Thứ Tư, 27 tháng 7, 2022

How Pleasure Works - chương 2 (1)

 

CHƯƠNG 2

THỨC ĂN

Năm 2003, Armin Meiwes, một chuyên gia máy tính 42 tuổi, lên mạng tuyển chọn một người để hắn giết và ăn thịt. Sau vài cuộc phỏng vấn, hắn đã chọn Bernd Brandes. Hai người đàn ông gặp nhau ở trang trại của Meiwes ở một thị trấn nhỏ ở Đức vào một đêm nọ. Họ nói chuyện với nhau một lúc, và Brandes uống vài viên thuốc ngủ và nửa chai rượu mạnh. Sau đó Meiwes cắt dương vật của Brandes xuống và chiên nó bằng dầu ô liu. Hai người ăn thử, nhưng không thành công. Meiwes đọc tiểu thuyết Star Trek, còn Brandes bị xuất huyết nặng, nằm trong bồn tắm. Vài tiếng sau Meiwes giết Brandes bằng một con dao đâm vào cổ, trước đó còn hôn anh ta.

Sau đó Meiwes chặt Brandes ra và để trong tủ đông, kế bên những miếng pizza. Trong mấy tuần tiếp theo, hắn ta rã đông và nấu từng miếng thịt Brandes bằng dầu ô liu và ướp tỏi, thưởng thức hơn 20kg thịt của Brandes. Hắn ta còn bày ra bộ chén dĩa cao cấp nhất nhất, đốt nến và thưởng thức bữa ăn cùng với rượu vang đỏ Nam Phi.

Xét về nhiều mặt, câu chuyện này vô cùng thú vị. Đầu tiên là, mặt dù các hành động ở đây xảy ra theo cơ chế đồng thuận, nhiều người cho là điều mà Meiwes đã làm là cực kỳ sai trái. Ban đầu anh ta bị kết tội ngộ sát và sau đó, khi cơ quan công tố kháng cáo, anh ta bị kết tội giết người. Ngay cả những người có khuynh hướng tự do –  những người có xu hướng tin tưởng vào quyền tự chủ và tự do của con người và thường đồng ý rằng mọi người nên tự do làm bất cứ điều gì họ muốn miễn là nó không vi phạm ý chí của người khác – cũng cho rằng hành động ăn thịt đồng loại dù có đồng thuận hay không đều là vô đạo đức. Nghiên cứu về điều này có thể cung cấp cho chúng ta một số hiểu biết về lý luận đạo đức và các nguyên tắc đạo đức.

Cũng có một vấn đề y học khác: tại sao Meiwes lại thích ăn thịt người. Trong thời đại hiện nay, đa số mọi người sẽ mong đợi một đáp án rằng: hắn ta bị bệnh tâm lý, cha hắn đã bỏ rơi hắn, hắn rất cô đơn, hắn mơ tưởng về việc có một đứa em trai mà hắn có thể giữ mãi mãi ở bên cạnh mình bằng cách ăn thịt nó. Trong những trường hợp như thế này, người ta thường lý giải rằng kẻ ăn thịt người mong muốn thông qua việc hấp thụ nạn nhân để đạt đến mức độ chung thủy không thể tách rời. Một chuyên gia từng giải thích tương tự cho Jeffrey Dahmer, tên sát nhân ăn thịt người người Mỹ, cho rằng Dahmer ăn thịt người tình của mình vì hắn muốn họ không bao giờ rời xa mình.

(Còn Brandes thì sao? Tôi có thể hiểu được mong muốn được chết của anh ta, nhưng ai lại muốn bị giết bởi một người hoàn toàn xa lạ mà người đó còn muốn ăn luôn cái xác của mình nữa? Nhưng Brandes không phải là người duy nhất có mong muốn này – gần 200 người đã phản hồi quảng cáo của Meiwes trên mạng. Đây cũng là cách mà cảnh sát tìm bắt được hắn; một sinh viên lướt web đã nhìn thấy quảng cáo này và báo với chính quyền.)

Nhưng mà, câu chuyện này thì liên quan gì tới niềm khoái cảm mà thức ăn mang lại trong cuộc sống hàng ngày? Những cộng đồng xã hội trong đó người ăn thịt người rất hiếm, cực kỳ hiếm đến nỗi người ta nghi ngờ rằng liệu chúng có đã từng thực sự tồn tại hay không. Những tên sát nhân ăn thịt người thường xuất hiện trong các phim kinh dị nhiều hơn trong thực tế. Khi người ta phỏng vấn Dahmer trong tù, hắn đã buồn bã hỏi các bác sĩ rằng, trên đời này liệu có ai giống hắn không.

Có hai lý do để chúng ta bắt đầu việc nghiên cứu về khoái cảm ẩm thực bằng cách nghiên cứu việc ăn thịt người. Đầu tiên, nó giúp lý giải tại sao một số thứ có thể dùng để ăn, và một số thứ khác thì không. Nghiên cứu lý do tại sao chúng ta cho rằng con người không dùng để ăn có thể sẽ cung cấp cho chúng ta thông tin hữu ích về việc “thích” hay “không thích” thứ gì đó. Thứ hai, nghiên cứu tâm lý của những tên ăn thịt người sẽ phản ánh góc độ cực đoan về việc một người bình thường nghĩ gì về thực phẩm mà họ thường ăn. Nó thể hiện niềm tin của những người theo thuyết bản chất ở dạng sắc nét nhất.

Meiwes tin rằng việc ăn Brandes không dừng lại ở việc hấp thu protein và chất béo; mà hắn còn đang hấp thu bản chất của Brandes nữa. Hắn nhấn mạnh rằng ăn thịt một người mang lại nhiều lợi ích về tâm lý. Hắn cảm thấy ổn định hơn và có được nhiều phẩm chất của Brandes: “Ăn thêm một miếng thì tôi lại cảm thấy ký ức về anh ấy mạnh mẽ hơn một chút.” Brandes thông thạo tiếng Anh và Meiwes cho rằng từ khi ăn thịt anh ta, tiếng Anh của hắn cải thiện hơn nhiều. Một nhóm nhạc metal của Đức đã lấy cảm hứng từ sự kiện này để tạo ra một bài hát với ý tưởng hấp thu bản chất của một người. Đoạn điệp khúc bắt đầu với câu, “Denn du bist wa du isst”, nghĩa là, “Bạn chính là thứ mà bạn ăn vào.”

KÉN CHỌN

Khi tôi bắt đầu nghiên cứu niềm khoái cảm đến từ ẩm thực, tôi đã cho rằng lý do mà chúng ta thích món này hay món khác là do thể chất và sinh học tiến hóa. Chúng ta sẽ lý giải thứ mà loài người ăn bằng việc nghiên cứu khẩu vị, bằng cách giải phẫu các giác quan. Chúng ta có thể đoán được chúng ta thích ăn cái gì dựa vào nhu cầu cơ thể và môi trường tiến hóa của chúng ta. Sở thích nghệ thuật hay âm nhạc có thể là kết quả của văn hóa, tính cách, trải nghiệm, và hên xui, nhưng chắc chắn sở thích ẩm thực là vấn đề của sinh học, được hình thành bởi lịch sử giống loài.

Điều này không hoàn toàn sai. Có rất nhiều bằng chứng sống cho chuyện này. Con người bẩm sinh thích món ngọt, vì đường cung cấp nhiều calories, và chúng ta không thích những thứ có vị đắng, vì vị đắng là dấu hiệu của độc tố. Một vài món ăn như tiêu ớt, tạo ra cảm giác bỏng rát khó chịu, trong vài nền văn hóa người mẹ xát ớt lên ngực để tập cho con mình cai sữa, và đổ sốt Tabasco vào miệng đứa trẻ thì thật là ác độc.

Nhưng điều đó chỉ đúng với xã hội loài người. Như nhà tâm lý học Paul Rozin đã chỉ ra, chúng ta là động vật ăn tạp - chúng ta chỉ ăn bất cứ thứ gì có thể tiêu hóa được. So với các loài động vật khác, chế độ ăn uống của con người có ít hạn chế về mặt sinh học.

Còn sự khác biệt của con người thì sao? Chúng ta có thể dùng di truyền để giải thích một ít. Hầu hết mọi người trên thế giới không dung nạp lactose; và chỉ một số ít người uống được sữa. Một khám phá thú vị là có nhiều hơn một loại lưỡi — khoảng 1/4 trong số chúng ta có mật độ thụ thể cao, như Linda Bartoshuk từng nói, là người siêu lưỡi. Bạn có thể biết mình có phải là người siêu lưỡi hay không bằng cách bôi màu thực phẩm xanh lên lưỡi, sau đó nhờ một người bạn đếm nụ vị giác vẫn còn màu hồng của bạn. Các nhú dạng nấm của bạn, nơi chứa nụ vị giác, không hấp thụ màu. Đơn giản hơn, bạn có thể đặt một ít giấy có 6-n-propylthiouracil (PROP) trên đó (có thể mua được trên mạng) và dán vào miệng. Nếu nó có vị như giấy, bạn cũng giống như hầu hết mọi người; nếu nó khó chịu và cay đắng, xin chúc mừng, bạn là một người siêu lưỡi!

Người siêu lưỡi thường không thích rượu whiskey và cà phê đen, cải Brussels và bắp cải. Họ đặc biệt nhạy cảm với vị chua của bưởi hay vị cay nóng của bột ớt. Nhưng vì trạng thái của các siêu lưỡi liên quan đến sở thích ăn uống, nên không thể dự đoán chính xác. Như vợ tôi – một người siêu lưỡi, có thể đoán được rằng cô ấy không thích bia và các đồ uống giảm cân, nhưng cô ấy thích các loại rau củ có vị đắng như bông cải xanh. Việc hiểu được sở thích vị giác từ các yếu tố liên quan đến thể chất khó khăn một cách đáng ngạc nhiên.

Một vài năm trước, đã có cuộc thảo luận về sinh lý lưỡi giữa các chuyên gia rượu vang, bắt đầu bởi một hội nghị chuyên đề ở Napa, California, tại đó những người tham dự được làm bài kiểm tra PROP. Có thể đoán được rằng, những người nếm rượu vượt qua bài test đó khoe khoang về trạng thái siêu thưởng thức của họ. Tuy nhiên, điều làm phức tạp thêm vấn đề là không có bằng chứng nào cho thấy những người siêu lưỡi, mặc dù có chữ “siêu” trong tên gọi, lại giỏi phân biệt các mùi vị khác nhau hơn so với những người còn lại trong chúng ta. Trên thực tế, họ có xu hướng ít thưởng thức rượu vang hơn, vì họ không thích chất làm se và chua.

Không ai có thể giải thích về sự khác nhau trong sở thích ăn uống. Những người anh chị em lớn lên trong cùng một ngôi nhà, có bộ gien giống nhau hơn phân nửa, vẫn có sở thích khác nhau. Tôi ghét phô mai, em gái tôi lại thích nó, và tôi không biết lý do là gì.

Tuy nhiên, có một số yếu tố có thể tạo nên sự khác biệt. Nếu bạn muốn biết ai đó thích ăn cái gì, câu hỏi tốt nhất là: bạn từ đâu đến? Văn hóa sẽ giải thích cho việc tại sao một số người thích ăn kim chi, một số khác thích tortillas, hay là Pop-Tarts. Với câu hỏi này chúng ta có thể lý giải tại sao người Âu Mỹ không ăn những con bọ, chuột, ngựa, chó hay mèo, trong khi những người đến từ những nơi khác thích ăn những món đó. Quê quán của họ - hay họ lớn lên trong hoàn cảnh như thế nào là cách giải thích tốt nhất cho trường hợp này.

Giờ đây, chúng ta có thể chuyển vấn đề cho một nhà xã hội học hoặc nhà nhân chủng học, để trả lời cho những nguyên nhân tạo nên khẩu vị khác nhau trong các xã hội khác nhau. Nhà nhân chủng học Marvin Harris đã tiếp cận vấn đề theo hướng này dựa trên thuyết kiếm ăn tối ưu. Theo Harris, có một lô gic cho những lựa chọn này. Một vài loại thức ăn không xứng với những rắc rối phải xử lý khi ăn nó. Người Mỹ không ăn chó vì đối với họ loài chó nuôi sống thì có giá trị hơn – chúng đồng hành và bảo vệ loài người. Bọ không hề dễ thương chút nào, nhưng thu thập chúng quá mất thời gian, chẳng bõ công. (Mấy con lớn hơn hay tụ tập nguyên bầy hoặc đáng bị giết do chúng phá hoại mùa màng, là ngoại lệ; vì thế, côn trùng như con cào cào thì ăn được – John the Baptist đã được mô tả là sống sót trong tự nhiên chỉ nhờ vào việc ăn cào cào và mật ong). Tương tự, ở những nơi mà người ta không ăn bò, là vì bò sống thì có giá trị nhiều hơn giết lấy thịt.

Mặc dù các chi tiết cụ thể của những ý tưởng này còn gây tranh cãi, Harris có thể đã đúng rằng những hạn chế đó không phải là ngẫu nhiên. Nhưng theo góc nhìn của một nhà tâm lý học, vấn đề là không có sự liên kết rõ rệt nào giữa các lý giải theo văn hóa và những lý giải theo tâm lý học. Lý luận của Harris không giải thích được sở thích ẩm thực của từng cá nhân. Tôi lớn lên ở Canada, và tin rằng Harris có thể giải đáp một cách duyên dáng lý do tại sao người Canada không ăn chuột, nhưng điều này không giải thích được lý do tại sao bản thân tôi lại không ăn chúng. Các suy xét lý trí có thể định hình những lựa chọn văn hóa; nhưng chúng không định hình khẩu vị. Có thể tôi bị thuyết phục rằng thịt chuột giàu dinh dưỡng, bổ dưỡng, và (với những người không kén ăn) ngon, nhưng, nhìn thấy một dĩa thịt chuột chiên trước mặt mình thì tôi vẫn sẽ muốn nôn. Ngược lại, tôi có thể hoàn toàn bị thuyết phục rằng ăn thịt bò là trái với đạo đức và nhiều lý do thực tế khác. Nhưng vẫn cảm thấy thịt bò ngon lành.

Đây là điển hình khi nghiên cứu văn hóa – lời giải đáp ở mức độ văn hóa thường không liên quan đến việc giải thích ở mức độ cá nhân. Có nhiều lý giải lịch sử lý do người ở Damascus nói tiếng Ả Rập và người ở New Haven nói tiếng Anh, hoặc tại sao cư dân Damascus thường là người Hồi giáo Sunnie còn cư dân ở New Haven thường là người Thiên Chúa giáo. Đây không phải là chuyện ngẫu nhiên; chúng có thể được giải đáp bằng sự kiện lịch sử. Nhưng những đứa trẻ lớn lên trong những nền văn hóa này không biết đến những sự kiện lịch sử khi nói thứ tiếng chúng đang nói và tôn thờ đấng thần linh mà chúng đang thờ.

Vậy thì, cái gì dẫn đến sở thích cá nhân? Trải nghiệm cá nhân là một lời giải đáp khá hứa hẹn. Loại người và những loài vật khác có một hệ thần kinh giúp chúng ta tránh xa những loại thức ăn không tốt cho chúng ta. Nếu bạn ăn một thức ăn mới và chúng làm bạn thấy bệnh hoặc buồn nôn, bạn sẽ tránh loại thức ăn đó, nội ý nghĩ phải ăn nó cũng làm bạn ớn lạnh rồi. Khi tôi nói về thức ăn trong lớp học Giới thiệu về Tâm lý học, tôi đã hỏi về loại thức ăn mà bạn ghét, và luôn có nhiều câu trả lời rằng họ không ăn được thứ gì đó là bởi vì lần đầu tiên thử nó thì nó khiến họ bệnh. Một sinh viên nói rằng ăn sushi xong cô ấy bị cảm cúm nên cô ấy không ăn được món này nữa. Với tôi thì là món bia pha ouzo – một loại rượu Hy Lạp, tôi uống nó khi còn là một học sinh trung học và bị ốm nặng. Trong nhiều năm sau đó, tôi phát ốm vì mùi cam thảo.

Một cách nghiên cứu khác là dựa trên quan sát người khác. Có thể, giống như các con non, chúng ta phát hiện ra loại thức ăn nào an toàn – và dựa vào đó khi ăn vào sẽ khiến chúng ta thỏa mãn, bằng cách quan sát thứ mà cha mẹ cho chúng ta ăn và thứ mà họ ăn. Cha mẹ sống cùng môi trường với con cái, và yêu thương cũng như quan tâm đến lợi ích của chúng, vì thế học hỏi theo họ là chuyện tuyệt đối đáng tin cậy.

Tuy nhiên, kỳ lạ thay, đối với con người, điều đó không đơn giản như vậy. Thực ra thì có rất ít mối tương quan giữa sở thích của cha mẹ và sở thích của con cái. Mối tương quan giữa anh chị em, hay những cặp đôi đã kết hôn được chứng minh là còn mạnh mẽ hơn. Kết quả nghiên cứu này đặc biệt đánh đố, vì rõ ràng bạn đâu có chung nguồn gen với bạn đời của bạn.

Người ta có thể lý giải việc này bằng lý luận rằng thức ăn cũng là một phần của văn hóa. Nó không chỉ là việc xác định những gì là bổ dưỡng và không gây chết người. Nó là một phần của việc được xã hội hóa thành một nhóm người. Như nhà tâm lý học Judith Harris và nhiều người khác đã nhấn mạnh, học tập xã hội (social learning) là học tập những người đồng trang lứa với mình. Bạn không ăn uống như cha mẹ mình, tương tự với việc bạn không ăn mặc như họ, hay chửi thề như họ, hay nghe nhạc như họ. Điều này lý giải cho sự thiếu liên kết giữa cha mẹ và con cái, và nó cũng lý giải cho mối liên hệ chặt chẽ giữa anh chị em, giữa vợ và chồng.

Khi còn nhỏ, trẻ con không có lựa chọn nào khác ngoài việc ở với cha mẹ mình. Nhưng trẻ con đủ thông minh gắn kết yếu tố xã hội vào các lựa chọn của mình. Trong một nghiên cứu thú vị, một đứa trẻ mười hai tháng tuổi người Mỹ nhìn hai người lớn mà nó không quen biết ăn thức ăn lạ. Hai người lạ này nói chuyện với đứa bé, một người nói tiếng Anh, người còn lại nói tiếng Pháp. Sau đó đứa bé được yêu cầu chọn giữa hai loại thức ăn, những đứa bé người Mỹ có xu hướng chọn thức ăn mà người nói tiếng Anh đã ăn, điều này phản ánh xu hướng học hỏi từ người giống với mình hơn.

>>>> (2)

0 nhận xét:

Đăng nhận xét