BA
CÂU HỎI ĐẶT RA KHI BẠN TÌM KIẾM BẠN TÌNH
Còn điều gì khác để định hướng phản ứng tình cảm và
tình dục của chúng ta đối với người khác? Có ba câu hỏi mà bất kỳ ai đang tìm
kiếm bạn tình cũng cần phải tìm câu trả lời. Tôi nghĩ những câu này khá thú vị
theo đúng ý nghĩa của chúng, nhưng chúng cũng khiến chúng ta nhận ra độ phong
phú và phức tạp trong việc nhận ra sự thu hút con người.
1.
Người
đó là nam hay nữ?
Freud cho rằng “khi bạn gặp
một con người, sự khác biệt đầu tiên mà bạn nhận ra là “nam hay nữ” và bạn quen
thuộc với việc phân biệt này đến mức bạn làm mà không hề có chút chần chừ nghi
ngại nào.” Ít nhất, điều này đúng với trường hợp của tôi: khi tôi nhận e-mail từ
những người lạ có tên tiếng nước ngoài và tôi không biết liệu người gửi là nam
hay nữ, tôi sẽ có cảm giác lo ngại một cách kỳ quặc. Đáng lý ra điều này không
hề quan trọng – tôi đâu có ý định kết đôi với họ - nhưng hóa ra nó lại khá quan
trọng. Khi chúng ta nhìn thấy một em bé quấn tã, câu hỏi đầu tiên mà rất nhiều
người trong chúng ta sẽ hỏi là: bé này là trai hay gái?
Có lẽ đứa trẻ sẽ cũng
nhìn lại chúng ta và hỏi điều tương tự. Trong năm đầu tiên của cuộc đời, trẻ
con có thể phân biệt nam hay nữ từ gương mặt và chúng biết rằng giọng nam sẽ đi
kèm với gương mặt của nam và giọng nữ thì đi kèm với gương mặt của nữ. Chúng
thích nhìn phụ nữ hơn, dù điều này không chắc có phải là vì chúng ta có kỳ vọng
bẩm sinh rằng phụ nữ thì giỏi hơn trong việc chăm sóc hay trẻ con thường được
chăm sóc bởi phụ nữ và chúng, cũng như chúng ta, thích những điều mà chúng đã
quen thuộc.
Trẻ con trở thành trẻ lớn,
và bắt đầu hình thành suy nghĩ về nam và nữ. Tất nhiên là có rất nhiều điểm
khác biệt giữa nam và nữ, bao gồm sự khác biệt về giới tính, rõ ràng nhất là dẫn
chứng về việc ai làm tình với ai, và sự khác biệt về xã hội, như việc ai sẽ có
khuynh hướng làm y tá, còn ai sẽ có khuynh hướng làm cảnh sát. Trẻ lớn học hỏi
những thứ này vô cùng nhanh chóng – ví dụ như, cả trẻ trai lẫn trẻ gái đều biết
rằng con gái thì sẽ thích những món đồ chơi nữ tính hơn là đám con trai. Điều
này ít gây bất ngờ. Những điểm chung như vậy đúng trong môi trường trẻ sống và
trẻ rất giỏi trong việc nhận thấy những sự thật như vậy.
Điều thú vị hơn là trẻ em
có nhiều giả thuyết về lý do tại sao lại có những điểm khác biệt như vậy. Nhà
tâm lý học Marjorie Taylor khám phá điều này trong thí nghiệm của bà: bà kể cho
những đứa trẻ nghe về một bé trai lớn lên ở một hòn đảo chỉ có con gái và phụ nữ,
và về một bé gái lớn lên ở một hòn đảo chỉ có con trai và đàn ông. Điều này sẽ ảnh
hưởng đến đứa trẻ như thế nào? Liệu đứa con trai có thích chơi với búp bê hay
không? Nếu bạn tin rằng loại hành vi này lại sản phẩm của văn hóa, thì câu trả
lời là có; còn nếu nó thuộc về bản năng, thì không. Taylor phát hiện ra rằng những
đứa trẻ mà bà thí nghiệm có khuynh hướng tập trung vào bản năng bẩm sinh: dù ở
trong môi trường như thế nào, con trai cũng sẽ làm những thứ của con trai, và
con gái sẽ làm những thứ thuộc về con gái. Chỉ có người lớn mới chọn lời giải
thích mang tính xã hội. Điều này phù hợp với kết quả của những nghiên cứu bằng
cách phỏng vấn: trẻ còn nhỏ thì thường tập trung vào khía cạnh sinh học khi phân
biệt nam và nữ. Như đã đề cập ở phần giới thiệu, trẻ hay nói những thứ như “Bên
trong con trai và con gái có những thứ khác nhau.” Theo thời gian, một số trẻ bắt
đầu có khuynh hướng tập trung vào khía cạnh tâm lý và xã hội – “vì chúng ta được
dạy như vậy” – và cho rằng đây là điều mà chúng học từ văn hóa. Xã hội không
làm chúng ta có nhiều tính bản chất hơn, mà nó làm chúng ta có ít đi.
Chúng ta không chỉ tin rằng
đàn ông thì và phụ nữ có những đặc trưng riêng khác nhau, mà chúng ta còn tin rằng
điều này mới là phù hợp và đúng đắn. Trong Phục truyền luật lệ ký, việc phụ nữ
mặc quần áo của đàn ông hoặc ngược lại là một vi phạm nghiêm trọng, nhiều xã hội
có luật cấm phụ nữ tham gia vào các hoạt động truyền thống của nam giới, chẳng
hạn như lái xe ô tô hoặc tham gia quân đội. Ngay cả trong những xã hội tự do –
nơi mà việc chuyển giới hay đồng tính không vi phạm pháp luật, thì vẫn sẽ có những
người cảm thấy những chuyện này là ghê tởm và vô đạo đức, và đôi khi ác cảm này
còn dẫn tới hành vi bạo lực.
Trẻ em ở Mỹ thường không
chấp nhận các hành vi vi phạm vai trò giới tính, đặc biệt là những hành vi từ
phía các bé trai, như là mặc áo đầm. Vài đứa trẻ bốn tuổi nói rằng chúng không
muốn làm bạn với người như vậy, vì hành vi như vậy là sai, và chúng sẽ ngạc
nhiên và ghê tởm những hành vi như vậy. Nhiều đứa còn nói là chúng sẽ dùng bạo
lực nếu chúng thấy loại hành vi đó. Trè con không chỉ nhạy cảm với ranh giới của
những điều này; mà chúng còn sẵn sàng giám sát những ranh giới này.
2.
Người
có đó phải họ hàng của bạn không?
Nhà tâm lý học Jonathan
Haidt mô tả một tình huống tiến thoái lưỡng nan về đạo đức sau:
Julie
và Mark là anh em. Họ đi du lịch mùa hè với nhau ở Pháp trong một chuyến đi
cùng trường đại học. Một đêm nọ họ ở riêng với nhau trong một cabin gần biển. Họ
nghĩ rằng nếu họ thử làm tình thì sẽ thú
vị và mắc cười lắm. Ít nhất thì đây cũng là một trải nghiệm mới mẻ đối với mỗi
người. Julie đã uống thuốc tránh thai, và Mark cũng dùng bao cao su, để an
toàn. Họ đều tận hưởng việc làm tình, nhưng họ quyết định là không bao giờ lặp
lại hành động đó. Họ giữ bí mật về đêm đó, và điều đó làm cho họ cảm thấy thân
thiết với nhau hơn. Bạn nghĩ gì về điều này? Việc họ làm tình với nhau có ổn
không?
Tôi đã trình bày tình huống
này ở tất cả các lớp Giới thiệu về Tâm lý học, và phản ứng của sinh viên luôn
là: “Gớm quá!” Chúng ta phản đối chuyện này, và chúng ta gần như tin rằng chuyện
này là phi đạo đức. Nhưng, tại sao? Thật ra, tại sao chúng ta không bị thu hút
giới tính bởi anh chị em của mình? Nhiều người có anh chị em và họ tin rằng người
đó rất hấp dẫn, nhưng rất hiếm khi họ muốn làm tình với người đó. Các phụ huynh
cũng hiếm khi phải lo lắng rằng con cái của mình trốn vào xe để ở với nhau, hay
đặt những chuyến du lịch đi riêng với nhau. Trong các chương trình giáo dục
cũng không có sự phòng chống sự loạn luân anh chị em, các thủ tướng và các nhà
chính trị cũng không lên tiếng về sự phản đối, hay các nhà tâm lý học cũng
không cần chính phủ tài trợ để chiến đấu chống lại nó. Chuyện này cũng giống
như chuyện ăn phân vậy, nó không thành vấn đề vì gần như chẳng ai muốn làm chuyện
đó.
Một số nghiêm cấm về loạn
luân đôi khi cũng bị vi phạm, nhưng chúng thường liên quan đến mối quan hệ giữa
những người họ hàng xa hơn – loại quan hệ không khiến chúng ta cảm thấy ghê tởm giống như giữa anh em ruột.
Thường thì những điều cấm ít trực quan này được viết thành luật và thánh kinh.
Chẳng hạn, sách Lê-vi rất nghiêm khắc về quan hệ tình dục giữa một người đàn
ông và con gái của con trai hoặc con gái của con gái ông ta, cơ sở lý luận của lý
thuyết gien vị kỷ của Richard Dawkins đã được đưa vào ngôn ngữ thơ như sau:
“ngươi không được để con bé khỏa thân, vì nó là sự khỏa thân của chính ngươi.”
Cơ sở lý luận về mặt tiến
hóa cho việc chống loạn luân là: có con với họ hàng là một ý tưởng tồi tệ về mặt
di truyền, bởi vì họ hàng chia sẻ quá nhiều gen với nhau. Điều này được gọi là
"thoái hóa cận huyết" - nguy cơ khiến các gen lặn có nhiều khả năng
trở thành đồng hợp tử. Nhưng trên thực tế thì khó giải thích hơn. Giống như chúng
ta có một cuốn sách nho nhỏ trong đầu. Trong đó viết rằng, “Không được làm tình
với họ hàng!” cùng với một phát biểu cảm xúc “Nó rất ghê tởm!” và một tuyên bố
mang tính đánh giá “Nó vô đạo đức.” Và mỗi một người đều nghe theo hướng dẫn
này. Tuy nhiên, câu hỏi là: Làm sao biết được ai là họ hàng gần của mình?
Chúng ta có thể tìm bằng
chứng cho câu trả lời bằng cách xem thử những trường hợp sai trái. Người ta đôi
khi làm tình với họ hàng gần của mình vì nhầm lẫn, như trong tiểu thuyết
Oedipus, những nhân vật trong bộ phim Ngôi Sao Cô Đơn của John Sayles, hoặc một
trường hợp có thật ở Anh trong năm 2008: một đôi song sinh bị tách ra ngay sau
khi sinh, sau này gặp lại nhau và cưới nhau. Và còn có những trường hợp trong
đó những người vốn không liên quan với nhau về gien lại tưởng là họ có liên
quan. Các ví dụ được nghiên cứu nhiều nhất về điều này là những đứa trẻ Israel
được nuôi dưỡng cùng nhau trên một kibbutz, những cuộc hôn nhân sắp đặt ở Trung
Quốc và Đài Loan: cha mẹ nhận một em bé gái về nuôi trong gia đình và sau này kết
hôn với con trai của họ. Trong cả hai trường hợp, thường không xảy ra các mối
quan hệ tình dục hay tình cảm.
Những ví dụ này cho thấy
có điều gì đó về việc lớn lên cùng nhau đã giết chết ham muốn tình dục. Trong một
bài báo quan trọng trên tạp chí Nature vào năm 2007, Debra Lieberman, John
Tooby và Leda Cosmides đã khám phá hai ý tưởng về việc điều đó chính xác là gì.
Nhà nhân chủng học Edward Westermarck nghĩ ra một khả năng vào năm 1891. Ở đây,
điểm mấu chốt chính là quá trình sinh sống cùng nhau lâu dài: trẻ con được nuôi
lớn cùng nhau trong thời gian dài sẽ sinh ra ác cảm tình dục với nhau sau này.
Một yếu tố tiềm năng thứ hai là việc trẻ con quan sát thấy mối quan hệ giữa mẹ
chúng với những đứa trẻ khác. Nếu tôi nhìn thấy mẹ mình cho một đứa trẻ khác bú
sữa, thì rất có thể đứa trẻ này là họ hàng của tôi. Như tác giả đã lưu ý, yếu tố
thứ hai này chỉ áp dụng với trẻ lớn với trẻ nhỏ hơn chúng; những đứa trẻ nhỏ
hơn chưa bao giờ nhìn thấy anh chị mình trong bộ dạng sơ sinh.
Để so sánh các lý thuyết
này, họ đã phỏng vấn nhiều người trưởng thành về việc nếu họ lớn hết cùng với
anh chị em mình, họ sẽ quan tâm tới những người đó như thế nào, và họ cảm thấy
ghê tởm ra sao nếu nghĩ về chuyện quan hệ tình dục với những người đó.
Người ta phát hiện ra rằng
nếu một người lớn không nhìn thấy anh chị em của mình được chăm sóc khi còn là
trẻ sơ sinh, thì việc sống chung lâu dài là một yếu tố quan trọng – sống chung
càng lâu, thì ác cảm tình dục càng cao và sự quan tâm dành cho nhau càng nhiều.
Còn nếu người ta nhìn thấy các em của mình được chăm sóc lúc còn sơ sinh, thì
điều này còn vượt lên trên cả việc chung sống lâu dài; bạn sẽ có ác cảm tình dục
cực kỳ cao (và sự quan tâm chăm sóc đối với nhau cũng cao), việc sống chung bao
nhiêu lâu không còn quan trọng nữa. Nói cách khác, việc nhìn thấy ai đó đã từng
được mẹ mình chăm sóc như một em bé, thì tương lai đó sẽ là nguyên nhân cho ác
cảm tình dục với người đó, ngay cả khi bạn chung sống với người đó không lâu.
Điều này hoàn toàn xảy ra
trong vô thức. Có thể bạn biết rõ ràng ai đó không liên quan về mặt sinh học với
mình, như trong trường hợp những đứa trẻ sống ở kibbutz, nhưng bạn lớn lên cùng
với họ, thì bạn sẽ có phản ứng tự nhiên rằng kết đôi với họ là loạn luân. Ngược
lại, nếu bạn hoàn toàn biết rõ rằng ai đó có liên quan mật thiết về gien với
mình, nhưng bạn chưa từng sống với người đó, thì ý tưởng tình dục sẽ không làm
bạn ghê tởm. Đó là phỏng đoán của tôi trong trường hợp cặp song sinh người Anh;
khi họ phát hiện ra rằng họ là anh em ruột, họ đã bị kinh hoảng, bị sốc, v.v
(và họ đã hủy bỏ hôn thú) – nhưng cảm giác lãng mạn và cảm xúc giới tính của họ
không biến mất.
Bạn không những phải lo lắng
về việc anh chị em ruột của mình là ai. Mà bạn còn phải vô cùng lo lắng về việc
con cái của mình là ai. Bạn không muốn chúng thành bạn tình của bạn, và bạn muốn
cho chúng tình yêu thương và sự chăm sóc.
Đối với phụ nữ thì điều
này thật dễ dàng; con cái của phụ nữ là thành quả trong tử cung của họ. Đàn ông
mới là người phải lo lắng. Họ không bao giờ có thể chắc chắn rằng đứa con nào
mang gien của họ, và như chúng ta đã biết từ kiểm tra DNA, ngay cả khi họ nghĩ
rằng họ biết, đôi khi họ cũng sai lầm. Nhiều người đàn ông bị tu hú chiếm tổ,
không hề biết và đã nuôi dưỡng con cái của người đàn ông khác. Thuật người này
đến từ “chim tu hú”, loài chim đẻ trứng vào ổ của các loài khác – một cú lừa ổ.
(nesttrick)
Có vẻ như các lý giải
liên quan đến loạn luân anh chị em được đề cập ở trên - thời gian chung sống -
cũng áp dụng cho loạn luân giữa cha mẹ và con cái. Nếu bạn sống với con mình từ
khi chúng còn là những đứa trẻ, bạn sẽ không muốn quan hệ tình dục với chúng. Vấn
đề với những người cha kế là họ thường gia nhập vào gia đình muộn hơn. Nếu một
người đàn ông không ở bên cạnh con cái khi chúng còn nhỏ, thì anh ta có nhiều
khả năng bị chúng hấp dẫn về mặt tình dục cũng như có nhiều khả năng bạo lực đối
với chúng (thực ra, là có nhiều khả năng giết chúng hơn).
Một lần nữa, bản năng của
chúng ta được thúc đẩy bởi những nguyên nhân kể trên, chứ không phải là bởi các
kiến thức đến từ bên ngoài. Nếu bạn nhận nuôi một đứa bé, kết nối giữa bạn với
đứa bé đó sẽ mạnh mẽ giống như giữa bạn với con ruột của bạn. Bạn nghĩ về đứa
bé đó như thể nó sở hữu máu và thịt của bạn. Ngược lại, một người đàn ông lần đầu
gặp con gái mình khi con bé đã ở tuổi vị thành niên thì vẫn có thể cảm thấy bị
thu hút, ngay cả khi kiểm tra DNA đã chứng minh họ là cha con ruột.
Một nguyên nhân tiềm năng
khác để lý giải tình thân là vẻ ngoài của đứa bé. Đứa bé càng giống với người
đàn ông, thì càng có nhiều khả năng đây là con cháu của anh ta. Điều này cho thấy
rằng các ông bố sẽ để ý đến ngoại hình của con mình nhằm xác định quan hệ cha
con, điều này đã khiến một số nhà nghiên cứu tin rằng những đứa trẻ sẽ giống bố
hơn mẹ — vì chúng sẽ được hưởng lợi từ việc báo hiệu mối quan hệ di truyền của
chúng với những người đàn ông trưởng thành xung quanh chúng.
Tuy nhiên dự đoán này
không hẳn chính xác. Nếu việc “tu hú chiếm tổ” là phổ biến (và rõ ràng là nó
khá phổ biến nên đàn ông mới cần được trấn an), thì tình huống sẽ trở thành bi
kịch tiến hóa tồi tệ. Các em bé không phải là con cái của một đàn ông trưởng
thành sẽ phải đối mặt với hiểm nguy từ việc bị chối bỏ hay bị giết; chúng có thể
có vẻ ngoài giống nhầm người. Thật ra, ngoài một nghiên cứu ban đầu cho rằng trẻ
sơ sinh trông giống bố hơn, không có nghiên cứu nào khác lặp lại phát hiện này.
3.
Lịch
sử tình dục của người đó như thế nào?
Từ xưa, trinh tiết đã là
một chuyện hệ trọng. Trong Sáng thế ký đã đề cập đến chuyện này bằng cách mô tả
Rebecca (“Người
gái trẻ đó thật rất đẹp, còn đồng-trinh, chưa gả cho ai. Nàng xuống giếng nhận
đầy bình nước, rồi trở lên.”) và được đề cập nhiều lần trong suốt
Kinh thánh tiếng Do Thái (từ này – “đồng trinh” – được sử dụng 700 lần). Chủ đề
này không tiếp diễn trong Tân Ước, nhưng tất nhiên trinh tiết là bản chất của
niềm tin Cơ đốc giáo, với sự ra đời đồng trinh của Chúa Giê-su.
Trong bối cảnh này, trinh
tiết nghĩa là chưa từng quan hệ tình dục xâm nhập. Việc nhấn mạnh sự “xâm nhập”
này đã khiến một số người hoang mang. Vào tháng 9 năm 2007, tạp chí trực tuyến
Slate đã hỏi những người phụ trách chuyên mục tình dục nổi tiếng nhất về những
điều khiến họ khó hiểu nhất, và có một bài đăng về chủ đề này — của Emma Taylor
và Lorelei Sharkey (Em & Lo):
Chúng
tôi chưa bao giờ có thể hiểu được tại sao trinh tiết vẫn được gắn chặt vào định
nghĩa về sự xâm nhập của dương vật…. Tại sao một cặp đôi dị tính có thể quan hệ
tình dục bằng miệng, quan hệ tình dục bằng tay, thủ dâm cho nhau và thậm chí có
thể cả quan hệ tình dục qua đường hậu môn (nếu bạn tin vào những lời đồn đại về
các nữ sinh Công giáo) mà vẫn có thể tuyên bố rằng họ đang “giữ mình cho đêm
tân hôn”? Chắc chắn là việc tình dục xâm nhập dẫn đến sinh con sẽ giúp nâng cao
vị trí của nó (tình dục xâm nhập) lên một chút khi so với các hành vi tình dục
khác. Nhưng ngày nay, các công nghệ kiểm soát sinh sản, kế hoạch hóa gia đình
khiến cho việc giao hợp không phải là một phương thức để kết thúc, mà trở thành
một kết thúc vui vẻ cho chính nó. Đấy là chưa kể đến ảnh hưởng của nữ quyền và
phong trào bảo vệ quyền của người đồng tính, và bạn có thể nghĩ rằng sẽ có thêm
một vài ghế trên bàn tròn chính thức để luận về giới tính.
Điều này nghe có vẻ tùy
tiện. Nó nhắc chúng ta nhớ đến cuộc tranh luận vô nghĩa vào cuối những năm
1990, bắt nguồn từ việc Tổng thống Clinton nhấn mạnh rằng quan hệ tình dục bằng
miệng không được coi là “quan hệ tình dục”. Tuy nhiên, lý do tại sao chúng ta lại
thành kiến theo cách này không hẳn là khó hiểu. Taylor và Sharkey trả lời câu hỏi
của chính họ khi họ thừa nhận rằng khả năng sinh con của tình dục xâm nhập khiến
nó có vị trí "cao hơn một chút" so với các hành vi tình dục khác. Chỉ
một chút!
Đúng, hiện nay đã có sự
phân tách rạch ròi giữa giao hợp và sinh sản. Người ta có thể làm tình mà không
muốn có con, và có những phương thức rõ ràng để ngăn chặn việc sinh sản. Hiếm
hơn, trẻ em có thể được sinh ra mà không có quan hệ tình dục. Nhưng tâm trí và
hành vi tình dục của chúng ta không được điều chỉnh hợp lý để phù hợp với thời
hiện đại. Chúng ta không hoàn toàn sống trong thời hiện đại. Những ham muốn của
chúng ta có hai mặt, một mặt cá nhân và một mặt liên quan đến tiến hóa, và
trong phần lớn lịch sử loài người, tình dục xâm nhập là cách duy nhất để có em
bé. Cho nên không có gì đáng ngạc nhiên khi chúng ta đặt nó ở một vị trí đặc biệt,
khác hẳn với các hành vi khác như thủ dâm cho nhau, tình dục qua điện thoại hay
xoa lưng.
Khái niệm trung tâm về
trinh tiết thậm chí còn hẹp hơn so với những gì Taylor và Sharkey đã đề cập. Nó
thường là đặc trưng của phái nữ (từ “trinh nữ” (virgin) trong tiếng Anh có gốc
gác từ tiếng Latinh, với ý nghĩa là “phụ nữ trẻ”). Trinh tiết của phụ nữ quan
trọng hơn trinh tiết của đàn ông vì phụ nữ có thể luôn chắc chắn rằng đứa trẻ
đó là con của cô ấy, trong khi đàn ông thì thường không chắc lắm. Đây đúng là một
thảm họa tiến hóa cho đàn ông, khi mà anh ta có thể sẽ phải nuôi dưỡng một đứa
trẻ không cùng mã gien với anh ta, cho nên việc biết được rằng bạn tình của
mình đã quan hệ với ai trong quá khứ gần là vô cùng hệ trọng với anh ta, mà câu
trả lời tốt nhất là: không có ai cả.
Sự hấp dẫn của trinh tiết
đã dẫn đến sự xuất hiện của một số thị trường bất thường, một câu chuyện cực
đoan hiện đại là: một sinh viên nghiên cứu 22 tuổi tên là Natalie Dylan đấu giá
trinh tiết của mình trên mạng. (Cô ấy hứa hẹn sẽ đảm bảo trung thực thông qua
việc khám phụ khoa và kiểm tra nói dối.) Dylan không phải là người đầu tiên làm
chuyện này, nhưng cuộc đấu giá của cô đã gây chú ý với giới báo chí trong nước
và quốc tế, và cô ấy đã được đề nghị cái giá hơn một triệu đô la. Và ở Mỹ cũng
có dịch vụ trinh tiết giả - phụ nữ trả tiền để vá màng trinh, và coi đây như một
món quà dành cho chồng của họ.
Sự ám ảnh với trinh tiết
là một trong những khía cạnh xấu xí nhất trong suy nghĩ của chúng ta về tình dục.
Trong nhiều xã hội, có nhiều nghi thức kiểm tra trinh tiết trước hôn nhân, và
nhiều hình thức cắt bỏ bộ phận sinh dục khác nhau để giữ gìn sự trong trắng - bằng
cách gây khó khăn và khó chịu cho phụ nữ khi quan hệ tình dục xâm nhập. Những
hành vi bạo lực khủng khiếp chống lại những phụ nữ khi bị phát hiện là không
còn trinh tiết, bao gồm cả những người phụ nữ bị cưỡng hiếp. Sự ám ảnh về trinh
tiết đã thúc đẩy việc lạm dụng tình dục phụ nữ trẻ và trẻ em gái, và cũng chính
sự ngoại suy khủng khiếp của ý tưởng về sự trong sạch này thúc đẩy ảo tưởng rằng
rằng quan hệ tình dục với trinh nữ là một phương pháp chữa bệnh AIDS.
0 nhận xét:
Đăng nhận xét