Thứ Tư, 27 tháng 7, 2022

How Pleasure Works - chương 4 (3)

 

MA THUẬT

Một cách giải thích khác là: người ta đánh giá cao những món đồ bởi vì người ta có trực giác rằng những người khác cũng đánh giá cao món đồ đó. Chẳng hạn như, chúng ta có thể trả hàng đống tiền để mua một cuộn thước dây gia dụng của Kennedy, vì chúng ta mong chờ sau này sẽ có người khác mua nó từ chúng ta với cái giá cao hơn, hoặc là người khác sẽ bị ấn tượng bởi vì chúng ta sở hữu nó. Một lý giải khác là giá trị của những thứ này đến từ năng lực khơi gợi ký ức của chúng. Chúng nhắc chúng ta nhớ về người mà chúng ta thích nhớ về, và chúng ta vui vẻ bởi điều này.

Mặc dù cả hai yếu tố này đều có thể đóng một vai trò nào đó, nhưng cả hai yếu tố này đều không đầy đủ. Người ta thường thích thú với món đồ với ý riêng của họ, chứ không hẳn là để khoe khoang hay kiếm tiền từ nó. Điều này đương nhiên đúng với những món đồ cá nhân mà chúng ta yêu quý, như đôi giầy của bé con nhà bạn, thứ mà ngoài bạn ra không có ai khác yêu thích hay muốn có. Và mặc dù điều này đúng với một số đồ vật nhất định tạo ra những liên tưởng tích cực, nhưng nó không giải thích đầy đủ về khoái cảm mà chúng mang lại cho chúng ta. Nếu tất cả những gì tôi muốn là một sự gợi nhớ về con trai tôi khi còn nhỏ, thì những đôi giày tương tự cũng làm được và một video thú vị về thằng bé sẽ còn tốt hơn nữa. Nếu ai đó muốn được nhắc về JFK, một tấm áp phích khổng lồ sẽ thích hợp hơn. Hẳn là có điều gì đó khác đang diễn ra ở đây, một điều gì đó liên quan đến mối liên hệ mà những đồ vật này đã có với những cá nhân đặc biệt.

Có lẽ điều gì đó ở đây chính là ma thuật. Nhà nhân chủng học James Frazer, trong The Golden Bough, nói về một số niềm tin phổ quát nhất định, một trong số đó là Phép thuật Truyền nhiễm, "dựa trên quan điểm rằng những thứ đã từng dính liền với thì sẽ phải tồn tại cùng nhau mãi mãi về sau, ngay cả khi hoàn toàn tách rời nhau." Frazer coi “tà thuật” như một ví dụ về điều này: “người ta cho rằng có một sự tương đồng kỳ diệu giữa một người và bất kỳ phần nào bị cắt đứt của người đó, như tóc hoặc móng tay; và bất cứ ai sở hữu tóc hoặc móng tay của người đó, dù ở xa tới mức nào cũng có thể khiến cho người đó chịu ảnh hưởng theo ý mình."

Lý thuyết này có thể lý giải sự yêu thích đối với một số vật phẩm nhất định – thông qua sự tiếp xúc thân thể, chúng thấm nhuần bản chất của một người. Vật phẩm trong trường hợp này không chỉ gợi nhớ đến người sở hữu nó, mà còn chứa một vài khía cạnh nhất định của người đó.

Trường hợp rõ ràng nhất là các bộ phận cơ thể. Học giả văn học Judith Pascoe ghi nhận khoái cảm mà nhiều nhà sưu tập có được khi sở hữu những mẩu cơ thể của những người nổi tiếng. Ví dụ của cô ấy bao gồm dương vật và ruột của Napoléon, tóc của Keat, và trái tim của Shelley – thứ được vợ của ông giữ gìn và cuối cùng trở thành đối tượng của cuộc chiến giành quyền thừa hưởng vô cùng lớn. Pascoe cho rằng trong thời kỳ Lãng mạn, mọi người tin rằng các đồ vật, bao gồm cả các bộ phận cơ thể, “thấm nhuần tình cảm lâu dài của chủ nhân”. Tôi đồng ý, nhưng tôi nghĩ rằng điều này không chỉ đúng ở thời kỳ Lãng mạn mà còn luôn đúng ở mọi thời đại.

Cũng không nhất thiết phải là một mẩu cơ thể thực sự đến từ người nào đó. Thứ gì đó có mối liên hệ mật thiết với người đó cũng vậy. Điều này lý giải tại sao người ta có thể kiếm tiền từ việc đấu giá những món quần áo mà những người nổi tiếng đã mặc. Nó cũng lý giải tại sao người ta mua những món quần áo đó mà không quan tâm đến chất lượng của chúng. Một tổ chức từ thiện chuyên bán loại quần áo cũ của người nổi tiếng này trước đây có tặng kèm dịch vụ giặt sấy trước khi gửi đi – nhưng họ nhanh chóng bỏ dịch vụ này đi, vì người mua không ai cần nó. Người ta muốn quần áo y hệt như lúc mà người nổi tiếng mặc nó, bao gồm mồ hôi và v.v Họ không muốn những bản chất đó bị giặt sạch.

Trong một lchuỗi các thí nghiệm với đồng nghiệp của tôi tại Yale, George Newman và nhà tâm lý học Gil Diesendruck, chúng tôi đã thử nghiệm lý thuyết lây lan tích cực này theo cách có kiểm soát hơn. Trước tiên, chúng tôi yêu cầu đối tượng nghĩ về một người còn sống nổi tiếng mà họ ngưỡng mộ. (Các câu trả lời bao gồm Barack Obama và George Clooney.) Sau đó, chúng tôi hỏi họ sẽ trả bao nhiêu cho một đồ vật cụ thể do người này sở hữu và sử dụng, chẳng hạn như áo len. Trọng tâm chính của nghiên cứu này là phản ứng của mọi người đối với các quy định và biến đổi nhất định. Một số đối tượng được thông báo rằng họ bị cấm bán lại chiếc áo len hoặc nói với bất kỳ ai rằng họ sở hữu nó. Điều này khiến giá giảm nhẹ, cho thấy lý do họ muốn chiếc áo len thực sự có liên quan đến giá trị bán lại hoặc quyền khoe khoang. Các đối tượng khác được cho biết rằng chiếc áo len đã được khử trùng kỹ lưỡng trước khi đến tay họ. Chúng tôi đã dự đoán một hiệu ứng lớn hơn nhiều ở đây và chúng tôi đã nhận được kết quả như dự đoán: giá đã giảm gần một phần ba so với số tiền họ sẵn sàng trả. Trong một nghiên cứu khác, các đối tượng được cho biết rằng người nổi tiếng được tặng món đồ này nhưng chưa bao giờ thực sự mặc nó — một lần nữa, điều này khiến chiếc áo len kém hấp dẫn hơn; mọi người sẽ trả ít tiền hơn cho nó. Do đó, một phần giá trị của đồ vật được người nổi tiếng chạm vào là ý niệm ngầm rằng nó có dấu tích của người nổi tiếng trên đó. Phát hiện này phù hợp với các nghiên cứu khác cho thấy rằng mọi người có nhiều khả năng mua một sản phẩm hơn nếu nó vừa được chạm vào bởi một người có sức hấp dẫn cao.

Chúng tôi cũng hỏi họ rằng họ vui thích như thế nào nếu được mặc chiếc áo len này. Kết quả là: những người được yêu cầu không được phép bán lại và khoe khoang về nó thì không ảnh hưởng gì. Nhưng – như đã dự đoán – biết rằng chiếc áo đã được khử trùng hay chưa từng được mặc bởi người nổi tiếng đã làm giảm đáng kể khoái cảm mà một người có được khi được mặc nó.

Các cuộc thảo luận cho đến nay chỉ tập trung vào mối liên hệ tích cực. Nhưng có một hiện tượng tương ứng là việc tiếp xúc với một người bị chán ghét có thể khiến giá trị của một vật giảm xuống. Nhà tâm lý học Bruce Hood bắt đầu cuốn sách hấp dẫn SuperSense của mình bằng cách mô tả cách hội đồng thành phố Gloucester, Anh, ra lệnh phá hủy ngôi nhà của Fred và Rosemary West. Đây là ngôi nhà nơi chúng hãm hiếp, tra tấn và giết nhiều cô gái trẻ, chôn họ dưới tầng hầm và trong vườn. Hội đồng thành phố đã quyết định là gỡ bỏ những viên gạch, nghiền chúng thành bụi và rải chúng ở một bãi rác bí mật. Tình huống tương tự cũng xảy ra với căn hộ nơi Jeffrey Dahmer sống; nó bây giờ là một bãi đậu xe. Ở một số vùng của Hoa Kỳ, luật tiết lộ buộc các nhà môi giới phải nêu rõ liệu họ có đang bán một “ngôi nhà bị kỳ thị” hay không. Hiệu ứng này cũng xuất hiện ở các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm của nhà tâm lý học Paul Rozin và các đồng nghiệp của ông, phát hiện ra rằng mọi người đều cảm thấy miễn cưỡng khi phải mặc áo len của Adolf Hitler.

Tuy nhiên, điều thú vị là cũng có một số người đam mê những đồ vật tiêu cực. Có một số người sẽ bị phấn khích trước việc được sống trong căn hộ mà Jeffrey Dahmer từng ở, mặc áo len của Hitler hoặc sở hữu một viên gạch từ căn nhà của West. (Đây có lẽ là lý do tại sao hội đồng Gloucester cố gắng che giấu tàn tích của những viên gạch này.) Những món đồ như tóc của Charles Manson, tranh của John Wayne Gacy và các tác phẩm cá nhân của Saddam Hussein thường được bán tại các cuộc đấu giá “đặc biệt”, đôi khi thu về hàng chục nghìn đô la mỗi món.

Tuy nhiên, đây là sở thích của thiểu số. Chúng tôi đã thực hiện một biến thể của nghiên cứu Clooney / Obama, lần này hỏi mọi người rằng họ sẽ trả bao nhiêu cho một chiếc áo len từ một người bị căm ghét. Nhiều người không muốn trả tiền và nói rằng họ sẽ không thấy vui khi mặc nó. Những người muốn món đồ đó không quan tâm đến việc khử trùng, nhưng nếu họ được thông báo rằng họ không thể bán lại, thì số tiền họ sẽ trả sẽ giảm mạnh. Điều này cho thấy rằng đối tượng thí nghiệm của chúng tôi coi trọng những đồ vật bị căm ghét này phần lớn bởi vì họ nghĩ rằng người khác sẽ muốn chúng.

SỰ HAM THÍCH ĐỐI VỚI LỊCH SỬ

Liệu trẻ con có đánh giá đồ vật dựa trên lịch sử của chúng hay không? Để làm được điều đó, chúng cần phải có khả năng nghĩ về các đồ vật như những cá thể riêng biệt. Đây không phải là chuyện đơn giản. So với việc phản ứng với các thuộc tính sẵn có của đồ vật, thì khái niệm về lịch sử của một món đồ phức tạp hơn nhiều. Chọn lọc tự nhiên có thể dễ dàng khiến não của loài bướm đêm bị thu hút bởi ánh sáng, hay là não của loài chó phản ứng với một số mùi nhất định, hoặc thậm chí não của một em bé thích một khuôn mặt xinh đẹp hơn là khuôn mặt xấu xí. Bất kỳ mạng lưới nơ-ron đơn giản nào cũng có thể tổng quát hóa, phản hồi theo những cách tương quan với các kích thích khác nhau. Loại cảm quan này đơn giản đến mức nó thậm chí không cần đến bộ não; thậm chí các kháng thể còn có thể phát hiện ra các chủng loại và nhạy cảm với bất kỳ kháng nguyên nào sở hữu một số đặc tính cụ thể nào đó.

Một số học giả cho rằng não chỉ là một cỗ máy tổng hợp thông tin. Chúng ta lý giải các đồ vật trong thế giới này bằng cách cộng hưởng với các thuộc tính mà các đối tượng này sở hữu. Nhà triết học George Berkeley đã tổng kết một cách độc đáo quan điểm này vào năm 1713: “Hãy lấy đi cảm giác mềm mại, ẩm ướt, màu đỏ, vị chua và thế là bạn đã lấy đi quả anh đào. Vì nó không phải là một thực thể tách biệt khỏi các cảm giác; tôi cho là, quả anh đào không là gì khác ngoài sự kết tụ của những ấn tượng hay ý tưởng cảm quan được cảm nhận bằng nhiều giác quan khác nhau ”.

Nhưng Berkeley đã sai. Chúng ta không bị giới hạn trong việc phản ứng với các tính chất của quả anh đào; chúng ta còn có thể nghĩ về quả anh đào như một cá thể riêng biệt. Bạn có thể dễ dàng tưởng tượng ra một cặp quả anh đào nằm trong hộp, mỗi trái đều mềm mại, ẩm ướt, đỏ tươi và chua ngọt, nhưng bạn biết rằng có 2 trái, chứ không phải một trái. Và điều này là vì chúng ta đơn giản là nhạy cảm với sự khác biệt của các tính chất – bất kỳ ai cũng có thể phân biệt một trái anh đào nhỏ với những trái lớn hơn. Bạn có thể dễ dàng theo dấu một cá thể ngay cả khi tính chất của chúng không ổn định, như khi một con sâu róm trở thành con bướm, hay một con cóc trở thành hoàng tử, khi những người tốt ở Metropolis nhìn lên bầu trời và thấy một hình dạng mơ hồ nào đó và nói: "Đó là một con chim, đó là một chiếc máy bay ... đó là Siêu nhân!" Và nếu ai đó cầm lấy trái anh đào, sơn nó thành màu xanh lá cây, bơm muối vào, rồi đông lạnh nó, thì nó sẽ không còn một tính chất nào mà Berkeley đã liệt kê, nhưng nó không biến mất, cá thể tồn tại ngay cả khi những tính chất của nó thay đổi.

Ngay cả trẻ con cũng nghĩ trên phương diện các cá thể. Nhà tâm lý học Karen Wynn đã mô tả điều này trong một nghiên cứu tinh tế về trẻ sáu tháng tuổi. Người thực hiện thí nghiệm cho một đứa bé một con búp bê chuột Mickey và để nó phía sau màn hình, không nhìn thấy được. Sau đó cô ấy lấy ra một con chuột Mickey khác, y hệt con cũ, rồi cũng đặt phía sau màn hình. Sau nó kéo màn hình xuống. Các em bé đã nghĩ là chúng sẽ nhìn thấy hai con; chúng nhìn lâu hơn, thể hiện sự ngạc nhiên, nếu chỉ một hay ba con xuất hiện. Điều này là ví dụ điển hình cho bằng chứng về việc các em bé biết tính toán (chúng biết 1+1=2), nhưng nó cũng cho chúng ta biết về một thứ khác: rằng các em bé biết theo dấu các cá thể riêng biệt.

Khả năng lý giải dựa trên từng cá thể được thể hiện trong ngôn ngữ của trẻ em ở sinh nhật đầu tiên của chúng. Những từ đầu tiên thường bao gồm các đại từ như “cái này” và “cái kia” – dùng để chọn ra những cá thể riêng biệt trong môi trường. Điều này đúng với mọi loại ngôn ngữ mà trẻ em học trên khắp thế giới, bao gồm tiếng Trung, tiếng Đan Mạch, tiếng Phần Lan, tiếng Pháp, tiếng Do Thái, tiếng Ý, tiếng Nhật, tiếng Hàn, tiếng Quechua, tiếng Samoan và tiếng Thụy Điển. Một số trẻ tạo ra đại từ của riêng mình để chỉ các đồ vật xung quanh chúng. Vào khoảng 12 tháng tuổi, con trai tôi, Max sẽ chỉ tay và nói, với ngữ điệu tăng lên, "Doh?" Thằng bé không nhất thiết là muốn chúng tôi làm cái gì với những thứ mà nó đang chỉ điểm; nó chỉ muốn cho chúng tôi xem.

SUY NGHĨ VỀ đồ vật dưới góc độ cá thể chính là thuyết bản chất, nhưng như vậy cũng không đủ. Trẻ con thường có thể phân biệt giữa thứ này với thứ khác, nhận ra rằng hai vật thể dù có sở hữu những tính chất giống nhau thì vẫn là hai thứ khác nhau, nhưng điều này không có nghĩa là chúng tin rằng các đồ vật có tính chất bản chất hoặc chúng nghĩ rằng giá trị của một món đồ có thể bị ảnh hưởng bởi lịch sử của nó.

Để khám phá vấn đề này, tôi đã thực hiện một loạt các nghiên cứu hợp tác với Bruce Hood. Những nghiên cứu này, chúng tôi cần một cái máy nhân bản – một thứ có thể tạo ra bản sao y hệt những thứ trong thế giới thật.

Hãy tưởng tượng những điều mà người ta có thể làm với một cái máy như vậy. Người ta sẽ trở nên giàu có, khi nhân bản vàng, kim cương, đá quý và những vật có giá trị cao như đồng hồ hay laptop. Nhưng những thứ nhân bản sẽ không có giá trị nhiều như bản gốc. Nếu bạn sao chép các tờ tiền giấy, thì bạn sẽ bị cám dỗ sử dụng mớ tiền giả đó, và vì lịch sử rất quan trọng trong hệ thống pháp luật: hàng giả được định nghĩa là những món đồ không rõ nguồn gốc xuất xứ - bạn có thể sẽ phải đi tù một thời gian dài. Bạn có thể đưa một bức tranh của Picasso vào cái máy nhân bản này, hay nhẫn cưới củ bạn, hay chữ ký của Tupac, nhưng bạn phải giữ riêng các vật phẩm này, vì chúng có giá trị thấp hơn những món đồ thật rất nhiều. Nhân bản con hamster, chó, hay con của bạn, sẽ kéo theo hệ lụy đặc biệt về đạo đức và tình cảm.

Chúng tôi bắt đầu với những thí nghiệm nhỏ, để xem liệu trẻ con có đánh giá cao như người lớn đối với những thứ đã từng thuộc về người nổi tiếng hay không. Vì nhiệm vụ này khá phức tạp, chúng tôi đã kiểm tra trên những đứa trẻ lớn hơn – tầm sáu tuổi. Ngay cả với nhóm tuổi này, chúng tôi đã lập tức gặp vấn đề - chúng không biết người nổi tiếng nào cả. (Trừ Harry Potter – nhưng chúng tôi muốn dùng người thật.) Vấn đều này được giải quyết khi Nữ Hoàng Elizabeth II đến thăm Bristol, Anh, nơi mà chúng tôi đang chạy thử thí nghiệm này. Chúng tôi bắt đầu các thí nghiệm cho trẻ ngay sau chuyến viếng thăm đó.

Việc không có máy nhân bản ba chiều cũng không phải là một vấn đề nghiêm trọng. Bruce Hood là một ảo thuật gia nghiệp dư, và anh ấy dễ dàng tạo ra một thiết lập với hai chiếc hộp phía trước tấm màn, như được hiển thị ở trang đối diện.

[Hình ảnh] 46%

Để chứng minh rằng chiếc máy này hoạt động, ban đầu các hộp được mở ra. Một khối gỗ màu xanh lá cây được đặt trong một hộp, sau đó cả hai cánh cửa hộp đều được đóng lại. Người làm thí nghiệm điều chỉnh một số nút điều khiển và sau đó kích hoạt bộ rung. Sau vài giây, bộ rung trên hộp thứ hai được kích hoạt và người làm thí nghiệm mở cả hai cánh cửa để lộ ra một khối màu xanh lá cây trong mỗi hộp (khối "bản sao" được người thử nghiệm nhét vào từ phía sau).

Khi chúng tôi cho trẻ em xem những cái mày này, không đứa nào nghĩ đây là trò lừa. Điều này phù hợp với các nghiên cứu đã chỉ ra rằng trẻ em hoàn toàn tin tưởng vào những cỗ máy khác thường. Chúng không có lý do gì để hoài nghi. Chúng sống trong một thế giới với những chiếc hộp bay khổng lồ, những chùm tia laze cắt kim loại, những chiếc máy tính biết nói, v.v. Và chúng ta vốn dĩ đã có sẵn những chiếc máy nhân bản hai chiều thô sơ – máy photocopy, bạn có thể lấy chữ viết tay của Micheal Jordan bỏ vào máy, nhấn nút, và sẽ có một bản sao y hệt, không phân biệt nổi với bản gốc. Vậy thì một cái máy photocopy ba chiều có gì lạ đâu? Đối với các bé trong thí nghiệm thì không. Khi được hỏi xem chúng đang nhìn thấy gì, thì tất cả các bé đều trả lời là cái máy đã nhân bản khối gỗ.

Chúng tôi đã dạy trẻ cách tính toán giá trị, bằng cách đưa cho chúng 10 khối gỗ nhỏ, và dạy chúng chia nhiều khối hơn cho những thứ chúng thấy có giá trị hơn. Ví dụ, giữa một món đồ chơi thú vị và một cục đá, thì chúng đều đồng ý rằng đồ chơi có giá trị hơn, nên chia cho món đồ chơi nhiều khối gỗ hơn.

Sau đó các bé được xem cảnh một cái cốc kim loại, hoặc một cái muỗng kim loại được đặt vào máy. Người thí nghiệm cho trẻ biết rằng cái muỗng này đặc biệt vì nó đã từng thuộc về Nữ Hoàng Elizabeth II. Sau khi “nhân bản”, cửa hộp được mở ra để chúng nhìn thấy hai món đồ giống y hệt nhau trong từng hộp. Các bé được yêu cầu đánh giá giá trị của từng món đồ. Một trường hợp khác, chúng tôi nói cho đứa trẻ biết rằng món đồ có giá trị vì chúng được làm bằng bạc; chứ không đề cập đến nữ hoàng.

Như đã dự đoán, món đồ từng được sở hữu bởi Nữ Hoàng có xu hướng được nhiều khối gỗ hơn là món được nhân bản. Trẻ em biết sự tiếp xúc này đã mang lại giá trị cho đồ vật – loại giá trị mà món hàng nhân bản không có. Hiệu ứng này không xuất hiện ở trường hợp kia – một món đồ đặc biệt vì chúng làm bằng bạc không có khác biệt gì về giá trị với bản sao cũng làm bằng bạc của nó. Nguyên liệu có thể được nhân bản; lịch sử thì không.


>>>> (4)

0 nhận xét:

Đăng nhận xét