Chương 13
Từ Bộ Não đến Tâm Trí: Ranh Giới Mới
Bộ não con người là bậc thầy
của sự lừa dối. Nó tạo ra trải nghiệm và chỉ đạo hành động với kỹ năng của một ảo
thuật gia, nó không bao giờ tiết lộ cách thức hoạt động của nó, đồng thời, nó
mang lại cho chúng ta cảm giác tin tưởng sai lầm rằng các sản phẩm của nó — những
trải nghiệm hàng ngày của chúng ta — cho thấy chúng ta thấy rõ hoạt động bên
trong của nó. Niềm vui, nỗi buồn, sự ngạc nhiên, sợ hãi và những cảm
xúc khác dường như rất khác nhau và chúng ta có cảm giác rằng những cảm xúc này
được tích hợp sẵn, đến mức chúng ta cho rằng chúng có những được tạo ra bởi các
nguồn riêng biệt tách rời nhau bên trong chúng ta. Khi bạn có một bộ não mang
tính chủ nghĩa tinh chất, thì bạn sẽ dễ tạo ra một lý thuyết tâm trí sai lầm.
Nói cho cùng, chúng ta chính là một mớ các bộ não đang cố gắng nghiên cứu xem bộ
não hoạt động như thế nào.
Trong nhiều thiên niên kỷ,
sự lừa dối này hầu hết đã thành công. Các tinh chất của tâm trí nhận có thay đổi
sau mỗi một hoặc hai thế kỷ, nhưng phần lớn, ý tưởng về các cơ trí óc vẫn bị kẹt
trong sự lừa dối này. Ngày nay, việc lượt bỏ hết những tinh chất này vẫn là một
vấn đề mang tính thử thách, bởi vì bộ não được cấu tạo để phân loại, và phân loại
thì tạo ra chủ nghĩa tinh chất. Mỗi danh từ chúng ta thốt ra lại tạo ra một cơ
hội để hình thành một tinh chất, mặc dù chúng ta không có chủ ý làm điều đó.
Từng chút một, khoa học về
tâm trí cuối cùng cũng đang loại bỏ những bánh xe phụ giúp giữ thăng bằng ở
giai đoạn đầu mới tập lái (training wheels) của nó. Hộp sọ không còn là bức tường
thành như trước nữa, hiện này, công nghệ quét ảnh não có thể giúp chúng ta quan
sát não người mà không gây một tổn hại nào. Các thiết bị đo lường có thể mang
lên người đang giúp chuyển tâm lý học và khoa học thần kinh ra khỏi phòng thí
nghiệm và đi vào cuộc sống thực. Tuy nhiên, khi chúng ta tích lũy hàng petabyte
dữ liệu não bộ bằng thứ đồ chơi công nghệ thế kỷ 21, giới truyền thông, các nhà
đầu tư mạo hiểm, hầu hết sách giáo khoa và một số nhà khoa học vẫn đang giải
thích dữ liệu đó bằng lý thuyết về tâm trí của thế kỷ 17 (đã được nâng cấp
thành phiên bản não tướng học đẹp đẽ từ Plato 1.0). Khoa học thần kinh đã mang
lại sự hiểu biết về não bộ và chức năng của nó tốt hơn nhiều so với những trải
nghiệm của chính chúng ta từng có, không chỉ về cảm xúc mà còn đối với tất cả
các sự kiện tinh thần.
Nếu tôi đã làm việc một
cách chính xác, thì bây giờ bạn đã có thể nhận ra rằng, những điều trông như sự
thật về cảm xúc trong những cuốn sách giáo khoa và các phương tiện truyền thông
nổi tiếng kia thực sự rất đáng nghi ngờ và cần phải được xem xét lại. Trong những
chương trước, bạn đã biết được rằng các cảm xúc là một phần của cơ chế sinh học
trong bộ não và cơ thể con người, nhưng không phải vì bạn có những mạch thần
kinh riêng biệt dành cho mỗi cảm xúc. Các cảm xúc là kết quả của quá trình tiến
hóa, nhưng không phải với tư cách là các tinh chất được truyền lại từ các động
vật tổ tiên của chúng ta. Bạn trải nghiệm cảm xúc mà không cần phải ý thức về nỗ
lực đã bỏ ra, nhưng điều đó không có nghĩa là bạn là một người nhận những trải
nghiệm này một cách thụ động. Bạn nhận thức cảm xúc mà không cần hướng dẫn,
nhưng điều này không có nghĩa là các cảm xúc có tính bẩm sinh hay không cần phải
học hỏi. Thứ bẩm sinh chính là việc con người dùng các khái niệm để xây dựng
nên các thực tại xã hội, và sau đó, đến lượt thực tại xã hội thiết lập ngược lại
não bộ. Các cảm xúc là những tạo phẩm rất thật từ thực tại xã hội, được thực hiện
bởi bộ não con người trong sự kết hợp với bộ não của những con người khác.
Trong chương cuối này,
chúng ta sẽ sử dụng lý thuyết kiến tạo cảm xúc như một chiếc đèn phin để tập
trung vào các vấn đề lớn hơn về tâm trí và não bộ. Chúng ta sẽ xem xét kỹ bộ
não dự đoán và mọi thứ chúng tôi đã học được về nó, chẳng hạn như sự thoái hóa,
hệ thống cốt lõi và thiết lập để phát triển khái niệm, để làm sáng tỏ loại tâm trí có nhiều khả năng xuất hiện
từ loại não bộ này. Chúng ta sẽ xem khía cạnh nào của tâm trí có tính phổ quát
hoặc không thể tránh khỏi, khía cạnh nào thì không, và điều này có ý nghĩa gì đối
với sự hiểu biết rộng hơn của bạn về người khác và về chính bạn.
Kể từ khi con người bắt đầu
viết về nhân loại, thì đã có một giả định lớn rằng tâm trí con người được tạo
ra bởi một đấng toàn năng. Đối với người Hy Lạp cổ đại, đấng toàn năng này
chính là thiên nhiên dưới hình hài của các vị thần. Cơ đốc giáo đã gạt bỏ bản
chất con người ra khỏi Mẹ Thiên nhiên và đặt nó vào tay của một Đức Chúa Trời
toàn năng, duy nhất. Darwin giật nó lại và gán cho nó một tính năng cụ thể của
tự nhiên được gọi là sự tiến hóa. Đột nhiên bạn không còn là một linh hồn bất tử,
và tâm trí bạn không còn là chiến trường của thiện và ác, chính nghĩa và tội lỗi.
Thay vào đó, bạn là một tập hợp các lực lượng nội tại chuyên biệt được tạo ra bởi
quá trình tiến hóa, và chúng đấu tranh với nhau để kiểm soát hành động của bạn.
Người ta cho là bộ não của bạn chiến đấu với cơ thể của bạn, lý trí chiến đấu với
cảm xúc, vỏ não chiến đấu với vỏ não dưới và các lực lượng ngoại vị chiến đấu với
lực lượng nội tại của bạn. Với bộ não động vật được bao bọc trong vỏ não lý
trí, người ta cho là con người khác biệt với các loài động vật khác trong tự
nhiên, không phải vì chúng ta có linh hồn mà bởi vì chúng ta là đỉnh cao của sự
tiến hóa, được ban tặng cho sự sáng suốt và lý trí. Do đó, bạn đến với thế giới
được định hình trước này để phản hồi với những thứ mà nó đưa đến cho bạn theo một
cách cụ thể, không phải bởi Thượng Đế mà là bởi gene của bạn. Các trải nghiệm
như trải nghiệm cảm xúc được cho là bằng chứng cho việc bạn là một động vật
xuyên suốt. Nhưng bạn đặc biệt trong vương quốc động vật bởi vì bạn có thể vượt
qua con thú bên trong bản thân mình.
Tuy nhiên, như bạn đã biết
từ cuốn sách này, những khám phá mới về bộ não đã cách mạng hóa hiểu biết của
chúng ta về ý nghĩa của loài người.
Tâm trí của bạn chắc chắn
là một sản phẩm của quá trình tiến hóa, nhưng nó không chỉ được định hình bởi mỗi
gene. Não bạn chắc chắn là được tạo từ các mạng lưới neuron, nhưng đó chỉ là một
trong số các yếu tố để phát triển tâm trí con người. Bộ não của bạn cũng được
phát triển bên trong một cơ thể, sống giữa những bộ não khác trong các cơ thể
khác, những thứ giúp cân bằng ngân sách cơ thể bạn và mở rộng ngách cảm tính của
bạn thông qua các hành động và ngôn từ.
Tâm trí của bạn không phải
là một chiến trường giữa các lực lượng nội tại trái ngược nhau – cảm xúc và lý
trí – những thứ xác định trách nhiệm của bạn về hành vi của chính mình. Thay
vào đó, tâm trí của bạn là một khoảnh khắc được tính toán trong bộ não dự đoán
liên tục của bạn.
Bộ não của bạn dự đoán với
các khái niệm của nó, và trong khi các nhà khoa học vẫn đang tranh cãi xem liệu
một số khái niệm là bẩm sinh hay là do học được, thì việc bạn học chúng khi bộ
não tự thiết lập chính nó với môi trường vật chất và xã hội xung quanh là điều
không cần phải tranh cãi nữa. Những khái niệm này đến từ văn hóa của chính bạn,
và chúng giúp thương lượng vấn đề nan giải cơ bản của việc sống theo bầy đàn –
đi trước hay đi chung – một trận chiến luôn có nhiều hơn một giải pháp. Một số
nền văn hóa thì ủng hộ việc đi chung, một số khác lại thiên về việc đi trước.
Tất cả những khám phá này
đều cho thấy một kiến thức quan trọng: bộ não của con người tiến hóa, trong bối
cảnh văn hóa loài người, để tạo ra nhiều
hơn một loại tâm trí. Ví dụ, những người ở những nền văn hóa Tây phương trải
nghiệm suy nghĩ và trải nghiệm cảm xúc về cơ bản là khác nhau và đôi khi còn
mâu thuẫn với nhau. Trong khi đó, các nền văn hóa Bali và Ilongot, và - ở một mức
độ nhất định nào đó - các nền văn hóa được dẫn dắt bởi triết học Phật giáo,
không có quá nhiều sự khác biệt sâu sắc giữa suy nghĩ và cảm xúc.
Làm thế nào một loại não bộ
với các mạng lưới giống nhau lại có thể sinh ra các loại tâm trí khác nhau? Làm
thế nào mà cũng một loại não bộ lại tạo ra tâm trí của bạn, đầy đủ các khái niệm và trải nghiệm cảm xúc, và tâm trí của tôi với các phân mục khác nhau của
những khái niệm giống nhau và có thể là những khái niệm cảm xúc khác nhau, và
tâm trí của người Bali – nơi mà không có sự phân biệt rõ ràng giữa khái niệm và
trải nghiệm dành cho suy nghĩ và cảm xúc, mỗi loại tâm trí này lại thích nghi với
môi trường vật chất và xã hội xung quanh nó?
Nhìn bề ngoài, tất cả các
bộ não phát triển bình thường của con người đều trông khá giống nhau, đặc biệt
nếu bạn tháo kính và nheo mắt. Tất cả chúng đều có hai bán cầu. Mỗi vỏ não đều
có năm thùy, có tới sáu lớp. Các tế bào thần kinh trong mọi vỏ não được kết nối
để nén thông tin thành các bản tóm tắt hiệu quả, tạo ra một hệ thống khái niệm
định hình hành động và trải nghiệm. Nhiều đặc điểm trong bộ não người cũng
có ở các loài động vật có vú khác, và một số đặc điểm thực sự cổ xưa của hệ thần
kinh của bạn thậm chí còn được tìm thấy trong côn trùng. (Một ví dụ là gen Hox,
tổ chức hệ thống thần kinh của động vật có xương sống từ đầu đến đuôi.)
Tuy nhiên, bộ não cũng có
nhiều khác biệt đáng kể giữa người và người: về vị trí của các rãnh và sườn vỏ
não, về số lượng tế bào thần kinh trong các lớp cụ thể của vỏ não hoặc trong
các vùng dưới vỏ, trong vi mạch giữa các neuron và sức mạnh kết nối trong các mạng
lưới não. Khi xét đến những chi tiết nhỏ này, không có hai bộ não nào từ cùng một
loài có cấu trúc hoàn toàn giống nhau.
Tương tự, trong một bộ não
đơn lẻ như não của bạn, thiết lập của nó cũng không cố định. Giống như thân cây
phát triển vào mùa xuân và thu hẹp lại vào mùa thu, các liên kết giữa các sợi
trục và đuôi gai của bạn tăng và giảm theo độ tuổi của bạn. Thậm chí, bạn phát
triển thêm các neuron ở mới ở những vùng não nhất định. Loại thay đổi về mặt
sinh học này – được gọi là độ linh hoạt của nạo – cũng xuất hiện kèm theo các
trải nghiệm. Các trải nghiệm của bạn được mã hóa trong thiết lập của bộ não và
có thể thay đổi cách mà bộ não được thiếp lập, làm tăng khả năng cho việc bạn sẽ
có cùng trải nghiệm một lần nữa, hoặc dùng những trải nghiệm quá khứ để tạo ra
trải nghiệm mới.
Và từ khoảnh khắc này sang
khoảnh khắc khác, hàng tỷ tế bào thần kinh của bạn liên tục tự cấu hình lại từ
mô hình này thành mô hình khác. Hóa chất được gọi là chất dẫn truyền thần kinh
làm cho điều này trở nên khả thi. Chúng cho phép các tín hiệu truyền qua lại giữa
các tế bào thần kinh và chúng tăng hoặc giảm các kết nối thần kinh trong tích tắc,
do đó các thông tin chảy dọc theo các con đường khác nhau. Các chất dẫn truyền
thần kinh khiến cho một bộ não duy nhất với một nhóm mạng duy nhất có thể kiến
tạo các sự kiện tinh thần đa dạng, tạo ra thứ gì đó còn lớn hơn tổng của các phần
gộp lại.
Tất nhiên, chúng ta lại có
sự thoái hóa: nhiều tập hợp neuron khác nhau cùng tạo ra một kết quả giống
nhau. Ngoài ra, cho dù bạn quan sát mô não một cách nhỏ lẻ hay phức hợp – dưới
dạng các mạng lưới, các vùng não hoặc các neuron riêng lẻ — thì mô não đó đều
đóng góp vào nhiều loại sự kiện tinh thần, chẳng hạn như tức giận, chú ý hoặc
thậm chí thị giác hoặc thính giác.
Thiết lập vi mô. Các chất
dẫn truyền thần kinh. Sự linh hoạt não bộ. Sự thoái hóa. Hệ thống mạch thần
kinh đa mục đích. Các nhà khoa học thần kinh đã tóm lược sự đa dạng đáng kinh
ngạc này bằng các gọi bộ não là một “hệ thống phức tạp”. Ý tôi không phải là phức
tạp một cách thông tục, như trong “chúa ơi, bộ não đó chắc hẳn là rất phức tạp
(complicated)” mà là một cái gì đó trang trọng hơn. Độ phức tạp (complexity) là một thước đo để mô tả các cấu trúc tạo
ra thông tin và truyền tải thông tin một cách hiệu quả. Một hệ thống có độ phức
tạp cao có thể tạo ra nhiều mẫu mới bằng cách kết hợp các mẩu và các mảnh của
các mẫu cũ. Bạn có thể tìm thấy các hệ thống phức tạp trong khoa học thần kinh,
vật lý, toán học, kinh tế học và các ngành học thuật khác.
Não người là một hệ thống
có tính phức tạp cao, bởi vì trong một cấu trúc vật lý mà nó có thể tái cấu
hình hàng tỷ tế bào thần kinh của mình để tạo ra một kho khổng lồ các trải nghiệm,
nhận thức và hành vi. Nó đạt được độ phức tạp cao thông qua một sự sắp xếp cực
kỳ hiệu quả để tập trung vào các “trung tâm” (hubs) chính yếu như đã đề cập
trong chương 6. Cách tổ chức này cho phép bộ não kết hợp nhiều thông tin từ nhiều
nguồn một cách hiệu quả tới mức có có thể hỗ trợ ý thức. Ngược lại, mô hình não
bộ theo quan điểm cổ điển — các trung tâm độc lập với các chức năng riêng biệt
— sẽ là một hệ thống có độ phức tạp thấp vì mỗi trung tâm sẽ tự hoàn thành chức
năng duy nhất của nó.
Một bộ não có độ phức tạp
và thoái hóa cao tạo ra những lợi thế đặc biệt. Nó có thể tạo ra và vận chuyển
nhiều thông tin hơn. Nó mạnh mẽ và đáng tin cậy hơn, với nhiều con đường để đi
đến cùng một điểm. Nó có khả năng chống lại thương tích và bệnh tật tốt hơn; bạn
đã thấy những ví dụ sống động về cặp song sinh bị tổn thương hạch hạnh nhân
(chương 1) và Roger với mạch não dự đoán bị tổn thương (chương 4). Do đó, một bộ
não như vậy sẽ giúp bạn có nhiều khả năng sống sót hơn, từ đó truyền lại gene của
mình cho thế hệ tiếp theo.
Chọn lọc tự nhiên ưu ái một
bộ não phức tạp. Sự phức tạp, chứ không phải lý trí, mới là thứ khiến bạn trở
thành kiến trúc sư cho trải nghiệm của mình. Gene của bạn cho phép bạn và những
người khác tái định hình bộ não, và từ đó, tái định hình tâm trí của bạn.
Sự phức tạp ở đây ẩn ý rằng,
sơ đồ thiết lập của một bộ não không phải là một tập hợp các hướng dẫn cho một
loại tâm trí riêng lẻ với các cơ quan trí óc phổ quát. Nhưng não người có rất
ít khái niệm tinh thần được thiết lập sẵn, ví dụ như (có thể là) sự dễ chịu và
khó chịu (mức độ khoái cảm – valence), kích động và điềm tĩnh (mức độ kích động
– arousal), âm thanh lớn và nhỏ, sáng và tối, và những tính chất khác của ý thức.
Thay vào đó, đa dạng mới là điều bình thường. Não người được cấu trúc để học được
nhiều khái niệm khác nhau và để tạo ra nhiều thực tại xã hội khác nhau, tùy thuộc
vào các tình huống mà nó tiếp xúc. Sự đa dạng này không phải là vô hạn hoặc tùy
ý; nó bị hạn chế bởi nhu cầu của bộ não về hiệu quả và tốc độ, bởi thế giới bên
ngoài, và bởi tình thế tiến thoái lưỡng nan của con người trong việc đi trước
hay đi chung. Văn hóa của bạn trao cho bạn một hệ thống các khái niệm, giá trị
và thông lệ cụ thể để giải quyết tình huống tiến thoái lưỡng nan này.
Chúng ta không cần có một
tâm trí phổ quát, với một tập hợp các khái niệm phổ quát, để tuyên bố rằng
chúng là cùng một loài. Tất cả những điều chúng ta cần ở đây là một bộ não người
vô cùng phức tạp, thứ có thể tự thiết lập chính nó với môi trường vật chất và
xã hội xung quanh, để tạo ra vô hạn các loại tâm trí khác nhau.
Một bộ não người có thể tạo
ra nhiều loại tâm trí khác nhau, nhưng tất cả các tâm trí con người đều có một
vài thành phần giống nhau. Trong hàng thiên niên kỷ, các học đã đã tin rằng những
thành phần chung này chính là các tinh chất, nhưng thực tế thì không phải vậy.
Các thành phần này là ba mặt của tâm trí mà chúng ta đã gặp trong cuốn sách
này: hiện thực hóa cảm tính, các khái niệm và thực tại xã hội. Chúng (và có lẽ
một số khác nữa) là không thể tránh khỏi và do đó, chúng mang tính phổ quát, ngoại
trừ bệnh tật, dựa trên giải phẫu và chức năng của não.
Hiện thực hóa cảm tính, hiện
tượng mà bạn trải nghiệm thứ bạn tin tưởng, là không thể tránh khỏi vì thiết lập
của chính bạn. Các vùng não điều chỉnh ngân sách cơ thể trong mạng lưới cảm thụ
nội tại của bạn – nhà khoa học miệng rộng và gần như bị điếc bên trong bạn –
chính là nhà cầm quyền mạnh mẽ nhất trong bộ não, và các vùng giác quan sơ cấp
khác sẵn sàng nghe theo ông ta. Các dự đoán ngân sách cơ thể luôn đi theo cảm
tính, chứ không phải lô gic hay lý trí, và chúng chính là tài xế chính để dẫn dắt
trải nghiệm và hành vi của bạn. Chúng ta đều nghĩ rằng thức ăn “ngon” như thể
mùi vị vốn có sẵn trong thức ăn, trong khi mùi vị thực sự là một kiến tạo và sự
ngon miệng chính là cảm xúc của chính chúng ta. Khi một người lính ở chiến trường
nhận thức một khẩu súng trong tay ai đó – trong khi thực tế là không có khẩu
súng nào cả, thì có thể anh ấy đã thực sự nhìn
thấy khẩu súng đó; đây không phải là một lỗi lầm mà là một nhận thức chân
chính. Các thẩm phán khi đói bụng trong phiên tòa ân xá thường ra các quyết định
tiêu cực hơn.
Không ai có thể hoàn toàn
tránh khỏi việc hiện thực hóa cảm tính. Các nhận thức của bạn không phải là một
bức ảnh chụp thế giới. Chúng thậm chí còn không phải là một một bức tranh có chất
lượng như hình chụp, như Vermeer. Chúng giống tranh của Van Gogh hay Monet hơn.
(Hoặc, trong những ngày tồi tệ, chúng giống với tranh của Jackson Pollock).
Nhưng bạn có thể nhận ra việc hiện thực hóa cảm
tính này thông qua các hiệu quả của nó. Bất cứ khi nào bạn có cảm giác rằng bạn
biết thứ gì đó là thật, thì nó chính là hiện thực hóa cảm tính. Khi bạn nghe một
tin nào đó hay đọc một câu chuyện và bạn lập tức tin tưởng rằng đó là thật, thì
đó cũng là hiện thực hóa cảm tính. Hoặc nếu bạn lập tức bác bỏ một tin nhắn nào
đó, hoặc thậm chí là chán ghét người đưa tin, thì đó cũng là hiện thực hóa cảm
tính. Chúng ta đều thích những thứ củng cố niềm tin của chúng ta, và thường
ghét bỏ những thứ phản lại niềm tin của chúng ta.
Hiện thực hóa cảm tính khiến
bạn tin chắc vào thứ gì đó, ngay cả khi các bằng chứng chống lại nó. Đó không
phải là vì sự thiếu hiểu biết hay ác tâm - nó chỉ đơn giản là vấn đề về cách bộ
não được thiết lập và vận hành. Mọi thứ bạn tin và mọi thứ bạn thấy đều được tô
màu bởi hoạt động cân bằng ngân sách của bộ não bạn.
Khi chúng ta không kiểm
tra việc hiện thực hóa cảm tính này, chúng ta sẽ trở nên cứng nhắc và không
linh hoạt. Khi hai nhóm đối lập nhau tin tưởng một cách chắc chắn là họ đúng,
thì họ sẽ dính vào các cuộc đụng độ chính trị, các trận chiến tư tưởng, thậm
chí, là chiến tranh. Hai quan điểm về bản chất con người mà bạn đã thấy trong
quyển sách này, từ quan điểm cổ điển và quan điểm kiến tạo, đã chiến đấu với
nhau trong vài ngàn năm rồi.
Trong trận chiến vẫn đang
tiếp diễn này, việc hiện thực hóa cảm tính đã khiến mỗi bên đóng khuôn quan điểm
của đối phương. Quan điểm cổ điển được biếm họa là thuyết quyết định sinh học,
rằng văn hóa hoàn toàn không liên quan và gen là định mệnh tuyệt đối, biện minh
cho trật tự xã hội hiện tại là ai giàu có và ai khốn khó. Bức tranh biếm họa đó
mô tả một phiên bản cực đoan của việc thích “đi trước” hơn là “đi chung”. Mặt
khác, quan điểm kiến tạo bị chỉ trích là chủ nghĩa tập thể tuyệt đối, với cái
giá phải trả là tính cá nhân, hoặc bị hiểu nhầm thành một quan điểm trong đó
con người là một siêu tổ chức lớn như Borg trong Star Trek, và bộ não là
"một viên thịt đồng nhất" trong đó tất cả các neuron có chức năng
hoàn toàn giống nhau. Nó là một phiên phải mở rộng của “đi chung” chiến thắng
“đi trước”. Trong cuộc chiến này, mỗi bên đều bỏ qua những điều tinh tế và sự
đa dạng – thứ chắc chắn phải xảy ra trong cộng đồng khoa học. Nếu bạn đã đọc đến
đây, bạn sẽ thấy rằng bằng chứng chỉ ra một kết luận có sắc thái hơn: ranh giới
phân chia giữa sinh học và văn hóa là rất nhỏ. Văn hóa hình thành từ chọn lọc tự
nhiên, và khi văn hóa ngấm vào da và đi vào não, nó giúp hình thành thế hệ con
người tiếp theo.
Hiện thực hóa cảm tính là
không thể tránh khỏi, nhưng bạn không phải hoàn toàn bất lực trước nó. Cách
phòng vệ tốt nhất để tránh việc hiện thực hóa cảm tính này là sự tò mò. Tôi đã
nói với các sinh viên của mình rằng, hãy hết sức cẩn thận khi bạn cảm thấy yêu
thích hay ghét bỏ thứ mà bạn đang đọc. Những cảm giác này có thể mang ý nghĩa rằng,
các ý tưởng mà bạn đang đọc vốn đã nằm sẵn trong ngách cảm tính của bạn, vì thế
hay mở rộng tư tưởng với chúng. Cảm tính của bạn không phải là bằng chứng cho
thấy loại khoa học này là tốt hay xấu. Nhà sinh học Stuart Firestein trong cuốn
sách thú vị của ông ấy Ignorance, đã
khuyến khích mọi người tò mò để học hỏi về thế giới. Ông đề nghị rằng chúng ta
hãy thoải mái với những điều không rõ ràng, hãy tìm niềm vui trong những bí ẩn,
và hãy cẩn thận để luôn nghi ngờ. Những điều này sẽ giúp bạn nhìn mọi bằng chứng
phản lại niềm tin của bạn một cách điềm tĩnh, và trải nghiệm niềm vui trong
chuyến săn tìm tri thức.
Điều không thể tránh khỏi
thứ hai của tâm trí chính là việc bạn có sẵn các khái niệm, bởi vì não người được
thiết lập để tạo ra một hệ thống khái niệm. Bạn tạo ra các khái niệm cho các chi
tiết vật lý nhỏ nhất, như những mảnh ánh sáng và âm thanh thoáng qua và cho những
ý tưởng vô cùng phức tạp như “Trường phái ấn tượng” và “Những điều không nên
mang theo khi đi máy bay”. (Cái thứ hai bao gồm súng đã nạp đạn, đàn voi và dì
Edna nhàm chán của bạn.) Các khái niệm về não bộ của bạn là mô hình thế giới
giúp bạn tồn tại, đáp ứng nhu cầu năng lượng của cơ thể và cuối cùng xác định
khả năng truyền lại gen của bạn cho thế hệ tiếp theo.
Tuy nhiên, thứ có thể
tránh khỏi, là việc bạn có những khái niệm cụ
thể. Chắc chắn là mọi người đều có một số khái niệm cơ bản trong thiết lập
của mình, như “tích cực” và “tiêu cực”, nhưng không phải tất cả mọi tâm trí đều
có những khác niệm khác biệt cho “cảm xúc” và “suy nghĩ”. Bất kỳ tập hợp khái
niệm nào giúp bạn điều chỉnh ngân sách cơ thể và sống sót mà liên quan đến bộ
não của bạn đều ổn cả. Các khái niệm cảm xúc mà bạn học được từ thời thơ ấu chỉ
là một ví dụ điển hình.
Các khái niệm không chỉ tồn
tại “trong đầu bạn”. Giả sử như tôi với bạn uống cà phê nói chuyện với nhau, và
khi tôi nói ra một nhận xét dí dỏm nào đó, bạn mỉm cười và gật đầu. Nếu bộ não
của tôi dự đoán về sự mỉm cười và gật đầu này của bạn, thì thông tin thị giác đầu
vào đến não bộ của tôi sẽ xác định những chuyển động này, sau đó, dự đoán của chính
tôi – ví dụ như, gật đầu lại với bạn – sẽ trở thành hành động của tôi. Sau đó,
đến lượt bạn – vốn đã dự đoán cái gật đầu của tôi, cùng với một loạt các khả
năng khác, điều này gây ra sự thay đổi trong thông tin cảm giác đầu vào của bạn,
tương tác với dự đoán của bạn. Nói cách khác, neuron của bạn tác động lẫn nhau
không chỉ thông qua các kết nối trực tiếp mà còn gián tiếp thông qua môi trường
bên ngoài – tương tác với tôi. Chúng ta đang trình diễn một điệu nhảy đồng điệu
giữa dự đoán và hành động, điều chỉnh ngân sách cơ thể của nhau. Sự đồng điệu
này là nền tảng của sự liên kết xã hội và sự đồng cảm; nó khiến mọi người tin
tưởng và yêu thích nhau, và nó là một thứ vô cùng quan trọng trong sự gắn kết
giữa cha mẹ và con cái.
Do đó, trải nghiệm cá nhân
của bạn được kiến tạo một cách chủ động bởi các hành động của bạn. Bạn
điều chỉnh thế giới, và thế giới điều chỉnh bạn trở lại. Theo một nghĩa nào đó,
bạn là kiến trúc sư của môi trường cũng như trải nghiệm của chính bạn. Chuyển động
của bạn, và chuyển động tương ứng của người khác, tác động đến thông tin cảm
giác đầu vào sắp tới của bạn. Những cảm giác sắp tới này, giống như bất kỳ trải
nghiệm nào khác, có thể tái thiết lập não bạn. Do đó, bạn không chỉ là kiến
trúc sư tạo nên trải nghiệm của mình, bạn còn là thợ điện nữa. (wiring – do não là một hệ thống các circuit
(mạch, mạch điện) nên thiết lập của não cũng tương tự với việc lắp ráp mạch điện
aka mạch thần kinh trong não)
Các khái niệm rất quan trọng
với việc sống còn của loài người, nhưng chúng ta cũng phải cẩn thận với chúng bởi
vì các khái niệm đã mở cửa cho chủ nghĩa tinh chất. Chúng khuyến khích chúng ta
nhìn thấy những thứ không tồn tại. Firestein đã mở đầu cuốn sách Ignorence với một thành ngữ cổ, “Khó mà
tìm thấy một con mèo đen trong phòng tối, đặc biệt là khi không có con mèo đen
nào cả.” Câu này đã tóm lược một cách tuyệt đẹp quá trình tìm kiếm tinh chất. Lịch
sử có nhiều ví dụ về việc những nhà khoa học tìm kiếm tinh chất một cách vô vọng
vì vốn dĩ họ đã dùng sai khái niệm dẫn dắt các giả thuyết của họ. Firestein đưa
ra ví dụ về ete ánh sáng, một chất bí ẩn được cho là lấp đầy vũ trụ để ánh sáng
có môi trường truyền qua. Firestein viết rằng ête là một con mèo đen, và các nhà
vật lý đã đưa ra lý thuyết trong một căn phòng tối, sau đó thử nghiệm trong đó,
tìm kiếm bằng chứng về một con mèo không tồn tại. Điều tương tự cũng áp dụng
cho quan điểm cổ điển về cảm xúc, trong đó các cơ quan tâm trí chính là các
phát minh của con người khiến cho đáp án và câu hỏi nhầm lẫn với nhau.
Các khái niệm cũng khiến
chúng ta không nhìn thấy những thứ vốn đang hiện hữu. Một sọc của cầu vồng
là một thứ ảo giác, nó vốn chứa đựng vô số các tần số khác nhau, nhưng chính
các khái niệm về “màu đỏ”, “màu xanh” và các màu khác đã khiến bộ não của bạn
phớt lờ sự đa dạng này. Tương tự, khái niệm về một bộ mặt phụng phịu là đại diện
cho “nỗi buồn” sẽ làm giảm tính đa dạng trong danh mục cảm xúc này.
Điều không thể tránh khỏi
thứ ba trong tâm trí mà chúng ta bàn tới chính là thực tại xã hội. Khi bạn dược
sinh ra, bạn không thể tự điều chỉnh ngân sách cơ thể của chính mình – ai đó phải
giúp bạn làm điều này. Trong quá trình này, não của bạn học thống kể, tạo ra
các khái niệm, và tự lắp ráp dây điện cho chính nó để phù hợp với môi trường
xung quanh, trong đó có nhiều người khác – những người đã kiến tạo thế giới xã
hội của họ theo những cách cụ thể. Thế giới xã hội cũng bắt đầu trở nên rõ ràng
với bạn. Thực tại xã hội chính là siêu năng lực của con ngườ; chúng ta là loài
động vật duy nhất có thể giao tiếp với nhau với các khái niệm thuần tinh thần.
Không có thực tại xã hội cụ thể nào
là không thể tránh khỏi, chỉ có thực tại xã hội phù hợp theo từng nhóm (và nó bị
giới hạn bởi thực tại vật lý).
Theo một cách nào đó, thực
tại xã hội chính là một cuộc mua bán tinh thần đổi lấy vật chất (Faustian
bargain). Đối với một vài hoạt động cần thiết của con người, như xây dựng các nền
văn mình, thực tại xã hội mang lại những lợi thế khác biệt. Văn hóa hoạt động
trơn tru nhất nếu chúng ta tin vào những sáng tạo tinh thần của chính mình, chẳng
hạn như tiền bạc và luật pháp, mà không ý thức rằng mình đang làm điều đó.
Chúng ta không nghĩ tới việc chính mình (hoặc các neuron của mình) đang nhúng
tay vào những sáng tạo này, do đó, chúng ta xem chúng là thực tại.
Chưa hết, chính siêu năng
lực này đã biến chúng ta thành những nhà xây dựng nền văn minh hiệu quả cũng cản
trở sự hiểu biết của chính chúng ta về cách chúng ta làm điều đó. Chúng ta liên
tục nhầm các khái niệm phụ thuộc vào người nhận thức — hoa, cỏ dại, màu sắc, tiền
bạc, chủng tộc, nét mặt, v.v. — với thực tại không phụ thuộc vào người nhận thức.
Nhiều khái niệm mà mọi người coi là thuần vật chất thực chất chỉ là các niềm
tin về vật chất, chẳng hạn như cảm xúc, và nhiều khái niệm có vẻ mang tính sinh
học thực sự lại mang tính xã hội. Ngay cả một cái gì đó có vẻ rõ ràng là thuộc
về sinh học, chẳng hạn như bị mù, cũng không phải mang tính khách quan trong
sinh học. Một số người không nhìn thấy vẫn không nghĩ mình bị mù, bởi vì họ hoạt
động hoàn toàn ổn trong thế giới.
Khi bạn tạo ra thực tại xã
hội nhưng lại không nhận ra điều đó, kết quả của việc này thật hỗn độn. Ví dụ
như, có rất nhiều nhà tâm lý học không nhận ra rằng mọi khái niệm tâm lý đều là
thực tại xã hội. Chúng ta tranh luận về sự khác biệt giữa “sức mạnh ý chí” và
“sự kiên trì” và “gan góc” như thể chúng có bản chất riêng biệt, chứ không phải
là những kiến tạo giống nhau đến từ chủ ý tập thể. Chúng ta tách biệt "cảm
xúc", "điều chỉnh cảm xúc", "tự điều chỉnh", "trí
nhớ", "trí tưởng tượng", "nhận thức" và các danh mục
tinh thần khác, trong khi tất cả các danh mục này đều đến từ cảm thụ nội tại và
thông tin cảm giác đầu vào từ thế giới, chúng trở nên có ý nghĩa thông qua việc
phân loại, với sự hỗ trợ từ mạng lưới kiểm soát. Những khái niệm này rõ ràng là
thực tại xã hội bởi vì chúng không tồn tại ở tất cả các nền văn hóa, ngược lại,
bộ não là bộ não là bộ não. Vì vậy, với tư cách là một lĩnh vực, tâm lý học cứ
liên tục khám phá lại những hiện tượng giống nhau và đặt cho chúng những cái
tên mới và tìm kiếm chúng ở những vị trí mới trong não. Đó là lý do tại sao
chúng ta có hàng trăm khái niệm cho “cái tôi”. Ngay cả các mạng lưới trong não
cũng có nhiều tên gọi. Mạng lưới chế độ mặc định, một phần của mạng lưới cảm thụ
nội tại, có nhiều bí danh hơn cả Sherlock Holmes.
Khi chúng ta hiểu nhầm
tính chất xã hội thành tính chất vật chất, chúng ta đã hiểu nhầm thế giới và hiểu
nhầm chính mình. Nói như vậy, thì thực tại xã hội chỉ là một siêu cường nếu
chúng ta biết rằng chúng ta có nó.
Từ ba điều không thể tránh
khỏi của tâm trí này, chúng ta đã hiểu rằng quan điểm kiến tạo dạy chúng ta phải
biết cẩn thận hơn. Trải nghiệm của bạn không phải là khung cửa sổ để nhìn vào
thực tại. Thay vào đó, bộ não của bạn được thiết lập để định hình thế giới của
bạn, được dẫn dắt bởi những thứ liên quan đến ngân sách cơ thể bạn, và sau đó,
bạn xem mô hình thế giới này chính là thực tại. Những trải nghiệm trong từng
khoảnh khắc của bạn có thể đem lại cho bạn cảm giác như thể nó là các trạng
thái tâm lý riêng biệt nối đuôi nhau, giống như các hạt trên một sợi dây, nhưng
như bạn đã học trong cuốn sách này, hoạt động của não bộ của bạn diễn ra liên tục
trong các mạng lưới cốt lõi nội tại. Bạn có thể có cảm giác như thể các trải
nghiệm của mình bị kích thích từ thế giới bên ngoài hộp sọ, nhưng thực ra chúng
được tạo ra từ cơn bão dự đoán và chỉnh sửa bên trong bạn. Điều trớ trêu là, mỗi
chúng ta đều có một bộ não tạo ra một tâm trí để hiểu nhầm chính nó.
Trong khi quan điểm kiến tạo
ủng hộ chủ nghĩa hoài nghi, thì thuyết tinh chất lại gắn kết sâu sắc với sự chắc
chắn. Nó cho rằng, “Bộ não của bạn được thể hiện bởi tâm trí của bạn.” Bạn có
các suy nghĩ, do đó trong não của bạn phải có các trung tâm để tạo ra suy nghĩ.
Bạn trải nghiệm các cảm xúc, do đó trong não bạn phải có các trung tâm để tạo
ra cảm xúc. Bạn nhìn thấy bằng chứng trong các suy nghĩ, cảm xúc và nhận thức của
những người khác trong thế giới bên ngoài, do đó, các trung tâm não bộ tương ứng
phải mang tính phổ quát, và mọi người đều có các tinh chất tâm trí giống nhau.
Gene được cho là đã sản sinh ra một bộ não giống nhau ở toàn bộ loài người. Bạn cũng nhìn thấy cảm xúc ở động vật và –
Darwin thậm chí còn nhìn thấy cảm xúc ở loài ruồi – ví thế, những sinh vật này
cũng phải có những trung tâm não phổ quát giống như bạn. Các hoạt động thần
kinh đi từ trung tâm này đến trung tâm khác như các vận động viên chuyền gậy
trong các cuộc chạy thi tiếp sức.
Thuyết tinh chất không chỉ
đưa ra quan điểm về bản chất con người mà còn là thế giới quan. Nó ngụ ý rằng vị
trí của bạn trong xã hội được định hình bởi gen của bạn. Do đó, nếu bạn thông
minh hơn, nhanh hơn hoặc mạnh mẽ hơn những người khác, bạn có thể thành công một
cách chính đáng trong khi người khác thì không. Mọi người sẽ có được thứ xứng
đáng với họ và họ xứng đáng với thứ mà họ có. Quan điểm này là một niềm tin
trong một thế giới công bằng về gene, được chống lưng bởi một hệ tư tưởng nghe
có vẻ mang tính khoa học.
Những thứ mà chúng ta cho
là “chắc chắc” – cảm giác về việc biết điều gì là thật về bản thân mình, về những
người xung quanh và về thế giới xung quanh, là một ảo giác mà bộ não đã tạo ra
để giúp chúng ta sống sót mỗi ngày. Đôi khi, gạt bỏ một chút “chắc chắn” này
cũng là một ý tưởng hay. Ví dụ, chúng ta đều nghĩ về bản thân và người khác với
những tính cách nhất định. Anh này “hào phóng”. Cô này “trung thành”. Còn ông sếp
thì “khốn nạn”. Cảm giác chắc chắn của chính chúng ta khiến chúng ta xem “hào
phóng”, “trung thành” và “khốn nạn” như những tinh chất thực sự tồn tại trong
con người họ, và như thể chúng ta có thể phát hiện ra các tinh chất này và đo
lường chúng. Điều này không chỉ xác định hành vi của chúng ta với họ; mà chúng
ta còn cảm thấy hành vi của mình là hợp lý, ngay cả khi anh chàng “hào phóng”
đang bòn rút bạn, cô gái “trung thành” đang bí mật chăm lo cho bản thân cô ấy,
và ông sếp “khốn nạn” của bạn đang dành tâm trí để lo lắng cho đứa con đang bị ốm
ở nhà. Sự chắc chắn khiến chúng ta bỏ qua những lời giải thích khác. Ý tôi
không phải là chúng ta ngu ngốc hay thiếu trang bị để nắm bắt thực tại. Ý tôi
là chẳng có thứ thực tại nào để nắm bắt cả. Bộ não của bạn có thể tạo ra nhiều
hơn một cách giải thích cho các thông tin cảm giác đầu vào xung quanh bạn,
không phải vô số cách giải thích – nhưng chắc chắn là nhiều hơn một cách giải
thích.
Một liều nghi ngờ lành mạnh
mang lại một thế giới quan khác với loại thế giới công bằng về mặt gene của
quan điểm cổ điển. Vị thế của bạn trong xã hội này không phải là ngẫu nhiên, mà
cũng không phải không thể tránh khỏi được. Hãy xem xét trường hợp của một đứa
bé người Mỹ gốc Phi sinh ra trong một gia đình nghèo khó. Cô bé sẽ ít có khả
năng nhận được đầy đủ dinh dưỡng trong những năm đầu đời để phát triển não bộ -
cụ thể là, dinh dưỡng kém sẽ tạo ra các ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của
vỏ não trước (prefrontal cortex – PFC). Những neuron này rất quan trọng cho việc
học (việc xử lý lỗi dự đoán) và kiểm soát; kích thước và hoạt động của các vùng
trong vỏ não trước lại liên kết tới những kỹ năng cần thiết để học tập ở trường.
Dinh dưỡng kém đồng nghĩa với lớp vỏ não trước mỏng hơn, và điều này khiến cho
năng lực học tập kém hơn, và bằng cấp ít hơn, ví dụ như không tốt nghiệp trung
học, sẽ lại dẫn đến nghèo khó. Trong vòng lẩn quẩn này, định kiến xã hội về chủng
tộc, thứ vốn dĩ chỉ là thực tại xã hội, có thể trở thành thực tại vật lý liên quan đến thiết lập não, từ đó khiến
cho chúng ta cảm thấy như thể nguyên nhân của sự nghèo khó đến từ mỗi gene.
Một số nghiên cứu chỉ ra rằng
những định kiến như vậy chính xác hơn chúng ta tưởng. Ví dụ, Steven Pinker viết
trong The Blank Slate rằng: “những
người tin rằng người Mỹ gốc Phi hưởng trợ cấp xã hội nhiều hơn người da trắng…
họ không hoàn toàn vô lý hay cố chấp. Những niềm tin này là chính xác” khi so
sánh với số liệu điều tra dân số. Ông và những người khác lập luận rằng, nhiều
nhà khoa học cho rằng những định kiến trên là không chính xác bởi vì chúng ta bị
buộc phải tin vào sự đúng đắn chính trị (political
correctness -một thuật ngữ được sử dụng để mô tả ngôn ngữ, chính sách, hoặc các
biện pháp có mục đích là tránh các hành vi gây bất lợi cho các thành viên của một
số nhóm cụ thể trong xã hội.) , chúng ta xem
thường những người bình thường, hoặc chúng ta thiên vị bởi những giả định hỗn độn
của chúng ta về bản chất con người. Nhưng như bạn vừa thấy, còn có một khả năng
khác: số liệu thống kê phúc lợi chính thức này là chính xác bởi vì chúng ta, với
tư cách là một xã hội, đã làm cho những dữ liệu này trở nên chính xác.
Bằng các giá trị và thực tiễn của mình, chúng ta hạn chế các lựa chọn và
thu hẹp khả năng đối với một số người, trong khi mở rộng chúng đối với những
người khác, và sau đó chúng ta nói rằng các định kiến của mình là chính xác.
Chúng chỉ chính xác theo một thực tại xã hội chung, trong đó các khái niệm tập
thể đã được tạo ra ngay từ đầu. Con người không phải là một mớ banh bi-da va
vào nhau rồi chạy vòng quanh. Chúng ta là một mớ các bộ não điều chỉnh ngân
sách cơ thể nhau, xây dựng các khái niệm và thực tại xã hội cùng với nhau, và từ
đó giúp kiến tạo nên tâm trí của nhau và tạo ra kết quả cho nhau.
Một số độc giả có thể cho rằng loại thế giới quan của người theo chủ nghĩa
kiến tạo này là một quan điểm học thuật tháp ngà tự do đầy định kiến từ “Vùng đất
mà mọi thứ đều tương đối”. Trên thực tế, quan điểm này cắt ngang các đường lối
chính trị truyền thống. Ý tưởng rằng bạn được đóng khuôn bởi văn hóa của bạn là
định kiến của phái tự do. Đồng thời, như chúng ta đã bàn tới trong chương 6, bạn
phải chịu trách nhiệm cho những khái niệm mà bạn sở hữu, thứ tác động tới hành
vi của bạn. Trách nhiệm cá nhân là một ý tưởng mang nặng tính bảo thủ. Bạn cũng
phải chịu trách nhiệm phần nào đó cho người khác, không chỉ những người kém may
mắn hơn mà còn cho thế hệ tương lai, vì bạn đã tác động đến thiết lập não của họ.
Việc bạn đối xử với người khác như thế nào là một vấn đề quan trọng. Đây là một
ý tưởng cơ bản trong tôn giáo. Giấc Mơ Mỹ truyền thống cho rằng, “Nếu bạn làm
việc chăm chỉ, thì chuyện gì cũng có thể”. Quan điểm kiến tạo đồng ý rằng bạn
là tác nhân chính trong định mệnh của chính mình, nhưng bạn bị bao vây bởi môi
trường xung quanh bạn. Thiết lập não của bạn, thứ được xác định một phần bởi
văn hóa của bạn, sẽ tác động đến các lựa chọn sau này của bạn.
Tôi không biết bạn thì thế nào, nhưng tôi cảm thấy có chút an ủi khi có hơi
không chắc chắn về thứ gì đó. Thật thoải mái khi đặt câu hỏi về những khái niệm
mà chúng ta đã có sẵn, và thật sảng khoái khi tò mò xem khái niệm nào mang tính
vật lý, và khái niệm nào thuộc về xã hội. Có một loại tự do khi nhận ra rằng
chúng ta đang phân loại để tạo ra ý nghĩa, và do đó, chúng ta có thể thay đổi
các ý nghĩa bằng cách tái phân loại. Sự không chắc chắn có nghĩa là mọi thứ có
thể rất khác với vẻ ngoài của nó. Nhận thức này mang đến hy vọng trong những thời
điểm khó khăn và có thể tạo ra sự trân trọng hiện tại trong những thời khắc tốt
đẹp của cuộc đời.
Giờ là lúc tôi uống thuốc Kool-Aid của chính mình. Dự đoán, cảm thụ nội tại,
phân loại, và các vai trò mà tôi đã dùng để mô tả cho các mạng lưới não bộ khác
nhau không phải là những sự thật khác quan. Chúng là các khái niệm được các nhà
khoa học phá tminh ra để mô tả hoạt động vật lý trong não bộ. Tôi tin rằng những
khái niệm này là phương thức tốt nhất để hiểu một số tính toán do neuron tạo
ra. Tuy nhiên, có nhiều cách khác để đọc hiểu sơ đồ thiết lập của não bộ (một số
trong đó thậm chí còn không được gọi là sơ đồ thiết lập). Lý thuyết kiến tạo cảm
xúc gắn liền mật thiết với bộ não hơn thứ được gọi là tinh chất tâm lý hay cơ
quan trí óc. Trong tương lai, tôi sẽ không ngạc nhiên nếu xuất hiện nhiều khái
niệm hữu ích hơn cho các cấu trúc não bộ. Như Firestein đã nói trong cuốn Ignorance, không có thứ gì “an toàn trước
thế hệ các nhà khoa học tiếp theo với thế hệ các công cụ tiếp theo.”
Vật lý, hóa học và sinh học đã bắt đầu với các lý thuyết trực quan, chủ
nghĩa tinh chất, bắt nguồn từ chủ nghĩa hiện thực ngây thơ và sự chắc chắn.
Chúng ta đã tiến xa hơn những ý tưởng này bởi vì chúng ta nhận thấy rằng những
quan sát cũ chỉ đúng trong những điều kiện nhất định. Vì vậy, chúng ta đã phải
thay thế các khái niệm của mình. Một cuộc cách mạng khoa học hoán đổi một thực
tại xã hội này bằng một thực tại xã hội khác, giống như một cuộc cách mạng chính
trị với một chính phủ mới và một trật tự xã hội mới. Trong khoa học, hết lần
này đến lần khác, những tập hợp khái niệm mới của chúng ta đã đưa chúng ta đi từ
chủ nghĩa tinh chất sang sự đa dạng, và từ chủ nghĩa hiện thực ngây thơ sang
thuyết kiến tạo.
Lý thuyết kiến tạo cảm xúc dự đoán và kết hợp các bằng chứng khoa học mới
nhất về cảm xúc, tâm trí, và bộ não, tuy rằng bộ não vẫn có quá nhiều bí ẩn.
Chúng ta đã phát hiện ra rằng các neuron không chỉ là những tế bào quan trọng
trong bộ não; các tế bào thần kinh đệm, bị bỏ qua từ lâu, hóa ra lại hoạt động
rất nhiều, thậm chí có thể giao tiếp với nhau mà không cần khớp thần kinh. Hệ
thống thần kinh ruột, kiểm soát dạ dày và ruột của bạn, ngày càng quan trọng
hơn để hiểu được tâm trí, nhưng nó cực kỳ khó đo lường và do đó phần lớn chưa
được khám phá. Chúng ta thậm chí còn phát hiện ra rằng vi sinh vật trong dạ dày
của bạn có ảnh hưởng rất lớn đến trạng thái tâm lý mà không ai biết được chúng
làm điều này bằng cách nào hoặc tại sao. Có rất nhiều nghiên cứu đổi mới đang
diễn ra đến nỗi trong vòng mười năm sau, các chuyên gia ngày nay có thể cảm thấy
bản thân họ giống như Plato với cỗ máy quét não.
Khi các công cụ của chúng ta được cải thiện và kiến thức của chúng ta
ngày càng phát triển, tôi tin tưởng rằng chúng ta sẽ khám phá ra rằng bộ não của
chúng ta thậm chí còn kiến tạo nhiều thứ hơn những gì chúng ta đã biết ở hiện tại.
Có lẽ các thành phần cốt lõi như cảm thụ nội tại và các khái niệm một ngày nào
đó sẽ bị xem là mang tính tinh chất quá nhiều, khi mà chúng ta phát hiện ra thứ
gì đó thậm chí còn được kiến tạo tinh vi hơn ở hậu trường. Câu chuyện khoa học
của chúng ta vẫn đang tiếp tục phát triển, nhưng điều đó không có gì đáng ngạc
nhiên. Tiến bộ trong khoa học không phải lúc nào là để đi tìm câu trả lời; mà
nó còn là để đặt ra những câu hỏi hay hơn. Ngày nay, những câu hỏi đó đã buộc mô
hình trong khoa học về cảm xúc phải thay đổi, và rộng hơn là trong khoa học về
tâm trí và não bộ, chúng phải thay đổi.
Trong những năm tới, tôi hy vọng tất cả chúng ta sẽ ngày càng ít thấy những
câu chuyện tin tức về trung tâm não tạo ra cảm xúc ở người hoặc chuột hoặc ruồi
giấm, và chúng ta sẽ thấy nhiều hơn nữa về cách mà não và cơ thể tạo ra cảm
xúc. Trong khi đó, bất cứ khi nào bạn nhìn thấy một câu chuyện tin tức mang đầy
tính tinh chất về cảm xúc, nếu bạn thậm chí cảm thấy nghi ngờ, thì chính bạn
đang tham gia vào cuộc cách mạng khoa học này.
Giống như hầu hết các thay đổi mô hình quan trọng trong khoa học, điều này
có tiềm năng giúp thay đổi sức khỏe, luật pháp và con người của chúng ta. Để tạo
ra một thực tại mới. Nếu từ những trang sách này, bạn đã biết được rằng bạn là
kiến trúc sư tạo ra trải nghiệm của chính mình — và trải nghiệm của những người
xung quanh — thì chúng ta sẽ cùng nhau xây dựng thực tại mới đó.
0 nhận xét:
Đăng nhận xét