Chủ Nhật, 17 tháng 7, 2022

How Pleasure Works - chương 1 (3)

 


THUYẾT BẢN CHẤT Ở TRẺ EM

Susan Gelman bắt đầu cuốn sách tuyệt vời The Essential Child của mình với câu chuyện khi cô ấy lên bốn hoặc năm tuổi và hỏi mẹ cô ấy con trai và con gái khác nhau như thế nào. Mẹ cô ấy nói, "Con trai có dương vật, con gái thì không." Gelman nghi ngờ điều đó, “Vậy thôi hả?” Dựa trên việc nhìn thấy con trai và con gái ăn mặc, cư xử và chơi khác nhau như thế nào, cô ấy tìm kiếm một câu trả lời thú vị và sâu sắc hơn. Mục đích của câu chuyện này là để thể hiện bản thân cô ấy là đứa trẻ theo thuyết bản chất, mở đầu cho lập luận của cô rằng tất cả trẻ em đều là những người theo thuyết bản chất.

Đây là một tuyên bố gây tranh cãi trong lĩnh vực tâm lý học. Quan điểm chủ đạo, do nhà tâm lý học phát triển người Thụy Sĩ Jean Piaget đưa ra và được một số học giả nổi tiếng bảo vệ ngày nay là: trẻ em khi sinh ra thì đều có quan niệm hời hợt đối với thế giới, nhận định của chúng chỉ giới hạn ở những gì chúng có thể nhìn, nghe và chạm vào. Từ góc độ này, thuyết bản chất có nguồn gốc từ lịch sử và văn hóa. Trong các lĩnh vực vật lý và sinh học, thuyết bản chất là một khám phá, một thành tựu trí tuệ đạt được trước tiên bởi các nhà triết học và sau đó là các nhà khoa học. Đa số mọi người sẽ không bao giờ tự mình phát hiện nó. Nhà triết học Jerry Fodor nói rằng: "tất nhiên Homer không có khái niệm rằng nước có một bản chất tiềm ẩn, hoặc cấu trúc vi mô đặc trưng (hoặc bất cứ thứ gì khác)." (Homer mà một nhà thơ)

Chúng ta học về điều này ở trường. Trong vấn đề về chủng tộc, giới tính và đẳng cấp, thuyết bản chất giống như một truyền thuyết được tạo ra bởi những người có quyền lực để thuyết phục mọi người rằng phân loại xã hội là tự nhiên và không chống lại được.

Chúng ta còn cách lý thuyết hoàn chỉnh về nguồn gốc của thuyết bản chất rất xa. Nhưng tôi cho rằng ngày nay có nhiều bằng chứng cho thấy phần lớn thuyết bản chất không xuất phát từ văn hóa. Nó mang tính phổ quát chung cho loài người. Homer có lẽ đã thật sự tin rằng nước có một bản chất tiềm ẩn.

Phần lớn các nghiên cứu ở đây đều xuất phát từ tâm lý học phát triển. Chúng ta biết rằng ngay cả trẻ sơ sinh cũng có thể suy ra các thuộc tính vô hình của đồ vật dựa trên vẻ ngoài của chúng. Nếu trẻ chín tháng tuổi nhận thấy rằng một chiếc hộp phát ra âm thanh khi bạn chạm vào nó, chúng sẽ mong đợi những chiếc hộp khác có vẻ ngoài tương tự cũng sẽ phát ra âm thanh như thế. Trẻ lớn làm được nhiều hơn; chúng khái quát hóa mọi thứ dựa trên phân loại của thứ đó. Trong một nghiên cứu, những đứa trẻ ba tuổi được cho xem một bức ảnh của một con chim cổ đỏ và nói rằng nó có một đặc tính tiềm ẩn, chẳng hạn như một chất hóa học nào đó trong máu của nó. Sau đó, chúng được cho xem hai bức tranh khác: một bức của một con vật trông giống như con chim cổ đỏ nhưng thuộc một chủng loại khác, chẳng hạn như con dơi; bức còn lại của một loài động vật có vẻ ngoài khác con chim cổ đỏ nhưng thuộc cùng một chủng loại, như chim hồng hạc.

Cái nào có cùng thuộc tính ẩn? Trẻ em có xu hướng khái quát hóa trên cơ sở phân loại nên đều chọn chim hồng hạc. Điều này không hẳn cho thấy trẻ em là người hoàn toàn theo thuyết bản chất, nhưng nó đã cho thấy trẻ nhạy cảm với những thứ sâu sắc hơn vẻ bề ngoài. Các nghiên cứu khác cũng cho thấy hiệu quả tương tự với những đứa trẻ dưới hai tuổi.

Các thí nghiệm khác cho thấy trẻ nhỏ tin rằng nếu bạn loại bỏ phần bên trong của một con chó (máu và xương của nó), nó không phải là một con chó nữa, nhưng nếu bạn loại bỏ các đặc điểm bên ngoài của nó, nó vẫn như vậy. Và trẻ em có thói quen đặt tên chung cho những thứ có cùng đặc tính tiềm ẩn (“bên trong chúng có cùng một thứ”) thay vì những thứ có chung đặc tính bề ngoài (“sống trong cùng một loại sở thú và cùng một loại chuồng”)

Frank Keil, đồng nghiệp của tôi tại Yale, đã tìm thấy một số minh chứng nổi bật nhất về thuyết bản chất ở trẻ em. Ông cho trẻ em xem những bức tranh về một loạt các biến hình: một con nhím được phẫu thuật biến đổi để trông giống như một cây xương rồng, một con hổ được mặc vào bộ đồ sư tử, một con chó thật được trang điểm để trông giống như một món đồ chơi. Kết quả là những đứa trẻ xem hình đều bác bỏ sự biến đổi đó, và không xem chúng như biến đổi chủng loại - bất kể nó trông như thế nào, nó vẫn là một con nhím, một con hổ hay một con chó. Chỉ khi những đứa trẻ được cho biết rằng những biến đổi xảy ra bên trong — nội tạng của những sinh vật này đã bị thay đổi — thì chúng mới có thể bị thuyết phục rằng những biến đổi này dẫn đến sự thay đổi thực sự về chủng loại.

Giống như người lớn, trẻ nhỏ nghĩ rằng tên gọi dùng để chỉ các đối tượng có chung đặc tính tiềm ẩn. Susan Gelman từng chỉ cho cậu con trai 13 tháng tuổi của mình một chiếc nút áo sơ mi và gọi nó là “cái nút”. Sau đó, cậu bé bắt đầu nhấn vào nó, bởi vì mặc dù nó trông không giống một cái nút trên đồ chơi điện tử của cậu, nhưng cậu bé biết nó thuộc chủng loại nào và đó là những gì cậu sẽ làm với một “cái nút”.

Những trẻ lớn hơn, cũng có sự đánh giá tinh tế giống như người lớn về ý nghĩa của một danh từ. Một đứa trẻ bốn tuổi đã đưa ra quan điểm khi mô tả một người bạn bạo lực: “Gabriel không chỉ đánh con! Cậu ấy cũng đánh các bạn khác nữa! cậu ấy là một kẻ đánh người! Đúng không mẹ? Cậu ấy là một kẻ đánh người!” Đứa trẻ có lẽ đang nhấn mạnh rằng loại hành vi này phản ánh khía cạnh sâu sắc hơn trong bản chất của Gabriel. Trong thí nghiệm của họ, Gelman và Gail Heyman đã nói với những đứa trẻ 5 tuổi về một đứa trẻ tên Rose thường ăn cà rốt, và nói thêm với một nửa trong số những đứa trẻ rằng: “Bạn ấy là một người ăn cà rốt”. Cụm từ này gây ra ảnh hưởng nhất định: nó làm những đứa trẻ nghĩa rằng Rose sẽ ăn cà rốt trong thời gian dài hơn – bạn ấy sẽ ăn cà rốt trong tương lai, ngay cả khi gia đình không cho phép bạn ấy ăn cà rốt. Đó là một phần tính cách của bạn ấy.

Một số học giả đã lập luận rằng thuyết bản chất của trẻ em chỉ gói gọn trong phạm vi dành cho cây cối và động vật. Nhưng trong nghiên cứu của mình, tôi thấy rằng trẻ em rất xem trọng các hiện vật trong đời sống hàng ngày. Khi chúng nghe thấy một cái tên dùng để chỉ một vật do con người tạo ra, chúng sẽ liên tưởng tới những vật dụng khác có cùng mục đích sử dụng bất kể vẻ ngoài của chúng trông khác biệt như thế nào.

Thêm vào đó, trẻ em cũng là những người theo thuyết bản chất khi phân loại người. Thật vậy, một ví dụ điển hình nhất cho thuyết bản chất chính là sự phân biệt giới tính. Trước khi học về sinh lý học, di truyền học, thuyết tiến hóa hay bất kỳ môn khoa học nào khác, trẻ em nghĩ rằng có một thứ gì đó bên trong và vô hình để phân biệt điểm khác nhau giữa con trai và con gái. Thuyết bản chất thể hiện rất rõ ràng, như khi một bé gái giải thích lý do tại sao một bé trai sẽ thà đi câu cá chứ không trang điểm: “Vì đó là bản năng của con trai”. Và những đứa trẻ bảy tuổi có xu hướng tán thành những câu nói như “Bên trong con trai khác với bên trong con gái” và “Bởi vì Chúa đã tạo ra chúng như vậy” (một bản chất sinh học và bản chất tinh thần). Chỉ sau này trong quá trình phát triển, trẻ em mới chấp nhận những lời giải thích về văn hóa, chẳng hạn như "Bởi vì đó là cách chúng ta đã được nuôi dạy." Bạn phải biết xã hội là cái gì, rồi mới nghĩ tới xã hội hóa.

Nghiên cứu này vẫn đang trong quá trình phát triển, nhưng có một sự đồng thuận đang nổi lên cho rằng trẻ em là những người theo thuyết bản chất bẩm sinh. Phạm vi của thuyết bản chất này rất rộng; chúng ta gán bản chất cho cả động vật, hiện vật, và con người.

SINH LỰC

Cho đến hiện tại, tôi đã mô tả thuyết bản chất như một cách suy nghĩ về cách phân loại mọi thứ. Như là, cách người ta tin rằng có một cái gì đó sâu bên trong mỗi con hổ khiến nó trở thành một con hổ. Nhưng bây giờ hãy thử xem xét quan điểm rằng có một bản chất bên trong mỗi một cá thể làm cho nó trở nên đặc biệt: không phải một con hổ so với một con sư tử, mà là con hổ này so với con hổ kia.

Năng lực suy nghĩ của những cá thể riêng biệt là một khía cạnh quan trọng của đời sống tinh thần, và phạm vi của nó bao gồm cả những điều nhàm chán nhất. Nhà triết học Daniel Dennett đưa ra ví dụ về một người nào đó mang theo một đồng xu từ New York đến Tây Ban Nha và ném nó vào một đài phun nước. Bây giờ nó nằm cùng với những đồng xu khác, và anh ta không thể nào phân biệt được nó với những đồng xu khác, nhưng, anh ta vẫn xem trọng duy nhất một và chỉ một đồng xu trong số đó – đồng xu của chính anh ta. Nếu anh ta nhặt được một xu từ đài phun nước, đó vừa có thể là đồng anh ta mang từ New York hoặc một xu khác.

Suy nghĩ về các cá thể là một khả năng nhận thức đáng kể, nhưng nó không phải là thuyết bản chất. Bạn có thể tin rằng mỗi đồng xu đều có câu chuyện riêng của chúng, nhưng điều này không có nghĩa là chúng chứa bất kỳ thứ gì khác, bất cứ thứ gì mà người ta có thể coi là bản chất.

Nhưng chúng tôi tin rằng một số cá thể sẽ có bản chất riêng của chúng. Đặc biệt, điều này thường xảy ra với một người hoặc một món đồ có quan hệ mật thiết với ai đó. Trong nhiều nền văn hóa, những bản chất này được hiểu dưới dạng một nguồn lực vô hình nào đó. Các nhà tâm lý học Kayoko Inagaki và Giyoo Hatano lập luận rằng, trẻ em lúc nhỏ đã suy nghĩ như một "người theo sinh lực luận”* (Sinh lực luận:  là một niềm tin bắt đầu từ tiền đề rằng "các sinh vật sống về cơ bản khác với các thực thể không sống bởi vì chúng chứa một số yếu tố phi vật chất hoặc bị chi phối bởi các nguyên tắc khác với những vật vô tri.") — chúng cho rằng bên trong con người tồn tại một loại năng lực sống. Suy nghĩ như vậy rất phổ biến trong nhiều nền văn hóa khác nhau, như “chi,” “ki”, “elan”, “mana”, “sinh lực” - hoặc “bản chất”. Nó được coi là một phần của con người, một số người có nó nhiều hơn những người khác, và nó có thể được truyền từ người sang đồ vật và sau đó quay trở lại. Nhà nhân chủng học Emma Cohen đã nói với tôi về nghiên cứu của cô ấy về Axe (phát âm là ah-shay) trong tôn giáo Afro-Brazil:

Những người mà tôi trò chuyện cùng đã giải thích cho tôi việc làm thế nào những thứ đơn giản như các hiện vật và đồ vật hàng ngày trở nên linh thiêng thông qua nghi lễ trao Axe. Mỗi người đều có Axe với nhiều mức độ khác nhau, và có thể được "nâng cao" thông qua việc tham gia vào các nghi lễ. Sở hữu Axe tương đương với quyền lực. Ví dụ, khi bạn bị ốm, bạn nên tìm kiếm sự chữa trị từ người có Axe lớn hơn. Và vì bạn không thể chỉ đơn giản nhìn qua là biết ai có nhiều Axe hơn và ai ít hơn, bạn có thể đổ lỗi sự thất bại của mình do Axe của bạn yếu, điều mà mọi người thường làm. Một số ngôi nhà tôn giáo có nhiều Axe hơn những ngôi nhà khác và những người theo đạo Afro-Brazil nói rằng, khi bạn ở trong một ngôi nhà có nhiều Axe hơn, bạn sẽ cảm thấy dễ chịu hơn.

Đây là một ví dụ mang tính tôn giáo khi nói tới “năng lượng”, nhưng “năng lượng” cũng xuất hiện trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Chúng ta tìm kiếm mối liên quan với những người đặc biệt. Một thứ được chạm vào bởi một người đặc biệt sẽ có giá trị đặc biệt, đó là một trong những lý do tại sao mọi người trả nhiều tiền cho những đồ vật như cuộn thước dây của JFK. Thật vậy, như được mô tả trong chương sau, các đồng nghiệp của tôi và tôi thấy rằng mọi người sẽ trả giá cao cho chiếc áo len của một người nổi tiếng (chẳng hạn như của George Clooney) - nhưng giá sẽ giảm nếu chiếc áo đã được khử trùng, vì điều này làm mất đi “bản chất” của nó.

Ngoài ra, chúng ta nói tới mối liên quan trực tiếp với những con người với nhau. Đôi khi chỉ cần nhìn vào những người có địa vị cao thì bạn đã bị ảnh hưởng rồi. Trong một cuộc thảo luận thú vị, nhà văn Gretchen Rubin kết nối trải nghiệm này với khái niệm trong triết học Ấn Độ giáo về darshan, một thuật ngữ tiếng Phạn có nghĩa là “cái nhìn”. Nghĩa là, chỉ nhìn thôi cũng có thể khiến một người cạn kiệt “năng lượng”. Điều này gay gắt đến nỗi một số người nổi tiếng có quy định trong hợp đồng là cấm nhân viên giao tiếp bằng mắt với họ.

Được vỗ vai một cái thì hơn hẳn việc chỉ nhìn nhau, và được bắt tay một cái thì hơn hẳn việc được vỗ vai. Một số câu nói chẳng hạn như “Tôi sẽ không rửa tay trong một tuần” thể hiện quan điểm rằng có một số dấu vết của người nổi tiếng trên tay bạn mà bạn không muốn rửa trôi. Và thân mật hơn một cái bắt tay là quan hệ tình dục, đó là một trong nhiều lý do tại sao những người nhiều quyền lực ít khi gặp khó khăn trong việc tìm kiếm bạn tình.

Nhưng quan hệ tình dục cũng không phải là đỉnh cao trong vụ gần gũi xác thịt. Có một thứ còn cao hơn thế. Hãy nghe thử cuộc trò chuyện qua điện thoại của Thái tử Charles mà người ta nghe lén được, trong đó Thái tử bày tỏ mong muốn được đầu thai làm băng vệ sinh cho tình nhân của mình - một mong muốn vừa rùng rợn vừa lãng mạn và ngọt ngào. Sở hữu cơ thể của một người đặc biệt và ăn thịt người đó, với hy vọng rằng bản thân bạn bây giờ sẽ có được sức mạnh của người đó là một phương pháp mà chúng ta sẽ bàn trong chương tiếp theo. Và cấy ghép nội tạng – một người sở hữu một bộ phận cơ thể của một người khác, một hành động đặc biệt thân mật - nhà đạo đức học Leon Kass từng mô tả nó là “một hình thức ăn thịt đồng loại cao quý”. Thật vậy, nhiều người tin rằng những người nhận cấy ghép sẽ nhận luôn những phẩm chất của những người hiến tặng.

Có một khác biệt lớn giữa thuyết bản chất mà chúng ta đang bàn luận với thuyết bản chất sinh lực này: thuyết bản chất của chúng ta thì cho rằng bản chất là bất biến và vĩnh viễn, còn thuyết bản chất sinh lực thì cho rằng bản chất có thể truyền đi, thêm vào và bớt đi. Điểm chung của chúng là chúng vô hình, chúng dùng để xác định giá trị của vật thể và chúng vô cùng quan trọng.

Một ví dụ về tầm quan trọng của bản chất đến từ những tư liệu mắt thấy tai nghe từ cuộc tìm kiếm Đạt Lai Lạt Ma thứ 14, cụ thể là quá trình kiểm tra một cậu bé hai tuổi sống ở một làng quê xa xôi. Một nhóm quan chức đã mang theo đồ đạc của cố Đạt Lai Lạt Ma thứ 13, song song với một bộ đồ dùng giả trông giống hệt những đồ thật.

Khi họ đưa cho cậu bé một tràng hạt màu đen đồ thật và một bản sao, cậu bé nắm lấy đồ thật và đeo nó quanh cổ mình. Khi họ đưa cho cậu bé hai tràng hạt màu vàng, cậu lại nắm được một tràng hạt thật. Khi được chọn giữa hai cây gậy, ban đầu cậu chọn nhầm, nhưng sau khi kiểm tra kỹ hơn, cậu đặt cây gậy giả lại và chọn cây gậy thuộc về Đức Đạt Lai Lạt Ma. Sau đó cậu xác định chính xác chiếc mền thật trong ba chiếc được đưa ra. Trong bài kiểm tra cuối cùng, cậu bé đã được cho xem với hai chiếc trống cầm tay: một chiếc trống khá đơn giản (đồ thật) và một chiếc daramu đẹp mắt, hấp dẫn hơn nhiều so với chiếc đồ thật. Có nghĩa là, cậu phải chọn giữa một đối tượng không đẹp mắt mà có “bản chất” và một thứ đồ giả vô cùng bắt mắt. Đáp án mà họ thu được là: “Không chút do dự, cậu bé nhấc chiếc trống lên. Cầm nó trong tay phải, cậu chơi nó với một nụ cười tươi trên khuôn mặt; cậu bé đi vòng quanh để mắt cậu có thể nhìn gần từng người chúng tôi. Vì vậy, cậu bé đã chứng tỏ năng lực huyền bí của mình – thứ có thể tiết lộ những hiện tượng kì bí nhất ”.

Một nhà quan sát khác mô tả khả năng nhận biết này là một dấu hiệu của “trí thông minh siêu phàm”. (Lưu ý rằng việc sử dụng các bản sao chính xác có nghĩa là cậu bé không thể thành công thông qua trí nhớ tiền kiếp; cần phải có một số sức mạnh đặc biệt để phân biệt các bản chất vô hình.) Điểm mấu chốt ở đây không phải là các vật thể đó thực sự đã thấm nhuần bản chất của Đạt Lai Lạt Ma thứ 13; điểm mấu chốt là các quan chức Tây Tạng tin rằng họ đã và đang xây dựng một quy trình giả định sự tồn tại của những bản chất vô hình — những bản chất cần quyền năng đặc biệt để nhận ra - và sử dụng quy trình này để đưa ra một quyết định quan trọng. Cậu bé trở thành Đạt Lai Lạt Ma thứ 14, Tenzin Gyatso.

>>>> (4)

0 nhận xét:

Đăng nhận xét