằng chiếc máy này hoạt động, ban đầu
các hộp được mở ra. Một khối gỗ màu xanh lá cây được đặt trong một hộp, sau đó
cả hai cánh cửa hộp đều được đóng lại. Người làm thí nghiệm điều chỉnh một số
nút điều khiển và sau đó kích hoạt bộ rung. Sau vài giây, bộ rung trên hộp thứ
hai được kích hoạt và người làm thí nghiệm mở cả hai cánh cửa để lộ ra một khối
màu xanh lá cây trong mỗi hộp (khối "bản sao" được người thử nghiệm
nhét vào từ phía sau).
Khi chúng tôi cho trẻ em xem những cái mày này, không
đứa nào nghĩ đây là trò lừa. Điều này phù hợp với các nghiên cứu đã chỉ ra rằng
trẻ em hoàn toàn tin tưởng vào những cỗ máy khác thường. Chúng không có lý do
gì để hoài nghi. Chúng sống trong một thế giới với những chiếc hộp bay khổng lồ,
những chùm tia laze cắt kim loại, những chiếc máy tính biết nói, v.v. Và chúng
ta vốn dĩ đã có sẵn những chiếc máy nhân bản hai chiều thô sơ – máy photocopy,
bạn có thể lấy chữ viết tay của Micheal Jordan bỏ vào máy, nhấn nút, và sẽ có một
bản sao y hệt, không phân biệt nổi với bản gốc. Vậy thì một cái máy photocopy
ba chiều có gì lạ đâu? Đối với các bé trong thí nghiệm thì không. Khi được hỏi
xem chúng đang nhìn thấy gì, thì tất cả các bé đều trả lời là cái máy đã nhân bản
khối gỗ.
Chúng tôi đã dạy trẻ cách tính toán giá trị, bằng cách
đưa cho chúng 10 khối gỗ nhỏ, và dạy chúng chia nhiều khối hơn cho những thứ
chúng thấy có giá trị hơn. Ví dụ, giữa một món đồ chơi thú vị và một cục đá,
thì chúng đều đồng ý rằng đồ chơi có giá trị hơn, nên chia cho món đồ chơi nhiều
khối gỗ hơn.
Sau đó các bé được xem cảnh một cái cốc kim loại, hoặc
một cái muỗng kim loại được đặt vào máy. Người thí nghiệm cho trẻ biết rằng cái
muỗng này đặc biệt vì nó đã từng thuộc về Nữ Hoàng Elizabeth II. Sau khi “nhân
bản”, cửa hộp được mở ra để chúng nhìn thấy hai món đồ giống y hệt nhau trong từng
hộp. Các bé được yêu cầu đánh giá giá trị của từng món đồ. Một trường hợp khác,
chúng tôi nói cho đứa trẻ biết rằng món đồ có giá trị vì chúng được làm bằng bạc;
chứ không đề cập đến nữ hoàng.
Như đã dự đoán, món đồ từng được sở hữu bởi Nữ Hoàng
có xu hướng được nhiều khối gỗ hơn là món được nhân bản. Trẻ em biết sự tiếp
xúc này đã mang lại giá trị cho đồ vật – loại giá trị mà món hàng nhân bản
không có. Hiệu ứng này không xuất hiện ở trường hợp kia – một món đồ đặc biệt
vì chúng làm bằng bạc không có khác biệt gì về giá trị với bản sao cũng làm bằng
bạc của nó. Nguyên liệu có thể được nhân bản; lịch sử thì không.
0 nhận xét:
Đăng nhận xét