BẢN
CHẤT
(ESSENTIAL: bản chất/bản
chất/đặc trưng)
Rất nhiều sự khoái cảm điển hình của con người mang
tính phổ quát. Nhưng chúng không phải sự thích nghi sinh học. Mà chúng là những
sản phẩm phụ khi hệ thống thần kinh của chúng ta tiến hóa cho những mục đích
khác.
Một số sự khoái cảm hoàn toàn đúng với nhận định này.
Ví dụ, hiện nay có nhiều người mê tít cà phê, nhưng điều này không có nghĩa là
những người thích uống cà phê sinh sản nhiều hơn những người ghét uống cà phê,
mà là bởi vì cà phê là một hóa chất có tính thúc đẩy, và chúng ta thì thường thích
được thúc đẩy. Đây là một trường hợp rõ ràng, nhưng tôi nghĩ là cách lý giải sản
phẩm phụ này cũng có thể giúp giải thích nhiều câu đố khó mà chúng ta đang quan
tâm. Nhận định của tôi là: ít nhất một phần nào đó, những sự khoái cảm này sản
sinh ra như một loại sản phẩm phụ vô tình của cái chúng ta gọi là sự suy ngẫm
mang tính thuyết bản chất.
Trong một tiểu thuyết viết bởi J.D.Salinger, thuyết bản
chất được mô tả thế này: Seymour – nhân vật ưa thích của tác giả, kể một câu
chuyện Đạo giáo cho một đứa bé. Trong câu chuyện đó, Lãnh Chúa Mu nhờ người bạn
Po Lo của ngài tìm cho ngài một người có thể phát hiện ra một con ngựa siêu
phàm. Po Lo giới thiệu một chuyên gia, Lãnh Chúa Mu đã thuê người đó, và Kao –
tên của người chuyên gia đó, nhanh chóng chọn ra một con ngựa thỏa mãn yêu cầu
của Lãnh Chúa, anh ta mô tả con ngựa là một con ngựa cái màu nâu. Lãnh Chúa Mu
mua con ngựa được đề xuất, nhưng ông ta bị sốc khi phát hiện ra đó là một con
ngựa đực màu đen.
Tức giận, Lãnh Chúa Mu nói với Po Lo rằng tên chuyên
gia đó là một thằng đần, thậm chí còn không phân biệt được giới tính và màu sắc
của con ngựa. Tuy nhiên, Po Lo cảm thấy kinh ngạc với thông tin này:
“Anh ta đã tiến bộ đến mức đó rồi sao”, Po Lo than thở.
“À, vậy thì anh ta đáng giá bằng mười ngàn thằng như tôi cộng lại. Chúng tôi
không còn có thể so sánh với nhau được nữa rồi. Cái Kao nhìn thấy là thế giới
tinh thần. Để nhìn ra cái bản chất, anh ta đã quên sạch những chi tiết bình thường;
tập trung nhìn vào chất lượng bên trong, anh ấy đã quên sạch vẻ bên ngoài. Anh ấy
chỉ nhìn thấy cái mà anh ấy muốn nhìn thấy, và không nhìn thứ mà anh không muốn
nhìn. Anh ấy nhìn thấy thứ mà anh ấy nên nhìn thấy, chứ không phải thứ không cần
nhìn thấy.”
Và con ngựa đó đương nhiên là một con vật vô cùng phi
thường.
Đây là một câu chuyện về thuyết bản chất, với ý nghĩa
rằng: mọi thứ đều có bản chất thật hay những tính chất ẩn giấu bên trong của
nó, mà chúng ta không thể nhìn thấy trực tiếp và cái “bản chất thật” này mới là
thứ thực sự quan trọng. Định nghĩa kinh điển đến từ John Locke: “bản thể” của bất
cứ thứ gì (very being of anything),
làm cho nó trở thành chính nó. Và do đó, cấu trúc thực sự bên trong, nhưng thường
chưa được biết đến của sự vật là nơi mà những phẩm chất có thể khám phá được của
chúng thuộc về, có thể được gọi là bản chất
của chúng.”
Đây là một cách tự nhiên để lý giải một số lĩnh vực nhất
định trên thế giới. Thí dụ như vàng. Chúng ta nghĩ về vàng, bỏ tiền ra mua nó,
và nói về nó, và khi chúng ta làm tất cả những điều này, chúng ta không nghĩ và
không nói về các thứ vô tình trông giống như vàng. Nếu bạn sơn một cục gạch màu
vàng, nó cũng không phải là một cục gạch bằng vàng. Dù sao thì giả kim là một
ngành nghề nghiêm túc. Nếu bạn muốn biết liệu thứ gì đó có phải vàng hay không,
bạn cần phải hỏi một chuyên gia, hoặc một nhà hóa học, để làm thí nghiệm và xác
nhận cấu trúc phân tử của nó.
Hay thí dụ như loài hổ. Hầu hết chúng ta đều không biết
chính xác là cái gì khiến một con hổ là một con hổ, nhưng không ai nghĩ rằng
con hổ chỉ được định nghĩa bởi vẻ ngoài của nó. Nếu cho người ta xem hình ảnh của
một con hổ được vẽ thêm để trông giống một con sư tử, thì ngay cả một đứa trẻ
cũng biết nó vẫn là một con hổ. Thay vào đó, có ý kiến cho rằng: thứ tạo nên
con hổ là bộ gien của nó, các cơ quan nội tạng, vân vân, những khía cạnh vô
hình của thú vật mà sẽ không thay đổi khi vẻ ngoài thay đổi.
Trong những thí dụ trên, người ta tìm đến khoa học để
tìm lời giải đáp, và điều này hợp lý. Các nhà khoa học đang trong quá trình định
hình những bản chất ẩn giấu của mọi thứ. Họ nói với chúng ta rằng bề ngoài
không phải tất cả, rằng, thủy tinh là chất lỏng, rằng rằng chim ruồi và chim
ưng được phân loại cùng nhau nhưng không được phân loại cùng với dơi, và sự
liên quan về gien giữa loài người và loài vượn gần gũi hơn nhiều so với giữa cá
heo và cá hồi. Nhưng mà, bạn không cần nghiên cứu khoa học để hiểu thuyết bản
chất. Mọi người đều hiểu rằng thứ gì đó nhìn thì giống X nhưng thực ra là Y; họ
biết rằng một người có thể hóa trang hoặc đồ ăn có thể được trình bày để trông
giống thứ gì đó khác. Ai trên thế giới này cũng đều có thể đặt câu hỏi rằng “Nó
thực sự là cái gì vậy?”
Những hội nhóm thường được xem như có bản chất riêng.
Những đồ cổ cũng vậy, các thứ như là công cụ hay vũ khí được chế tác bởi con
người – dù ở đây, bản chất không thuộc về phạm trù vật chất; chúng thuộc về lịch
sử và mục đích. Nếu bạn muốn biết một thứ cổ vật lạ từ thời đại khác hay quốc
gia khác thực sự là gì, bạn sẽ không hỏi một nhà hóa học, bạn sẽ thích nghe
chuyên gia về nhân chủng học, khảo cổ học và lịch sử học nói hơn.
Thuyết bản chất cũng xâm chiếm ngôn ngữ của chúng ta.
Để chứng minh điều này, hay nhìn xem ngôn ngữ của người không theo thuyết bản
chất trông như thế nào. Jorge Luis Borges đã phát minh ra cuốn bách khoa toàn
thư tiếng Trung Quốc The Celestial
Emporium of Benevolent Knowledge, chia động vật ra làm nhiều loại, bao gồm:
-
Những loài vật thuộc về nhà vua
-
Những loài vật nhìn từ xa giống như con ruồi
-
Những loài vật có thể đập bể chậu hoa
Điều này thật thông minh… bởi vì nó thật kỳ quặc. Phân
loại “những loài vật mà nhìn từ xa giống như con ruồi” là một cách phân loại
khá là logic, nhưng nó không phải là phương thức mà chúng ta hay dùng để nhận định
về thế giới này. Không có loại ngôn ngữ đang tồn tại nào có một danh từ để mô tả
cái phân loại này, vì nó quá sức hời hợt. Danh từ dùng để mô tả cái gì đó sâu sắc
hơn; chúng đề cập đến những thứ được cho là có chung với nhau những đặc tính
sâu sắc. Như nhà lý thuyết tiến hóa Stephen Jay Gould đã nói, chúng ta phân loại
không chỉ để tránh sự lộn xộn, mà chúng còn là “lý thuyết về nền tảng của trật
tự tự nhiên.”
Đặc điểm này của ngôn ngữ này tạo ra sự khác biệt thực
tế, đặc biệt là khi chúng ta nói về con người. Tôi đã từng làm việc với trẻ em
mắc chứng tự kỷ và tôi thường được nhắc nhở rằng nên gọi bọn trẻ là “trẻ em mắc chứng tự kỷ” thay vì “trẻ tự kỷ” – vì người ta tin rằng tính
chất “trẻ em” ở đây quan trọng hơn là chứng rối loạn của chúng. Danh từ “trẻ tự
kỷ” diễn tả bản chất; còn cụm từ “trẻ em mắc chứng…” thì không.
(nguyên văn:
“children with autism” và “autistics”)
Chúng ta có thể dễ dàng châm biếm cười nhạo sự “đúng đắn
chính trị” này, nhưng các danh từ thực sự mang sức nặng bản chất. Trong bộ phim
Memento, Leonard Shelby đã nói: “Tôi không phải kẻ sát nhân. Tôi chỉ là một người
muốn làm cho mọi thứ đúng đắn.” Khi anh ta nói điều này, Shelby biết rằng anh
ta đã giết rất nhiều người. Nhưng điều đó không biến anh ta thành kẻ sát nhân bởi
vì kẻ sát nhân không chỉ là kẻ giết người; một kẻ sát nhân là một loại người nhất
định, có một tính chất sâu sắc nhất định, và Shelby phủ nhận rằng bản thân
không phải loại người này. Khi cầu thủ bóng chày John Rocker bị chỉ trích đã có
phát ngôn phân biệt chủng tộc trong một buổi phỏng vấn, anh ta đã nói rằng anh
ta không phải người phân biệt chủng tộc: “Bạn đánh một cú home run trong một giải
đấu không biến bạn thành người chuyên đánh home run… Phát biểu một câu như vậy
không khiến bạn thành người phân biệt chủng tộc.”
Một thí dụ nhẹ nhàng hơn, tôi đã từng ăn tối với một
người bạn và cô ấy đã nói rằng cô ấy không bao giờ ăn thịt. Nhưng cô ấy đã nổi
giận khi tôi gọi cô ấy là người ăn chay. “Tôi không thích ăn chay,” cô ây nói –
“tôi chỉ không ăn thịt mà thôi.” Cô ấy nhìn nhận chế độ ăn uống của mình là một
tính chất ngẫu nhiên không quá quan trọng.
VẤN
ĐỀ CỦA THUYẾT BẢN CHẤT
Thuyết bản chất thường là có tính lý trí và thích
nghi: nếu bạn chỉ nhìn vào vẻ bề ngoài, bạn sẽ mua nhầm ngựa. Nếu một người nào
đó đã quan sát thế giới thực vật và động vật mà không nhận ra rằng những thứ
trong cùng chủng loại có những điểm chung sâu sắc hơn vẻ bề ngoài: thí dụ như một
số loại động vật có khả năng thuần chủng, hoặc một số loại cây cụ thể có khả
năng chữa bệnh, người đó có thể không sống lâu bằng một người có cái nhìn sâu sắc
hơn. Trong thời hiện đại, các thành tựu có được nhờ dự đoán và giải thích của
khoa học chứng minh rằng người ta đã đúng đắn khi nghiên cứu về những tính chất
sâu bên trong thay vì chỉ nhìn bề ngoài của sự vật.
Nhưng thuyết bản chất đôi khi cũng khiến chúng ta nhầm
lẫn. Nhà tâm lý học xã hội Henri Tajfel tổ chức một nghiên cứu kinh điển về
“nhóm thiểu số”. Ông đã phát hiện ra rằng khi bạn chia nhóm mọi người dựa trên
phương thức ngẫu nhiên – thí dụ như tung đồng xu – thì người ta không chỉ thích
nhóm của chính họ hơn mà còn tin rằng giữa các nhóm có sự khác biệt đáng kể, và
nhóm của họ ưu việt hơn. Sự thiên vị bản chất này khiến chúng ta nhìn thấy những
tính chất sâu sắc ngay cả khi chúng không tồn tại.
Tuy nhiên, khi những đặc điểm bề ngoài khác biệt quá
rõ ràng, thí dụ như hình dáng khuôn mặt hay màu da, đương nhiên là chúng ta sẽ
không bỏ qua chúng như những khác biệt ngẫu nhiên; mà chúng ta còn cho rằng những
đặc điểm này rất quan trọng. Ở một mức độ nào đó thì đúng là như vậy. Thí dụ
như nếu bạn biết một người nào đó trông ra sao, như màu da của anh ta, thì bạn
đã dự đoán nhiều tính chất không nhìn thấy được của anh ta, ví dụ như thu nhập
bình quân, tôn giáo, xu hướng chính trị, vân vân. (Khi tôi viết những dòng này
thì một người Mỹ da màu có khuynh hướng bầu cho đảng Dân Chủ hơn một người Mỹ
da trắng.) Chủng tộc quan trọng phần lớn bởi vì những người có vẻ ngoài khác
nhau đến từ các quốc gia khác nhau, sống ở các khu vực khác nhau và có lịch sử
khác nhau.
Nhưng thuyết bản chất vượt lên trên chuyện này; người
ta có khuynh hướng nghĩ về nhóm người – bao gồm chủng tộc – trên phương diện
sinh học. Nhà tâm lý học Susan Gelman phê phán một người khi người đó tuyên bố,
“Tôi không thể hẹn họ với những người không phải là Do thái thuần huyết.” (nguyên văn: mitochrondrial)
Ở đây, thuần huyết –
DNA ty thể được di truyền theo mẫu hệ, và vì thế, theo định nghĩa Do Thái
giáo thì phát biểu này khá thông minh, mặt khác nó cũng định hình cách chúng ta
đang nghĩ về phân loại người dựa theo khía cạnh sinh học. Trước DNA thì chúng
ta hay dùng máu, theo quan niệm rằng một giọt máu cũng đủ để coi ai đó là người
gốc Phi.
Thuyết bản chất sinh học về chủng tộc không hoàn toàn
sai. Người Thụy Điển to lớn hơn người Nhật Bản lớn hơn người lùn, và điều này
rõ ràng là do gien. Và khi chúng ta xếp mình vào loại này hay loại khác, ngay cả
những người theo chủ nghĩa tự do kiên quyết nhất cũng hiểu rằng đây là vấn đề về
nguồn gốc sinh học. Nhà tâm lý học Francisco Gil-White chỉ ra rằng khi ai đó
nói rằng cô ấy có một nửa dòng máu Ailen, 1/4 người Ý và 1/4 người Mexico, cô ấy
không nói về mức độ thông thạo các nền văn hóa khác nhau của cô ấy, hoặc cô ấy
đã quyết định mình thuộc về nhóm nào nhiều hơn, mà cô ấy đang nói về các sắc tộc
của ông bà mình.
Tuy nhiên, cách phân loại không thực sự đúng như mọi
người thường nghĩ. Thí dụ, gien không xác định được liệu rằng một người có phải
người Do Thái hay không. Một người lớn có thể trở thành người Do Thái bằng cách
cải đạo; một đứa treo có thể trở thành người Do Thái khi được nhận nuôi bởi một
gia đình Do Thái. Con của tôi được sinh ra bởi một người cha Do Thái và một người
mẹ không phải Do Thái – vậy chúng là người Do Thái, nửa Do Thái hay không phải
Do Thái? Câu trả lời sẽ dựa vào chính trị và tôn giáo, chứ không phải dựa vào
khoa học nữa.
Trường hợp này vẫn còn tính là dễ dàng, nhưng những
trường hợp tương tự khác thì khó hơn. Thí dụ như Tổng thống Barack Obama thường
được mô tả như người Mỹ gốc Phi hay người da màu, ngay cả khi ông được sinh ra
bởi một người da màu điển hình và một người da trắng điển hình. Theo nhận định
xã hội, thì da màu đã thắng da trắng. Nói một cách tổng quát hơn, các danh mục
như “da màu” bao gồm những người thuộc các nhóm hoàn toàn khác nhau — từ Haiti
đến Úc bản địa — những người bị xếp vào với nhau chỉ bởi vì lỡ cùng một tông
màu da. (nguyên văn: tác giả chơi chữ,
“by dint of a shared property that is literally only skin deep.) Có
vẻ hơi điên nếu cho rằng họ có sự liên kết sâu sắc hơn.

0 nhận xét:
Đăng nhận xét