Thứ Tư, 27 tháng 7, 2022

How Pleasure Works - chương 2 (3)

 

BẠN LÀ THỨ BẠN ĂN

Kiểu suy nghĩ của người theo thuyết bản chất có thể khiến bạn ngừng ăn một loại thức ăn nhất định. Khi Gandhi lần đầu ăn thịt dê, ông nói rằng ông đã cảm thấy linh hồn của con vật đang than khóc trong bụng mình – một sự thúc đẩy hoàn hảo cho chủ nghĩa ăn chay trường. Thuyết bản chất có thể khiến bạn ăn nhiều loại thức ăn khác. Trước khi phát minh ra Viagra và các loại thuốc tương tự, những người đàn ông tuyệt vọng sẽ ăn động vật và các bộ phận của động vật làm thuốc kích thích tình dục. Món ăn cụ thể sẽ được chọn vì những lý do khác nhau, đôi khi vì sức trẻ của con vật, đôi khi vì sự hung hãn của nó, đôi khi vì bộ phận tượng trưng cho sự ham muốn - dương vật cương cứng, và đôi khi không vì lý do rõ ràng nào cả. Một số phương pháp chữa bệnh liệt dương được cho là:

-          Bộ phận cơ thể người

-          Sừng tê giác

-          Pín hổ

-          Pín hải cẩu

-          Hàu

-          Tôm

-          Răng cá sấu

-          Pín sói nướng

Người ta cho rằng thịt tốt trong trường hợp này, và, Paul Rozin trong một ấn phẩm chưa xuất bản của mình đã tranh luận rằng con người ở mọi nơi đều liên tưởng thịt với tính đàn ông. Khi tôi mới tốt nghiệp đại học, tôi có một người bạn cùng phòng người Nga luôn nhấn mạnh mối quan hệ giữa chuyện ăn thịt và và khả năng tình dục, anh ta luôn chế giễu về năng lực này của những người bạn ăn chay.

Một hiệu ứng khá khác biệt liên quan đến nước uống. Người Mỹ tiêu trung bình 15 tỷ đô một năm cho nước uống đóng chai, nhiều hơn tiền vé xem phim. Chúng ta uống nước đóng chai nhiều hơn cả sữa, cà phê và bia. Điều này thật sự khó hiểu, vì ở hầu hết mọi nơi trên thế giới, nước đóng chai không hề tốt cho sức khỏe hơn hay ngon hơn nước máy (đôi khi còn dở hơn). Cũng phải tính tới chi phí môi trường cho việc sản xuất chai nhựa và vận chuyển chúng bằng xe tải. Và nước đóng chai thì đắt hơn cả xăng nếu tính theo thể tích. Điều gì khiến chúng hấp dẫn như vậy.

Một đáp án mà chúng ta có thể rút ra là sự tinh khiết của chúng. Nói chung, người ta thích những thứ tự nhiên hơn là nhân tạo. Chúng tôi cảnh giác với thuốc chống trầm cảm y tế nhưng thoải mái với các biện pháp thảo dược như cây bạch quả. Nhiều người chống lại các thực phẩm biến đổi gen. Sự khao khát tự nhiên này trở thành một vấn đề trong việc tiếp thị sản phẩm. Nhưng nhà văn và nhà hoạt động Micheal Pollan đã giải thích trong cuốn Tình thế tiến thoái lưỡng nan của động vật ăn tạp, kiếm tiền từ các loại thực phẩm hoàn toàn tự nhiên thì khó. Điều này một phần bởi vì – như phó chủ tịch của General Mills đã chỉ ra với anh ấy rằng, bạn không thể phân biệt dễ dàng ngô hoặc gà của công ty mình với ngô hoặc gà của những người khác. Để tạo ra lợi nhuận, cần phải đưa ngô vào một loại ngũ cốc có thương hiệu và đưa gà vào một chương trình nấu ăn trên truyền hình. Pollan mô tả vào năm 1980, một nhà sản xuất phụ gia thực phẩm có tên International Flavors & Fragrances hy vọng sẽ ngăn cản mọi người sử dụng các loại thực phẩm tự nhiên, lập luận rằng sản phẩm nhân tạo tốt hơn cho bạn. Các nguyên liệu tự nhiên là: “một hỗn hợp hoang dã của các chất do thực vật và động vật tạo ra với mục đích cho sự tồn tại và sinh sản của chúng – chứ không phải làm thức ăn cho chúng ta.” Ăn chúng gây nguy hiểm cho chúng ta.

Dù vậy, đó chưa bao giờ là một chiến lược đúng đắn. Cách tiếp cận khôn ngoan hơn là khai thác sự thiên vị của con người, để tạo ra các sản phẩm mới và tiếp thị rằng chúng đến từ tự nhiên. Nước đóng chai là ví dụ thành công nhất cho việc này.

Bây giờ, có một giải pháp thay thế cho lý thuyết bản chất này, một lý thuyết thường được trình bày như một lời giải thích về những sở thích tương đối phi lý và theo tôi, điều đó có giá trị đáng kể. Đó là nước đóng chai là dấu hiện cho việc nhận diện vị thế xã hội. Nó là một ví dụ cho cái mà nhà xã hội học Thorstein Veblen gọi là “tiêu thụ xa xỉ”, một cách để quảng cáo rằng bạn có bao nhiêu tiền, hay khái quát hơn, là khoe khoang thói quen tích cực của bạn. Nước máy thì miễn phí và có những lợi ích sức khỏe rõ ràng, vậy thì nó hoàn toàn vô dụng trong việc trở thành một dấu hiệu nhận diện, và, như vậy thì ít người chọn uống nó hơn.

Thuyết nhận diện có một độ rộng đáng kể. Và thuyết này thường được áp dụng trong việc mua bán các tác phẩm nghệ thuật hiện đại. Bất kỳ kẻ tầm thường nào cũng có thể mua và đánh giá cao một bức tranh đẹp, trong khi chỉ những người giàu có và sáng suốt mới chi hàng triệu đô la cho nghệ thuật trừu tượng. Khi bạn bắt đầu nghĩ về các dấu hiệu nhận diện, bạn thấy nó ở khắp nơi. Thỉnh thoảng tôi cũng tự hỏi rằng liệu dấu hiệu nhận diện có thể giải thích tại sao các trường tư dạy tiếng Latin không. Các trường học nhấn mạnh rằng đó là một cuộc theo đuổi đáng giá về mặt trí tuệ, nhưng một giải thích khác việc nó phổ biến chỉ vì nó khó, nó liên kết với quyền lực… và hoàn toàn vô dụng, khiến nó trở thành một dấu hiệu nhận diện địa vị lý tưởng. Nếu tiếng Latin thực sự giúp đỡ trẻ con học các thứ ngôn ngữ khác và phát triển trí tuệ của chúng theo nhiều cách khác nhau, thì các trường công cũng sẽ đưa nó vào chương trình giảng dạy, và một người theo thuyết nhận diện sẽ dự đoán rằng lúc đó, các trường tư sẽ từ bỏ môn tiếng La tinh và để học sinh của họ dành một giờ mỗi ngày để học tiếng Phạn hoặc thư pháp.

Người ta thường nghĩ về loại hình lý thuyết này như một dấu hiệu để phân biệt người với người và, nó thực sự là như vậy về mặt chiến lược. Mặc dù, có thể chúng ta cũng đang tạo dấu ấn với chính mình. Có thế tôi cũng muốn trấn an bản thân rằng tôi là mẫu người có đủ khả năng chi trả và đủ quan tâm để trả tiền cho một thứ gì đó đặc biệt và vì vậy tôi có thể mua Perrier (một loại nước uống đóng chai đắt tiền) cho mục đích sử dụng riêng của mình. Như tiếng khẩu hiệu của quảng cáo: Bởi vì tôi xứng đáng.

Ngay cả khi thuyết nhận diện đóng một số vai trò nhất định, một người vẫn cần thuyết bản chất để giải thích các yếu tố khác, như là nỗi sợ hãi dành cho các thực phẩm biến đổi gien, các tư tưởng về chủ nghĩa ăn thịt người, và việc dùng thực phẩm như một dạng kích thích tình dục. Thuyết bản chất giải thích động cơ của chúng ta khi ăn thực phẩm rằng chúng ta đang hấp thu những tính chất không nhìn thấy được của chúng, như sự dũng cảm của một chiến binh hay sự tinh khiết của nước đóng chai. Vì vậy, thuyết nhận diện không thể giải thích cho mọi trường hợp; các bằng chứng cũng chỉ ra một tư duy thuyết bản chất.

NGON MIỆNG

Là nhà sáng lập kiêm CEO của Perrier North America, Bruce Nevins cảm thấy việc thuyết phục người khác về độ ngon của sản phẩm của ông ấy là vô cùng quan trọng. Nhưng, thật là một ngày tồi tệ với ông ấy, trong một chương trình radio trực tiếp, người ta yêu cầu ông chọn ra nước Perrier trong số bảy cốc nước. Ở tận lượt đoán thứ năm, ông ấy mới tìm ra được.

Dĩ nhiên là các tế bào vị giác của ông không có vấn đề gì. Trong các cuộc kiểm tra khi bị bịt mắt, với các loại nước ở nhiệt độ bằng nhau, gần như bất khả thi để phân biệt giữa nước máy và các loại nước đóng chai sang trọng.

Dù vậy, tôi cá là khi Nevins rời khỏi chương trình radio đó và đi về nhà, ông vẫn cho rằng Perrier uống thật sự ngon lành – bài kiểm tra trên radio không chứng minh được điều gì khác. Nói như vậy, thì hẳn là ông đã đúng. Bởi vì, một người khi thích vị nước Perrier hơn loại khác, nhưng không thể phân biệt được vị của nó giữa các loại nước, thì họ cũng không phải là đang nói dối hay bị rối trí. Perrier thật sự ngon miệng. Chỉ là, để nhận ra độ ngon miệng của nó, bạn phải biết được rằng nó là Perrier trước đã.

Có nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng cách mà bạn nghĩ về thức ăn hay nước uống nào đó ảnh hưởng đến việc bạn đánh giá nó. Những nghiên cứu này được thiết kế rất đơn giản. Bạn tìm 2 nhóm người, đưa cho họ ăn và uống những thứ giống nhau, nhưng giới thiệu với họ theo cách cách khác nhau. Sau đó hỏi xem họ có thích nó không. Nghiên cứu đã cho thấy rằng:

-          Các thanh protein có vị dở hơn khi người ta mô tả chúng là “protein đậu nành”

-          Nước cam uống ngon hơn khi nó từ cam vàng

-          Yogurt và kem ngon miệng hơn khi nó là “rất béo”

-          Trẻ con cảm thấy sữa và táo ngon hơn nếu chúng được lấy ra từ túi McDonald

-          Nước ngọt được đánh giá cao hơn khi uống từ một cái ly có in logo thương hiệu

Nghiên cứu gần đây được thực hiện với đo lường não, đối tượng kiểm tra ngồi trong một cái máy scan fMRI. Khi được đưa ra thử nghiệm mà không có thông tin là Coke hay Pepsi, chất lỏng được phun vào miệng đối tượng qua một ống, hệ thống phần thưởng của não sẽ sáng lên đều đặn như nhau. Nhưng khi họ được cho biết họ đang uống gì, một kiểu kích hoạt não khác sẽ xuất hiện: sở thích của mọi người thay đổi theo nhãn hiệu mà họ thích hơn.

Những phát hiện khiêu khích nhất liên quan đến rượu vang. Bạn có thể lấy cùng loại rượu vang rồi dán những cái nhãn khác nhau lên nó, điều này ảnh hưởng đến cách người khác – ngay cả các chuyên gia – đánh giá nó. Trong một nghiên cứu, một chai Bordeaux hoặc được dán nhãn là “grand cru classé” (đẳng cấp cao), hoặc là “vin du table” (rượu phổ thông). Bốn mươi chuyên gia nói rằng chai rượu với nhãn hiệu đắt tiền đáng uống, trong khi chỉ có mười hai người nói chai rượu phổ thông kia đáng uống. Chai dán nhãn grand cru được cho là “hợp miệng, có mùi gỗ, vị phức tạp, độ cân bằng cao và mềm mại”, trong khi chai vin du table được đánh giá là “yếu, ngắn, nhẹ, nhạt và có lỗi.”

Mọi thứ còn tồi tệ hơn nữa. Có thể bạn cho rằng ít nhất sự khác biệt giữa vang đỏ và vang trắng phải rõ ràng chứ. Nhưng không. Tại một bữa tiệc, hãy mang ra một ít rượu vang trắng, cho vào ly đen và hỏi bạn bè của bạn xem họ nghĩ gì về loại rượu vang đỏ mà bạn đang đưa cho họ. Khi Frederic Brochette làm điều này, nhiều chuyên gia rượu đã nếm nó và cho là rượu vang đỏ, và mô tả nó như vậy, sử dụng các thuật ngữ như “ngọt như mứt” và “trái cây đỏ nghiền”.

Nghiên cứu yêu thích gần đây của tôi có tên là “Liệu người ta có phân biệt được giữa Pa-tê và Thức ăn cho chó hay không?” Họ không thể. Nếu bạn nghiền một sản phẩm có tên là “Gà tây và Gà đóng hộp cho chó con/chó trưởng thành” trong máy nghiền và trộn nó với rau mùi tây, người ta không phân biệt được nó với món thịt heo đóng hộp, pa tê gan vịt, hay pa tê gan heo.

Có hai cách giải thích việc này.

Một là có hai quá trình. Đầu tiên, bạn nếm được vị gì là phụ thuộc vào tính chất vật lý của vị đó ở mũi và miệng. Sau đó, ở bước thứ hai, niềm tin về thứ mà bạn đang nếm sẽ biến đổi và sửa đổi và trau chuốt ký ức về mùi vị đó.

Tôi đã từng chứng kiến một cuộc hội thoại giữa một người lớn và một đứa trẻ 4 tuổi tên là Jonah, đang học mẫu giáo và đã rõ ràng về hai giai đoạn này.

Người lớn: con thích ăn cái gì hơn, yogurt đông lạnh hay kem?
Jonah: hai món đó đều giống nhau. Nhưng con thích ăn yogurt đông lạnh hơn.
Người lớn: Tại sao con thích nó hơn, nếu chúng đều có vị giống nhau?
Người lớn: Tại sao con thích nó hơn, nếu chúng đều có vị giống nhau?
Jonah: Vì ăn nó là khoảnh khắc vui vẻ nhất đời con. Con thường rất là vui vẻ. Khi con ăn yogurt đông lạnh ở nhà ông bà, khi con ăn nó, con rất rất rất rất là vui!

Ở đây, Jonah đã phân biệt được vị của một món ăn và thằng bé thích chúng như thế nào. Cả kem và yogurt đông lạnh ăn đều giống nhau, nhưng thằng bé thích yogurt đông lạnh hơn. Những ký ức này ảnh hưởng đến sở thích. Bản thân trải nghiệm không thay đổi, nhưng giá trị mà chúng ta thêm vào trải nghiệm đó đã thay đổi cách mà chúng ta nói và nghĩ về nó.

Khả năng thứ hai còn mạnh hơn – niềm tin ảnh hưởng đến bản thân trải nghiệm. Người ta sẽ không nói rằng “món rượu vang này uống cũng thường thôi, nhưng vì tôi biết nó là dạng cao cấp, nên hẳn là vị phải hơn thế.” Họ chỉ nói là, “Ngon!”

Nhà tâm lý học Leonard Lee và đồng nghiệp đã làm một thí nghiệm khéo léo để phân biệt hai loại khả năng này. Họ đến pub gần trường Cambridge, Massachusetts và yêu cầu mọi người nếm thử món “bia MIT” – vốn là bia Budweiser hoặc Sam Adams thêm vào vài giọt dấm balsamic. Sau khi nếm thử mà không biết, họ có xu hướng cho rằng bia MIT ngon hơn bia không có dấm – nhưng nếu bạn hỏi họ, họ nghĩ rằng thêm dấm vào thì bia sẽ dở hơn.

Thí nghiệm chính được thực hiện với một nhóm các đối tượng khác nhau. Một nửa số đối tượng được cho biết trước rằng giấm đã được thêm vào và sau đó họ uống bia, và một nửa uống bia trước và sau đó được cho biết rằng giấm đã được thêm vào. Cả hai nhóm sau đó được hỏi họ thích bia MIT đến mức nào.

Theo logic là: nếu lý thuyết yếu là đúng – nghĩa là bạn nếm thứ chạm vào lưỡi mình và thông tin kèm theo sẽ ảnh hưởng đến vị của nó. Thì, việc biết rằng giấm được thêm vào trước hay sau khi uống bia sẽ chẳng ảnh hưởng gì. Nếu bạn nghĩ thêm giấm vào thì bia sẽ dở hơn, thì nó sẽ ảnh hưởng đến góc nhìn của bạn về vị của nó. Nhưng nếu thuyết mạnh  là đúng, thời điểm biết thông tin rất quan trọng. Nếu người ta biết rằng bia có giấm trong đó trước khi họ uống, thì họ sẽ thấy nó dở hơn, vì thông tin này đã tô màu cho trải nghiệm của họ. Nhưng nếu họ chỉ biết đến thông tin này sau khi uống, thì trễ rồi, họ đã nếm xong, và thông tin này chẳng ảnh hưởng gì tới trải nghiệm của họ cả.

Và lý thuyết mạnh hơn đã đúng. Nếu bạn nghĩ là nó sẽ dở rồi uống nó, thì nó sẽ dở. Nhưng nếu bạn uống rồi, thì việc biết tình trạng của nó không có ảnh hưởng gì cả. Ít nhất là đối với bia, sự trông đợi của chúng ta ảnh hưởng đến sự trải nghiệm của chúng, chứ không phải thông tin sự thật mà chúng ta có được sau trải nghiệm.

Kết luận này được củng cố bởi nghiên cứu quét não người khi họ nếm rượu. Cùng một loại rượu nhưng người ta sẽ nghĩ là nó giá $10 hay $90. Như bạn có thể đoán được kết quả từ những nghiên cứu ở trên, người ta thích rượu hơn khi chúng được mô tả là đắt tiền. Điều thú vị là trong khi chỉ một vài phần của bộ não không nhạy cảm với sự thao túng giá cả (nghĩa là, ở mức độ cảm giác thô, não bộ chỉ phản ứng với những cảm giác về vị giác và khứu giác), hầu hết các phần còn lại đều gắn liền với hiệu ứng tổng hợp, trong đó sự trông đợi về mùi vị được gắn chặt với trải nghiệm cảm giác sơ cấp. Điều này xảy ra ở vỏ não mặt trước trung gian, cùng là phần não đã được kích hoạt trong nghiên cứu Coke / Pepsi được mô tả trước đó.

Có một nghiên cứu tương tự, trong đó các nhà khoa học giới thiệu cho đối tượng thí nghiệm mùi được mô tả như “mùi phô mai chedda” hay “mùi cơ thể” (vốn là mùi của axit isovaleric với một chút mùi phô mai cheddar); thí nghiệm này đã có tác động như dự kiến đến trải nghiệm của đối tượng và dẫn đến sự khác biệt về kích hoạt trong cùng một phần của não. Điều này gợi nhớ đến một tập trong show truyền hình mà tôi đã từng xem (Family Guy), trong đó một nhân vật hít hửi và nhận xét rằng, “hoặc đây là thịt thối hoặc đây là phô mai ngon.” Các nghiên cứu cho rằng khi bạn biết câu trả lời, bạn sẽ cảm thấy mùi hương đó khác nhau.

Tôi không muốn phóng đại sức mạnh của sự kỳ vọng. Nếu mùi vị hoàn toàn phụ thuộc vào việc một người tin gì, người ta sẽ không cần đền tế bào vị giác hay tế bào khứu giác. Dù sao đi nữa, thì những thứ này đã tiến hóa để cung cấp cho chúng ta thông tin về thế giới bên ngoài. Chúng ta có thể không biết quá nhiều về một loại thức ăn, và ăn thử một miếng xem liệu chúng ta có thích nó không. Đôi khi trải nghiệm về mặt thể chất có thể thay đổi niềm tin của chúng ta: “Tôi biết đây là loại rượu phổ thông, có lẽ là không có gì đặc biệt, nhưng đây là loại ngon nhất mà tôi từng nếm thử”, hoặc là, “tôi biết miếng thịt này có chứa bản chất của một chiến binh vĩ đại, nhưng, eo ôi, dai quá!”

Vậy thì, vấn đề không phải là cảm giác không đóng vai trò gì đối với trải nghiệm. Thay vào đó, cảm giác luôn được tô điểm bởi niềm tin của chúng ta, bao gồm cả niềm tin về bản chất. Điều này có thể dẫn đến vòng lặp của sự củng cố lẫn nhau. Nếu bạn cho là nước Perrier tinh khiết hơn nước máy, bằng cách nào đó thì điều này cũng đúng. Điều này sẽ thúc đẩy trải nghiệm của bạn về việc nó có vị như thế nào: khi bạn uống Perrier, bạn thích nó hơn. Ngược lại, việc này lại củng cố niềm tin của bạn, điều mà lại củng cố vị giác của bạn, vân vân. Nếu bạn tin là thực phẩm biến đổi gien có vị kỳ cục, thì bạn sẽ cảm thấy chúng có vị kỳ cục, điều này sẽ củng cố cho giả định của bạn rằng có điều gì đó không ổn trong thực phẩm biến đổi gien, điều này sẽ khiến chúng có mùi vị kém hơn trong tương lai, v.v.

Vòng lặp kiểu này không chỉ áp dụng trong đồ ăn hay thức uống. Nếu bạn là một người đam mê âm thanh và tin rằng những chiếc loa đắt tiền nâng cao đáng kể trải nghiệm âm nhạc của bạn, thì bạn sẽ có thành kiến khi trải nghiệm điều này, điều này sẽ củng cố niềm tin của bạn về giá trị của những chiếc loa đắt tiền. Nó thậm chí không chỉ dành cho khoái cảm. Giả sử bạn tin rằng những người đồng tính nam là xấu xa. Điều này sẽ ảnh hưởng đến trải nghiệm của bạn và bạn sẽ có xu hướng cảm thấy hành động của một người đàn ông đồng tính là xấu tính hơn là cùng một hành động ở một người đàn ông bình thường.”Ê, tên gay đó ẻo lả quá!” — Theo đó, trải nghiệm của bạn sẽ củng cố định kiến của bạn. Bằng cách bóp méo kinh nghiệm, niềm tin - bao gồm cả niềm tin chủ nghĩa bản chất, củng cố chính nó, đó là một lý do tại sao chúng ta rất khó thay đổi suy nghĩ về bất cứ điều gì.

>>> (4)

0 nhận xét:

Đăng nhận xét