Thứ Tư, 27 tháng 7, 2022

How Pleasure Works - chương 3 (3)

 

BA CÂU HỎI ĐẶT RA KHI BẠN TÌM KIẾM BẠN TÌNH

Còn điều gì khác để định hướng phản ứng tình cảm và tình dục của chúng ta đối với người khác? Có ba câu hỏi mà bất kỳ ai đang tìm kiếm bạn tình cũng cần phải tìm câu trả lời. Tôi nghĩ những câu này khá thú vị theo đúng ý nghĩa của chúng, nhưng chúng cũng khiến chúng ta nhận ra độ phong phú và phức tạp trong việc nhận ra sự thu hút con người.

1.      Người đó là nam hay nữ?

Freud cho rằng “khi bạn gặp một con người, sự khác biệt đầu tiên mà bạn nhận ra là “nam hay nữ” và bạn quen thuộc với việc phân biệt này đến mức bạn làm mà không hề có chút chần chừ nghi ngại nào.” Ít nhất, điều này đúng với trường hợp của tôi: khi tôi nhận e-mail từ những người lạ có tên tiếng nước ngoài và tôi không biết liệu người gửi là nam hay nữ, tôi sẽ có cảm giác lo ngại một cách kỳ quặc. Đáng lý ra điều này không hề quan trọng – tôi đâu có ý định kết đôi với họ - nhưng hóa ra nó lại khá quan trọng. Khi chúng ta nhìn thấy một em bé quấn tã, câu hỏi đầu tiên mà rất nhiều người trong chúng ta sẽ hỏi là: bé này là trai hay gái?

Có lẽ đứa trẻ sẽ cũng nhìn lại chúng ta và hỏi điều tương tự. Trong năm đầu tiên của cuộc đời, trẻ con có thể phân biệt nam hay nữ từ gương mặt và chúng biết rằng giọng nam sẽ đi kèm với gương mặt của nam và giọng nữ thì đi kèm với gương mặt của nữ. Chúng thích nhìn phụ nữ hơn, dù điều này không chắc có phải là vì chúng ta có kỳ vọng bẩm sinh rằng phụ nữ thì giỏi hơn trong việc chăm sóc hay trẻ con thường được chăm sóc bởi phụ nữ và chúng, cũng như chúng ta, thích những điều mà chúng đã quen thuộc.

Trẻ con trở thành trẻ lớn, và bắt đầu hình thành suy nghĩ về nam và nữ. Tất nhiên là có rất nhiều điểm khác biệt giữa nam và nữ, bao gồm sự khác biệt về giới tính, rõ ràng nhất là dẫn chứng về việc ai làm tình với ai, và sự khác biệt về xã hội, như việc ai sẽ có khuynh hướng làm y tá, còn ai sẽ có khuynh hướng làm cảnh sát. Trẻ lớn học hỏi những thứ này vô cùng nhanh chóng – ví dụ như, cả trẻ trai lẫn trẻ gái đều biết rằng con gái thì sẽ thích những món đồ chơi nữ tính hơn là đám con trai. Điều này ít gây bất ngờ. Những điểm chung như vậy đúng trong môi trường trẻ sống và trẻ rất giỏi trong việc nhận thấy những sự thật như vậy.

Điều thú vị hơn là trẻ em có nhiều giả thuyết về lý do tại sao lại có những điểm khác biệt như vậy. Nhà tâm lý học Marjorie Taylor khám phá điều này trong thí nghiệm của bà: bà kể cho những đứa trẻ nghe về một bé trai lớn lên ở một hòn đảo chỉ có con gái và phụ nữ, và về một bé gái lớn lên ở một hòn đảo chỉ có con trai và đàn ông. Điều này sẽ ảnh hưởng đến đứa trẻ như thế nào? Liệu đứa con trai có thích chơi với búp bê hay không? Nếu bạn tin rằng loại hành vi này lại sản phẩm của văn hóa, thì câu trả lời là có; còn nếu nó thuộc về bản năng, thì không. Taylor phát hiện ra rằng những đứa trẻ mà bà thí nghiệm có khuynh hướng tập trung vào bản năng bẩm sinh: dù ở trong môi trường như thế nào, con trai cũng sẽ làm những thứ của con trai, và con gái sẽ làm những thứ thuộc về con gái. Chỉ có người lớn mới chọn lời giải thích mang tính xã hội. Điều này phù hợp với kết quả của những nghiên cứu bằng cách phỏng vấn: trẻ còn nhỏ thì thường tập trung vào khía cạnh sinh học khi phân biệt nam và nữ. Như đã đề cập ở phần giới thiệu, trẻ hay nói những thứ như “Bên trong con trai và con gái có những thứ khác nhau.” Theo thời gian, một số trẻ bắt đầu có khuynh hướng tập trung vào khía cạnh tâm lý và xã hội – “vì chúng ta được dạy như vậy” – và cho rằng đây là điều mà chúng học từ văn hóa. Xã hội không làm chúng ta có nhiều tính bản chất hơn, mà nó làm chúng ta có ít đi.

Chúng ta không chỉ tin rằng đàn ông thì và phụ nữ có những đặc trưng riêng khác nhau, mà chúng ta còn tin rằng điều này mới là phù hợp và đúng đắn. Trong Phục truyền luật lệ ký, việc phụ nữ mặc quần áo của đàn ông hoặc ngược lại là một vi phạm nghiêm trọng, nhiều xã hội có luật cấm phụ nữ tham gia vào các hoạt động truyền thống của nam giới, chẳng hạn như lái xe ô tô hoặc tham gia quân đội. Ngay cả trong những xã hội tự do – nơi mà việc chuyển giới hay đồng tính không vi phạm pháp luật, thì vẫn sẽ có những người cảm thấy những chuyện này là ghê tởm và vô đạo đức, và đôi khi ác cảm này còn dẫn tới hành vi bạo lực.

Trẻ em ở Mỹ thường không chấp nhận các hành vi vi phạm vai trò giới tính, đặc biệt là những hành vi từ phía các bé trai, như là mặc áo đầm. Vài đứa trẻ bốn tuổi nói rằng chúng không muốn làm bạn với người như vậy, vì hành vi như vậy là sai, và chúng sẽ ngạc nhiên và ghê tởm những hành vi như vậy. Nhiều đứa còn nói là chúng sẽ dùng bạo lực nếu chúng thấy loại hành vi đó. Trè con không chỉ nhạy cảm với ranh giới của những điều này; mà chúng còn sẵn sàng giám sát những ranh giới này.

2.      Người có đó phải họ hàng của bạn không?

Nhà tâm lý học Jonathan Haidt mô tả một tình huống tiến thoái lưỡng nan về đạo đức sau:

Julie và Mark là anh em. Họ đi du lịch mùa hè với nhau ở Pháp trong một chuyến đi cùng trường đại học. Một đêm nọ họ ở riêng với nhau trong một cabin gần biển. Họ nghĩ rằng nếu họ thử làm tình thì sẽ  thú vị và mắc cười lắm. Ít nhất thì đây cũng là một trải nghiệm mới mẻ đối với mỗi người. Julie đã uống thuốc tránh thai, và Mark cũng dùng bao cao su, để an toàn. Họ đều tận hưởng việc làm tình, nhưng họ quyết định là không bao giờ lặp lại hành động đó. Họ giữ bí mật về đêm đó, và điều đó làm cho họ cảm thấy thân thiết với nhau hơn. Bạn nghĩ gì về điều này? Việc họ làm tình với nhau có ổn không?

Tôi đã trình bày tình huống này ở tất cả các lớp Giới thiệu về Tâm lý học, và phản ứng của sinh viên luôn là: “Gớm quá!” Chúng ta phản đối chuyện này, và chúng ta gần như tin rằng chuyện này là phi đạo đức. Nhưng, tại sao? Thật ra, tại sao chúng ta không bị thu hút giới tính bởi anh chị em của mình? Nhiều người có anh chị em và họ tin rằng người đó rất hấp dẫn, nhưng rất hiếm khi họ muốn làm tình với người đó. Các phụ huynh cũng hiếm khi phải lo lắng rằng con cái của mình trốn vào xe để ở với nhau, hay đặt những chuyến du lịch đi riêng với nhau. Trong các chương trình giáo dục cũng không có sự phòng chống sự loạn luân anh chị em, các thủ tướng và các nhà chính trị cũng không lên tiếng về sự phản đối, hay các nhà tâm lý học cũng không cần chính phủ tài trợ để chiến đấu chống lại nó. Chuyện này cũng giống như chuyện ăn phân vậy, nó không thành vấn đề vì gần như chẳng ai muốn làm chuyện đó.

Một số nghiêm cấm về loạn luân đôi khi cũng bị vi phạm, nhưng chúng thường liên quan đến mối quan hệ giữa những người họ hàng xa hơn – loại quan hệ không khiến chúng ta  cảm thấy ghê tởm giống như giữa anh em ruột. Thường thì những điều cấm ít trực quan này được viết thành luật và thánh kinh. Chẳng hạn, sách Lê-vi rất nghiêm khắc về quan hệ tình dục giữa một người đàn ông và con gái của con trai hoặc con gái của con gái ông ta, cơ sở lý luận của lý thuyết gien vị kỷ của Richard Dawkins đã được đưa vào ngôn ngữ thơ như sau: “ngươi không được để con bé khỏa thân, vì nó là sự khỏa thân của chính ngươi.”

Cơ sở lý luận về mặt tiến hóa cho việc chống loạn luân là: có con với họ hàng là một ý tưởng tồi tệ về mặt di truyền, bởi vì họ hàng chia sẻ quá nhiều gen với nhau. Điều này được gọi là "thoái hóa cận huyết" - nguy cơ khiến các gen lặn có nhiều khả năng trở thành đồng hợp tử. Nhưng trên thực tế thì khó giải thích hơn. Giống như chúng ta có một cuốn sách nho nhỏ trong đầu. Trong đó viết rằng, “Không được làm tình với họ hàng!” cùng với một phát biểu cảm xúc “Nó rất ghê tởm!” và một tuyên bố mang tính đánh giá “Nó vô đạo đức.” Và mỗi một người đều nghe theo hướng dẫn này. Tuy nhiên, câu hỏi là: Làm sao biết được ai là họ hàng gần của mình?

Chúng ta có thể tìm bằng chứng cho câu trả lời bằng cách xem thử những trường hợp sai trái. Người ta đôi khi làm tình với họ hàng gần của mình vì nhầm lẫn, như trong tiểu thuyết Oedipus, những nhân vật trong bộ phim Ngôi Sao Cô Đơn của John Sayles, hoặc một trường hợp có thật ở Anh trong năm 2008: một đôi song sinh bị tách ra ngay sau khi sinh, sau này gặp lại nhau và cưới nhau. Và còn có những trường hợp trong đó những người vốn không liên quan với nhau về gien lại tưởng là họ có liên quan. Các ví dụ được nghiên cứu nhiều nhất về điều này là những đứa trẻ Israel được nuôi dưỡng cùng nhau trên một kibbutz, những cuộc hôn nhân sắp đặt ở Trung Quốc và Đài Loan: cha mẹ nhận một em bé gái về nuôi trong gia đình và sau này kết hôn với con trai của họ. Trong cả hai trường hợp, thường không xảy ra các mối quan hệ tình dục hay tình cảm.

Những ví dụ này cho thấy có điều gì đó về việc lớn lên cùng nhau đã giết chết ham muốn tình dục. Trong một bài báo quan trọng trên tạp chí Nature vào năm 2007, Debra Lieberman, John Tooby và Leda Cosmides đã khám phá hai ý tưởng về việc điều đó chính xác là gì. Nhà nhân chủng học Edward Westermarck nghĩ ra một khả năng vào năm 1891. Ở đây, điểm mấu chốt chính là quá trình sinh sống cùng nhau lâu dài: trẻ con được nuôi lớn cùng nhau trong thời gian dài sẽ sinh ra ác cảm tình dục với nhau sau này. Một yếu tố tiềm năng thứ hai là việc trẻ con quan sát thấy mối quan hệ giữa mẹ chúng với những đứa trẻ khác. Nếu tôi nhìn thấy mẹ mình cho một đứa trẻ khác bú sữa, thì rất có thể đứa trẻ này là họ hàng của tôi. Như tác giả đã lưu ý, yếu tố thứ hai này chỉ áp dụng với trẻ lớn với trẻ nhỏ hơn chúng; những đứa trẻ nhỏ hơn chưa bao giờ nhìn thấy anh chị mình trong bộ dạng sơ sinh.

Để so sánh các lý thuyết này, họ đã phỏng vấn nhiều người trưởng thành về việc nếu họ lớn hết cùng với anh chị em mình, họ sẽ quan tâm tới những người đó như thế nào, và họ cảm thấy ghê tởm ra sao nếu nghĩ về chuyện quan hệ tình dục với những người đó.

Người ta phát hiện ra rằng nếu một người lớn không nhìn thấy anh chị em của mình được chăm sóc khi còn là trẻ sơ sinh, thì việc sống chung lâu dài là một yếu tố quan trọng – sống chung càng lâu, thì ác cảm tình dục càng cao và sự quan tâm dành cho nhau càng nhiều. Còn nếu người ta nhìn thấy các em của mình được chăm sóc lúc còn sơ sinh, thì điều này còn vượt lên trên cả việc chung sống lâu dài; bạn sẽ có ác cảm tình dục cực kỳ cao (và sự quan tâm chăm sóc đối với nhau cũng cao), việc sống chung bao nhiêu lâu không còn quan trọng nữa. Nói cách khác, việc nhìn thấy ai đó đã từng được mẹ mình chăm sóc như một em bé, thì tương lai đó sẽ là nguyên nhân cho ác cảm tình dục với người đó, ngay cả khi bạn chung sống với người đó không lâu.

Điều này hoàn toàn xảy ra trong vô thức. Có thể bạn biết rõ ràng ai đó không liên quan về mặt sinh học với mình, như trong trường hợp những đứa trẻ sống ở kibbutz, nhưng bạn lớn lên cùng với họ, thì bạn sẽ có phản ứng tự nhiên rằng kết đôi với họ là loạn luân. Ngược lại, nếu bạn hoàn toàn biết rõ rằng ai đó có liên quan mật thiết về gien với mình, nhưng bạn chưa từng sống với người đó, thì ý tưởng tình dục sẽ không làm bạn ghê tởm. Đó là phỏng đoán của tôi trong trường hợp cặp song sinh người Anh; khi họ phát hiện ra rằng họ là anh em ruột, họ đã bị kinh hoảng, bị sốc, v.v (và họ đã hủy bỏ hôn thú) – nhưng cảm giác lãng mạn và cảm xúc giới tính của họ không biến mất.

 

Bạn không những phải lo lắng về việc anh chị em ruột của mình là ai. Mà bạn còn phải vô cùng lo lắng về việc con cái của mình là ai. Bạn không muốn chúng thành bạn tình của bạn, và bạn muốn cho chúng tình yêu thương và sự chăm sóc.

Đối với phụ nữ thì điều này thật dễ dàng; con cái của phụ nữ là thành quả trong tử cung của họ. Đàn ông mới là người phải lo lắng. Họ không bao giờ có thể chắc chắn rằng đứa con nào mang gien của họ, và như chúng ta đã biết từ kiểm tra DNA, ngay cả khi họ nghĩ rằng họ biết, đôi khi họ cũng sai lầm. Nhiều người đàn ông bị tu hú chiếm tổ, không hề biết và đã nuôi dưỡng con cái của người đàn ông khác. Thuật người này đến từ “chim tu hú”, loài chim đẻ trứng vào ổ của các loài khác – một cú lừa ổ. (nesttrick)

Có vẻ như các lý giải liên quan đến loạn luân anh chị em được đề cập ở trên - thời gian chung sống - cũng áp dụng cho loạn luân giữa cha mẹ và con cái. Nếu bạn sống với con mình từ khi chúng còn là những đứa trẻ, bạn sẽ không muốn quan hệ tình dục với chúng. Vấn đề với những người cha kế là họ thường gia nhập vào gia đình muộn hơn. Nếu một người đàn ông không ở bên cạnh con cái khi chúng còn nhỏ, thì anh ta có nhiều khả năng bị chúng hấp dẫn về mặt tình dục cũng như có nhiều khả năng bạo lực đối với chúng (thực ra, là có nhiều khả năng giết chúng hơn).

Một lần nữa, bản năng của chúng ta được thúc đẩy bởi những nguyên nhân kể trên, chứ không phải là bởi các kiến thức đến từ bên ngoài. Nếu bạn nhận nuôi một đứa bé, kết nối giữa bạn với đứa bé đó sẽ mạnh mẽ giống như giữa bạn với con ruột của bạn. Bạn nghĩ về đứa bé đó như thể nó sở hữu máu và thịt của bạn. Ngược lại, một người đàn ông lần đầu gặp con gái mình khi con bé đã ở tuổi vị thành niên thì vẫn có thể cảm thấy bị thu hút, ngay cả khi kiểm tra DNA đã chứng minh họ là cha con ruột.

Một nguyên nhân tiềm năng khác để lý giải tình thân là vẻ ngoài của đứa bé. Đứa bé càng giống với người đàn ông, thì càng có nhiều khả năng đây là con cháu của anh ta. Điều này cho thấy rằng các ông bố sẽ để ý đến ngoại hình của con mình nhằm xác định quan hệ cha con, điều này đã khiến một số nhà nghiên cứu tin rằng những đứa trẻ sẽ giống bố hơn mẹ — vì chúng sẽ được hưởng lợi từ việc báo hiệu mối quan hệ di truyền của chúng với những người đàn ông trưởng thành xung quanh chúng.

Tuy nhiên dự đoán này không hẳn chính xác. Nếu việc “tu hú chiếm tổ” là phổ biến (và rõ ràng là nó khá phổ biến nên đàn ông mới cần được trấn an), thì tình huống sẽ trở thành bi kịch tiến hóa tồi tệ. Các em bé không phải là con cái của một đàn ông trưởng thành sẽ phải đối mặt với hiểm nguy từ việc bị chối bỏ hay bị giết; chúng có thể có vẻ ngoài giống nhầm người. Thật ra, ngoài một nghiên cứu ban đầu cho rằng trẻ sơ sinh trông giống bố hơn, không có nghiên cứu nào khác lặp lại phát hiện này.

3.      Lịch sử tình dục của người đó như thế nào?

Từ xưa, trinh tiết đã là một chuyện hệ trọng. Trong Sáng thế ký đã đề cập đến chuyện này bằng cách mô tả Rebecca (“Người gái trẻ đó thật rất đẹp, còn đồng-trinh, chưa gả cho ai. Nàng xuống giếng nhận đầy bình nước, rồi trở lên.”) và được đề cập nhiều lần trong suốt Kinh thánh tiếng Do Thái (từ này – “đồng trinh” – được sử dụng 700 lần). Chủ đề này không tiếp diễn trong Tân Ước, nhưng tất nhiên trinh tiết là bản chất của niềm tin Cơ đốc giáo, với sự ra đời đồng trinh của Chúa Giê-su.

Trong bối cảnh này, trinh tiết nghĩa là chưa từng quan hệ tình dục xâm nhập. Việc nhấn mạnh sự “xâm nhập” này đã khiến một số người hoang mang. Vào tháng 9 năm 2007, tạp chí trực tuyến Slate đã hỏi những người phụ trách chuyên mục tình dục nổi tiếng nhất về những điều khiến họ khó hiểu nhất, và có một bài đăng về chủ đề này — của Emma Taylor và Lorelei Sharkey (Em & Lo):

Chúng tôi chưa bao giờ có thể hiểu được tại sao trinh tiết vẫn được gắn chặt vào định nghĩa về sự xâm nhập của dương vật…. Tại sao một cặp đôi dị tính có thể quan hệ tình dục bằng miệng, quan hệ tình dục bằng tay, thủ dâm cho nhau và thậm chí có thể cả quan hệ tình dục qua đường hậu môn (nếu bạn tin vào những lời đồn đại về các nữ sinh Công giáo) mà vẫn có thể tuyên bố rằng họ đang “giữ mình cho đêm tân hôn”? Chắc chắn là việc tình dục xâm nhập dẫn đến sinh con sẽ giúp nâng cao vị trí của nó (tình dục xâm nhập) lên một chút khi so với các hành vi tình dục khác. Nhưng ngày nay, các công nghệ kiểm soát sinh sản, kế hoạch hóa gia đình khiến cho việc giao hợp không phải là một phương thức để kết thúc, mà trở thành một kết thúc vui vẻ cho chính nó. Đấy là chưa kể đến ảnh hưởng của nữ quyền và phong trào bảo vệ quyền của người đồng tính, và bạn có thể nghĩ rằng sẽ có thêm một vài ghế trên bàn tròn chính thức để luận về giới tính.

Điều này nghe có vẻ tùy tiện. Nó nhắc chúng ta nhớ đến cuộc tranh luận vô nghĩa vào cuối những năm 1990, bắt nguồn từ việc Tổng thống Clinton nhấn mạnh rằng quan hệ tình dục bằng miệng không được coi là “quan hệ tình dục”. Tuy nhiên, lý do tại sao chúng ta lại thành kiến theo cách này không hẳn là khó hiểu. Taylor và Sharkey trả lời câu hỏi của chính họ khi họ thừa nhận rằng khả năng sinh con của tình dục xâm nhập khiến nó có vị trí "cao hơn một chút" so với các hành vi tình dục khác. Chỉ một chút!

Đúng, hiện nay đã có sự phân tách rạch ròi giữa giao hợp và sinh sản. Người ta có thể làm tình mà không muốn có con, và có những phương thức rõ ràng để ngăn chặn việc sinh sản. Hiếm hơn, trẻ em có thể được sinh ra mà không có quan hệ tình dục. Nhưng tâm trí và hành vi tình dục của chúng ta không được điều chỉnh hợp lý để phù hợp với thời hiện đại. Chúng ta không hoàn toàn sống trong thời hiện đại. Những ham muốn của chúng ta có hai mặt, một mặt cá nhân và một mặt liên quan đến tiến hóa, và trong phần lớn lịch sử loài người, tình dục xâm nhập là cách duy nhất để có em bé. Cho nên không có gì đáng ngạc nhiên khi chúng ta đặt nó ở một vị trí đặc biệt, khác hẳn với các hành vi khác như thủ dâm cho nhau, tình dục qua điện thoại hay xoa lưng.

Khái niệm trung tâm về trinh tiết thậm chí còn hẹp hơn so với những gì Taylor và Sharkey đã đề cập. Nó thường là đặc trưng của phái nữ (từ “trinh nữ” (virgin) trong tiếng Anh có gốc gác từ tiếng Latinh, với ý nghĩa là “phụ nữ trẻ”). Trinh tiết của phụ nữ quan trọng hơn trinh tiết của đàn ông vì phụ nữ có thể luôn chắc chắn rằng đứa trẻ đó là con của cô ấy, trong khi đàn ông thì thường không chắc lắm. Đây đúng là một thảm họa tiến hóa cho đàn ông, khi mà anh ta có thể sẽ phải nuôi dưỡng một đứa trẻ không cùng mã gien với anh ta, cho nên việc biết được rằng bạn tình của mình đã quan hệ với ai trong quá khứ gần là vô cùng hệ trọng với anh ta, mà câu trả lời tốt nhất là: không có ai cả.

Sự hấp dẫn của trinh tiết đã dẫn đến sự xuất hiện của một số thị trường bất thường, một câu chuyện cực đoan hiện đại là: một sinh viên nghiên cứu 22 tuổi tên là Natalie Dylan đấu giá trinh tiết của mình trên mạng. (Cô ấy hứa hẹn sẽ đảm bảo trung thực thông qua việc khám phụ khoa và kiểm tra nói dối.) Dylan không phải là người đầu tiên làm chuyện này, nhưng cuộc đấu giá của cô đã gây chú ý với giới báo chí trong nước và quốc tế, và cô ấy đã được đề nghị cái giá hơn một triệu đô la. Và ở Mỹ cũng có dịch vụ trinh tiết giả - phụ nữ trả tiền để vá màng trinh, và coi đây như một món quà dành cho chồng của họ.

Sự ám ảnh với trinh tiết là một trong những khía cạnh xấu xí nhất trong suy nghĩ của chúng ta về tình dục. Trong nhiều xã hội, có nhiều nghi thức kiểm tra trinh tiết trước hôn nhân, và nhiều hình thức cắt bỏ bộ phận sinh dục khác nhau để giữ gìn sự trong trắng - bằng cách gây khó khăn và khó chịu cho phụ nữ khi quan hệ tình dục xâm nhập. Những hành vi bạo lực khủng khiếp chống lại những phụ nữ khi bị phát hiện là không còn trinh tiết, bao gồm cả những người phụ nữ bị cưỡng hiếp. Sự ám ảnh về trinh tiết đã thúc đẩy việc lạm dụng tình dục phụ nữ trẻ và trẻ em gái, và cũng chính sự ngoại suy khủng khiếp của ý tưởng về sự trong sạch này thúc đẩy ảo tưởng rằng rằng quan hệ tình dục với trinh nữ là một phương pháp chữa bệnh AIDS.


>>>> (4)

0 nhận xét:

Đăng nhận xét